Mục lục
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.
2.
3.
4.
5.
Tính cấp thiết của vấn đề
Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phần 2. NỘI DUNG
I.
II.
III.
IV.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY
NGUYÊN NHÂN TÌNH TRẠNG THIẾU VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
GIẢI PHÁP
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
chuyển đổi này diễn ra một cách chậm chạp. Vì vậy thực trạng sử dụng lao động và
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn cần được quan tâm, nghiên cứu để tìm
ra các biện pháp hữu hiệu nhằm sử dụng nguồn lao động nước ta nói chung và
nguồn lao động nông thôn nói riêng sao cho hiệu quả nhất, đồng thời đề ra các biện
pháp cụ thể mang tính chiến lược lâu dài để phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH nông
nghiệp - nông thôn.
2.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn VIệt Nam và đề xuất biện pháp nhằm sử dụng nguồn lao động một
cách hiệu quả.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động và việc làm tại
nông thôn.
Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động và giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn ở nước ta và đề xuất biện pháp nhằm sử dụng nguồn lao động ở nông
thôn một cách hiệu quả.
3. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng lao động nông thôn
nước ta.
Nghiên cứu sự phát triển các ngành nghề kinh tê ở nông thôn và nguồn lao
động nông thôn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện bằng phương pháp thu thập số liệu, phân tích, đánh giá,..
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
3
•
Đặc điểm của lao động nông thôn
Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm đến 90 % lao động nông thôn do đó mà
đặc điểm của nguồn lao động nông thôn cũng tương đồng với đặc điểm của lao động
trong sản xuất nông nghiệp.
Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính chất này.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh
học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (Khí hạu, đất đai…). Do đó, quá trình sản xuất
mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm
cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trử nên phức tạp hơn.
Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích
ứng lớn. Do đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao động có ý nghĩa rất
quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để
tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. Sản xuất
nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nũa
5
mức động áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất cong thấp vì thế mà sản xuất
nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏel, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động
có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu
hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó,
phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ
yếu phụ thuộc vào kinh nghiệp và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao
động cũng thô sơ mang tính tự chế cao. Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động
chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất
lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất.
Các thành viên trong hộ có thể trao đổi công việc và giúp đỡ nhau. Vì vậy cần chú
trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động của kinh tế hộ nhằm tạo ra nhiều việc làm.
Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng chọt, chăn nuôi với các
cây trồng vật nuôi khác nhau sẽ khác nhau, kéo theo đó là mức thu nhập cũng có
sự khác biệt rõ rệt. Vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng
thu hút nhiều lao động cũng là biện pháp tạo thêm việc làm ngay bên trong sản
xuất nông nghiệp.
Về tiểu thủ công nghiệp – một hoạt động phi nông nghiệp với một số nghề
thủ công mỹ nghệ được lưu truyền qua nhiều thế hệ trong từng hộ, dòng họ, làng,
xã dần dần hình thành những làng nghề truyền thống. Hoạt động sản xuất này tạo
ra những sản phẩm hàng hóa tiêu dùng độc đáo vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị
văn hóa nghệ thuật đặc trưng cho từng cộng đồng, vùng miền trên đất nước nên
ngày càng được ưa chuộng không chỉ ở trong nước mà còn được ưa chuộng ở
nhiều nước trong khu vực và trên Thế Giới.
Bên cạnh đó, việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như:
Đất đai, cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, giống, phân bón,…), trình độ lao
động,... Hoạt động dịch vụ nông thôn bao gồm các hoạt động đầu vào cho hoạt
động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm phục vụ
cho đời sống người dân. Đây chính là khu vực thu hút đáng kể lao động nông thôn
và tạo ra thu nhập cao cho lao động.
Ngoài ra ở nông thôn, có một lớn công việc không định trước được thời gian
như: Trông nhà, trông con, cháu, nội trợ, làm vườn… có tác dụng hỗ trợ tích cực
trong việc tăng thêm thu nhập cho gia đình. Thực chất đây cũng là việc làm có khả
năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động.
7
2.
Phân loại việc làm ở nông thôn
cuộc sống còn khó khăn, người dân ít quan tâm nên khó phát triển.
8
2.
Thực trạng sử dụng lao động nông thôn
Trong quá trình cải cách toàn diện nền kinh tế nói chung, kinh tế nông thôn nói
riêng thì vấn đề lao động – việc làm đã và đang là vấn đề nóng bỏng nhất. Trong
những năm qua, Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm thúc
đẩy quá trình phân công và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động nông thôn,
nhưng kết quả đạt được thì không nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Khu vực nông thôn là khu vực tập trung hầu hết dân cư cả nước; chiếm 80%
dân số và 76.88% lực lượng lao động xã hội. Hàng năm, khu vực này được bổ sung
thêm khoảng 67 vạn lao động. Đây là lực lượng lao động rất dồi dào phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Ta có thể thấy rõ điều này qua biểu đồ dưới
đây:
9
Tuy nhiên, lực lượng lao động ở khu vực nông thôn phân bố rất không đều ở
các ngành, các vùng. Sự dịch chuyển chậm chạp trong phân bố lực lượng lao động
nông thôn không chỉ thể hiện ở từng ngành kinh tế mà còn rất đậm nét ở hầu khắp
các vùng trên phạm vi cả nước, tập trung nhất ở 2 vùng ĐB sông Hồng và ĐB sông
Cửu Long.
Bảng 1:
Chia theo nhóm ngành kinh tế
Các vùng
6,85
4196105
15,17
Miền núi
và tây
nguyên
5500581
5087070
92,48
113630
2,07
299881
5,45
ĐB sông
Hồng
5723913
Nguyên
1104727
948637
87,33
25630
3,94
94760
8,73
Mặc dù tỷ lệ có việc làm ở nông thôn lớn, nhưng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc
làm ngày càng gia tăng. Lao động thiếu việc làm ở nông thôn nước ta cũng rất phổ
10
biến ở tất cả các vùng, miền trong cả nước. Điều này được thể hiện rõ qua biểu đồ
sau:
Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn dẫn tới dòng di dân tự
do ngày càng gia tăng. Họ di cư tới các thành phố lớn, vùng biên giới và các vùng
đất có tiềm năng canh tác nhưng kinh tế chậm phát triển như: Tây Nguyên, miền
Tây Nam Bộ… làm nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc nơi dân nhập cư tới đó
là: Mật độ dân số gia tăng đột biến (cơ học) chẳng hạn từ 1976-1996, Đắc Lắc phải
nhất là cho các lĩnh vực công nghiệp, chế biến xuất khẩu và các xí nghiệp công
nghệ cao.
Một lực lượng lao động đáng kể ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ đang phải
làm việc rất vất vả và có nguy cơ thất nghiệp cao.
III.
1.
NGUYÊN NHÂN TÌNH TRẠNG THIẾU VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
Nguyên nhân khách quan
12
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chậm chạp dẫn tới chưa giải
quyết được một cách cơ bản và đồng bộ tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở
nông thôn. Lực lượng lao động nông thôn vốn đã dư thừa, nay do tác động của cơ
chế thị trường càng trở nên trầm trọng. Từ năm 1990-1997, tỷ trọng lao động nông
nghiệp giảm 3,5%, bình quân mỗi năm giảm được 0,5%. Số hộ hoạt động trong
ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn.
Bảng 2:
Cả nước
Miền núi
trung du
Đồng bằng
trung du
ĐB sông
nghiệp
19,4
8,8
7,8
24,4
22,1
Quá trình đô thị hoá nhanh chóng, những vùng ven đô phát triển rầm rộ các
khu công nghiêp, khu chế xuất đã chiếm mất một phần đất nông nghiệp làm cho
diện tích đất canh tác bị thu hẹp, nông dân mất đất trở nên thất nghiệp hoặc thiếu
việc làm.
Mặt khác, do cơ cấu lại nông nghiêp và kinh tế nông thôn chưa nhận được
sự hỗ trợ đúng mức về vốn, tín dụng, thuế, thị trường…; thị trường nông thôn còn
mang tính tự phát, kém năng động và không theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế
và phân công lại lao động.Vì vậy, làm cho sự phục hồi các làng nghề truyền thống,
hình thành và phát triển nghề mới để công nghiệp hoá nông thôn, mà đặc biệt là
13
công nghiệp chế biến chậm và hạn chế phát triển dẫn đến việc không thể có tác
động mạnh để thu hút một bộ phận đáng kể lao động dư thừa ở nông thôn.
2.
Nguyên nhân chủ quan
Do lao động nông thôn vẫn chưa thích nghi với quan hệ cung cầu của cơ chế
trở
lên
Không
xác
định
Cả
nước
100,0
84,7
3,7
3,7
1,7
6,1
0,12
Nam
100,0
83,0
68,8
6,5
6,0
2,9
15,8
0,08
Nam
100,0
66,4
9,3
5,0
2,1
17,2
0,06
Nữ
14
thôn
Nam
100,0
89,6
4,2
2,7
0,8
2,6
0,14
Nữ
100,0
92,3
1,0
2,8
thuật vào nông nghiệp, nông dân. Thực hiện các biện pháp khuyến công, khuyến
lâm, khuyến ngư, khuyến nông.
15
Thực hiện giải pháp kích cầu bằng các chính sách khoán sức dân ở nông
thôn, trong đó bỏ thuế sử dụng đất nông nghiệp là việc nên làm. Mở rộng diện
miễn giảm thuế cho các cơ sở sản xuất công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản và
thuỷ sản. Thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này để tạo cầu cho lao động nông nghiệp.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn
nông dân và gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến theo hướng tích cực hơn và
hiệu quả hơn. Nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp kiểu mới, nhất là mô hình
kinh tế trang trại, tổ hợp tác tự nguyện của các hộ, tổ hợp công nghiệp chế biến
nông sản, liên doanh với nước ngoài về chế biến nông sản.
Phát triển nông nghiệp theo hướng đa canh và chuyên canh, chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vật nuôi và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp. Hiện nay, ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn mang nặng tính độc canh
cây lương thực mà chưa thật sự chú trọng vào phát triển các loại cây con khác có
giá trị kinh tế cao. Vì vậy, cần quy hoạch cụ thể từng vùng trọng điểm, hướng dẫn
nông dân cải tạo vườn, và thuyết phục họ trồng các vùng cây mới như: cây ăn trái,
hoa – cây cảnh… theo hướng sản xuất hàng hoá. Đồng thời nghiên cứu cải tiến
giống mới một cách hoàn thiện trên cơ sở xem xét những lợi thế tiềm năng cho
phép ở từng vùng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng kinh doanh tổng
hợp, mở rộng thị trường hàng hoá nông sản cả trong và ngoài nước.
Phát triển công nghiệp nông thôn, hướng ngành này vào phục vụ sản xuất
nông nghiệp là chính như: Sản xuất máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp, phát
triển công nghiệp, chế biến sản phẩm sau thu hoạch. Đẩy mạnh phát triển các
ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng về đất
đai, lao động, vùng nguyên liệu… như: công nghiệp mía đường, công nghiệp xi
măng, công nghiệp hàng tiêu dùng,…Nên chăng hình thành những xí nghiệp công
Tạo thêm nhiều việc làm cho khu vực nông thôn.
- Thay đổi chuyển dịch cơ cấu cây trồng
- Thực hiện thâm canh, chuyên môn hoá nông sản hàng hoá mũi nhọn
•
Phát triển ngành nghề
- Việc phát triển ngành nghề nông thôn phải gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Đây là hai ngành kinh tế mà trong quá trình phát triển có mối quan hệ chặt chẽ về
nguyên liệu, lao động, thị trường, môi trường. Phát triển ngành nghề nông thôn
17
phải chú ý tới các nghề mới và hết sức chú trọng khôi phục, tái tạo, phát triển
ngành nghề truyền thống.
- Phát triển ngành nghề truyền thống phải gắn chặt trong mối quan hệ chặt chẽ với
công nghiệp thành thị, với thị trường trong và ngoài nước. Kết hợp hài hoà nhiều
loại hình tổ chức và sở hữu, lựa chọn công nghệ, kết hợp công nghệ hiện đại với
công nghệ truyền thống, thiết bị tiên tiến thủ công, cơ khí nhỏ trong nhiều loại hình
doanh nghiệp.
- Giải quyết được đầu ra cho các ngành sản xuất trồng trọt là những ngành mà việc
tiêu thụ sản phẩm được coi là ách tắc nhất hiện nay.
- Tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nông thôn và từ đó tăng thu nhập cho lao
động.
- Khôi phục và phát triển những ngành nghề truyền thống, đặc biệt là những ngành
nghề tạo ra sản phẩm hiện đang có nhu cầu lớn trên thị trường trong và ngoài nước.
- Thời gian sản xuất không phụ thuộc vào mùa vụ, có thể sản xuất quanh năm, làm
lao động nông thôn. Ưu tiên các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, công
nghiệo nông thôn, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ công nhân lành nghề, cơ
giới hoá và HĐH nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội.
Nhà nước có chính sách miễn thuế, giảm giá thuế đất, các loại thuế, phí và
đơn giản hoá các thủ tục trong các khâu thẩm định, xét duyệt và triển khai các dự
án đầu tư đó nhằm khuyến khích bằng lợi ích vật chất các chủ đầu tư.
Đối với phương pháp CNH –HĐH nông nghiệp nông thôn cần xây dựng mới
các trung tâm công nghiệp chế biến và dịch vụ thương mại trên địa bàn nông thôn
với quy mô vừa và nhỏ nhưng công nghệ cao để một mặt thu hút lao động nông
nghiệp qua đó bồi dưỡng và nâng cao tay nghề của nông dân.
Cuối cùng là tổ chức, chỉ đạo thực hiện. Ưu tiên tối đa cho những dự án có
nhiều khả năng thu hút nhiều lao động nông nghiệp vào làm việc và đào tạo được
nhiều công nhân kỹ thuật tại địa bàn nông thôn.
19
20
Phần 3. KẾT LUẬN
Lao động một tế bào quan trọng của xã hội, lao động dư thừa và thiếu việc
làm diễn ra khá phổ biến không chỉ ở các vùng nông thôn mà còn diễn ra tại các
vùng kinh tế trong cả nước và đối với tất cả các nước trên Thế Giới cũng vậy. Đây
là vấn đề nan giải không chỉ đối với Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên Thế
giới. Thực trạng này chính là nguyên nhân dẫn đến xuất hiện ngày càng nhiều tệ
nạn xã hội.
Tuy nhiên hầu hết lực lượng lao động lại tập trung ở vùng nông thôn, nơi ít
được tiếp cận với những tiến bố khoa học kỹ thuật mới. Vì vậy, việc nghiên cứu để
giải quyết việc làm ở nông thôn hiện nay đối với Đảng và nhà nước ta là vấn đề