i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
4.1. Ý nghĩa lý luận 4
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1. Cơ sở khoa học về công nghiệp hóa và đô thị hóa 5
1.1.1. Khái niệm công nghiệp hóa 5
1.1.2. Đô thị hóa 5
1.1.2.1. Khái niệm đô thị hóa: Có rất nhiều khái niệm khác nhau về
đô thị hoá 5
1.1.2.2. Xu hướng phát triển của quá trình đô thị hoá 6
1.1.2.3. Đô thị hóa tác động đến việc làm 7
1.1.3. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khu công
nghiệp và đô thị hóa 8
1.1.3.1. Những thành tựu chủ yếu phát triển khu công nghiệp 8
1.1.3.2. Hạn chế, tồn tại phát triển khu công nghiệp 9
1.1.3.3. Đô thị hóa và vấn đề đô thị hóa ở Việt Nam 14
iii
2.1.1.1. Vị trí địa lý 46
2.1.1.2. Thời tiết khí hậu 46
2.1.1.3. Địa hình thổ nhưỡng 47
2.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội 47
2.1.2.1. Đất đai 47
2.1.2.2. Dân số lao động 47
2.1.2.3. Kết quả phát triển kinh tế 48
2.1.2.4. Tình hình thu hồi đất 48
2.1.3. Quá trình phát triển công nghiệp, các khu và cụm công
nghiệp của huyện trong thời gian qua 49
2.2. Thực trạng thu hồi đất và tác động của nó tới lao động, việc làm
và chuyển dịch cơ cấu lao động ở huyện 49
2.2.1. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp của huyện 49
2.2.2. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp của các xã điều tra 52
2.3. Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động trong
các vùng bị thu hồi đất ở huyện 53
2.3.1. Các chính sách của tỉnh Bắc Ninh đối với lao động vùng thu
hồi đất 53
2.3.2. Thực trạng công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho
người lao động trong vùng thu hồi đất của huyện 57
2.3.2.1. Thực trạng công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho
lao động trong huyện 57
2.3.2.2. Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao
động ở 12/21 xã, thị trấn trong huyện 62
2.3.2.3. Tình hình việc làm của lao động bị thu hồi đất 64
2.3.2.4. Thực trạng công tác đào tạo nghề cho người lao động
trong vùng thu hồi đất 66
v
3.2.1. Về phía Nhà nước 91
3.2.1.1. Hoàn thiện việc quy hoạch đất đai và quản lý tốt kinh phí
trong đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng 91
3.2.2.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 92
3.2.2.3. Tổ chức đào tạo nghề cho nông dân 95
3.2.2.4. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ để khuyến khích người
lao động tìm kiếm việc làm và phát triển sản xuất 97
3.2.2.5. Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tăng cơ hội việc
làm ngoài nước cho người lao động 99
3.2.2.6. Phát triển thông tin thị trường lao động, tổ chức hiệu quả
sàn giao dịch việc làm vệ tinh 100
3.2.2.7. Thành lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, dạy nghề
cho người lao động 101
3.2.2. Về phía doanh nghiệp 102
3.2.3. Về phía hộ nông dân 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
1. Kết luận 104
2. Kiến nghị 106 vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp số xã và cơ sở đào tạo nghề điều tra 43
Bảng 2.1. Phân tổ các xã, thị trấn theo tỷ lệ đất NN chuyển đổi sang đất
phi NN giai đoạn 2006-2010 50
Bảng 2.2. Số hộ có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi của các xã 51
Bảng 2.3. Thực trạng đất đai chuyển đổi của các xã điều tra 52
Biểu đồ 2.1. Kết quả điều tra ý kiến người dân về chính sách đền bù 55
viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Kết quả điều tra ý kiến người dân về chính sách đền bù 55
Biểu đồ 2.2. Kết quả điều tra ý kiến người dân về chính sách hỗ trợ sản xuất 56
Biểu đồ 2.3. Kết quả điều tra ý kiến người dân về chính sách hỗ trợ việc làm 57
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa
(HĐH) đất nước, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Vì vậy, việc
phát triển các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), các khu chế
xuất và đô thị (ĐT) là tất yếu. Tuy nhiên, điều đó dẫn đến sự thay đổi nhiều
mặt trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn.
Sự phát triển các KCN, khu chế xuất, CCN, ĐT dẫn đến sự thay đổi về
đất đai, lao động, việc làm, thu nhập và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn. Xét về lâu dài, sự thay đổi này mang tính chất tích cực, tạo điều kiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thương mại - dịch vụ,
giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội, góp phần đẩy
nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập
cho người lao động. Quá trình CNH, HĐH sẽ góp phần hiện đại hoá các quá
trình sản xuất trong nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, qua đó
làm giảm nhẹ sức lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhưng, sự phát triển
các KCN, CCN, khu chế xuất và ĐT cũng tạo ra rất nhiều khó khăn cho
nông dân các vùng có đất thu hồi. Đó là sự mất dần diện tích đất nông
sang phát triển các KCN, CCN và ĐT.
Việc nghiên cứu nhằm đề xuất “Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn vùng thu hồi đất huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh” do đó, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động ở
vùng thu hồi đất, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong huyện theo
hướng CNH, HĐH cho giai đoạn 2011-2015. 3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản liên quan đến lao động, việc làm
trong quá trình CNH, đô thị hóa (ĐTH) ở vùng thu hồi đất.
- Đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm vùng thu hồi đất trên
địa bàn huyện.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm làm tốt công tác giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn vùng thu hồi đất trên địa bàn huyện cho giai đoạn
2011-2015.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ nông dân bị thu hồi đất
thuộc 05 xã trên địa bàn của huyện bao gồm: Phương Liễu, Phượng Mao,
Châu Phong, Nhân Hòa, Ngọc Xá.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về KCN,
CCN và ĐT, công tác giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng có
đất nông nghiệp có chuyển đổi mục đích sử dụng sang phát triển các KCN,
- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn vùng thu hồi đất huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh. 5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học về công nghiệp hóa và đô thị hóa
1.1.1. Khái niệm công nghiệp hóa
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng
vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành TW
Đảng Khóa VII đã đưa ra quan niệm mới về CNH, HĐH và đây cũng chính là
quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước ta hiện nay. Theo tư
tưởng này CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo ra năng suất xã hội
cao (ĐCSVN, 2006).
1.1.2. Đô thị hóa
1.1.2.1. Khái niệm đô thị hóa: Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đô thị hoá
Hiểu một cách đơn giản thì đô thị hóa là một biểu hiện của phát triển
kinh tế - xã hội. Theo nghĩa hẹp, đô thị hoá được hiểu là quá trình di cư từ
lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp với biểu hiện bên ngoài
1.1.2.2. Xu hướng phát triển của quá trình đô thị hoá
Biểu hiện của quá trình đô thị hoá là quá trình tập trung dân cư làm cho
quy mô dân số cũng như mật độ dân cư tăng cao; nâng cấp và xây dựng mới
cơ sở hạ tầng; đầu tư, phát triển kinh tế, thành lập các khu công nghiệp; làm
tăng vai trò trung tâm của đô thị đó… Đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh và
tiếp tục phát triển theo xu hướng sau: 7
Thứ nhất: Hình thành các trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại
và dịch vụ ở các đô thị lớn. Tại các đô thị lớn đã có nhiều trung tâm công
nghiệp và thương mại, dịch vụ. Việc hình thành các trung tâm mới sẽ nâng
cao tính cạnh tranh giữa các trung tâm này, nâng cao hoạt động của đô thị, tạo
ra tính chuyên môn cao trong sản xuất. Điều này thúc đẩy quá trình đô thị hoá
theo chiều sâu.
Thứ hai: Hình thành các trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại
và dịch vụ ở các vùng lân cận đặc biệt là các vùng ngoại ô. Điều này làm cho
giảm sự quá tải cho các trung tâm đô thị lớn, mở rộng quy mô ra các vùng
xung quanh.
Thứ ba: Đô thị hoá sẽ phát triển theo hướng nâng cao hạ tầng nông
thôn, chuyển một phần nông thôn thành thành thị. Từ đó sẽ nâng cao mức
sống của người dân ở các vùng nông thôn.
Thứ tư: Song song với việc phát triển đô thị theo chiều sâu là phát triển
đô thị theo chiều rộng bằng việc mở rộng phạm vi đô thị. (Nguyễn Đình Hương
và Nguyễn Hữu Đoàn, 2003).
1.1.2.3. Đô thị hóa tác động đến việc làm
Đô thị hoá là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Quá trình đô thị hoá diễn ra thường xuyên và tốc độ ngày càng nhanh ở nước
ta hiện nay. Nó có tác động rất lớn đến việc làm ở đô thị, có cả tác động tích
cực và tác động tiêu cực.
Nói tóm lại, quá trình đô thị hóa tuy có những tác động tích cực nhưng
không tránh khỏi nhưng tác động tiêu cực, nó làm cho vấn đề việc làm ngày
càng căng thẳng. (Nguyễn Đình Hương và Nguyễn Hữu Đoàn, 2002, 2003).
1.1.3. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển khu công nghiệp và
đô thị hóa
1.1.3.1. Những thành tựu chủ yếu phát triển khu công nghiệp
Năm 1991, khu chế xuất Tân Thuận được thành lập “khai sinh” ra mô
hình các KCN trong chiến lược xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. 9
Từ đó đến nay với nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến việc thành lập, hoạt
động của các KCN và khu chế xuât (KCX) được ban hành, điều chỉnh đã tạo
ra hành lang pháp lý cho sự ra đời và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn
cả nước. Tính đến nay (năm 2010), Việt Nam đã có 250 KCN, KCX được
thành lập, trong đó có 170 KCN (chiếm 68% tổng số KCN của cả nước) đã đi
vào hoạt động, số còn lại đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Các
KCN, KCX chủ yếu được thành lập ở ba vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh
tế trọng điểm phía bắc; vùng kinh tế trọng điểm phía nam; vùng kinh tế trọng
điểm miền trung), song cho đến nay cả nước có 57 tỉnh, thành phố có KCN,
KCX được thành lập.
Hiện nay, các KCN, KCX đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và
ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư
nước ngoài hơn 52 tỷ (chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các
doanh nghiệp trong nước. Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN,
KCX hiện nay đã đóng góp hơn 30% giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo
việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp.
Ngoài ra, các KCN, KCX phát triển đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng
(điện, đường, nước ). Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của
KCN, KCX góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðó là thúc
Một số địa phương có nhiều thuận lợi trong phát triển công nghiệp và
đã phát triển các KCN từ lâu nhưng kết quả đạt được còn chưa tương xứng
với tiềm năng. Đặc biệt là thiếu sự phối hợp giữa các KCN, giữa các địa
phương trong vùng. Các KCN phát triển riêng rẽ, đầu tư tất cả các hạng mục
công trình, đầu tư tốn kém, giảm hiệu quả hoạt động của các KCN. Nhiều nơi
do mong muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư nên đã
hình thành các KCN theo nhiều cách khác nhau, thiếu đồng bộ dẫn đến gặp
phải nhiều vấn đề trong quá trình phát triển (về bảo vệ môi trường, về nguồn 11
vốn, các giải pháp kỹ thuật và đặc biệt là phương thức kinh doanh hạ tầng ).
Mặt khác, các KCN còn yếu kém về năng lực cạnh tranh và tính liên kết giữa
các KCN và giữa các tỉnh trong khu vực. Nhiều địa phương tự “xé rào” để tạo
cơ chế ưu đãi riêng, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh. Nói cách khác,
về tổng thể chúng ta còn thiếu một tầm nhìn chiến lược trong quy hoạch phát
triển KCN. Hậu quả là việc phát triển KCN phân tán, chia cắt, hình thành
khắp cả nước (gần như tỉnh nào cũng có KCN), trong đó nhiều KCN xây
dựng xong không có khả năng lấp đầy, lãng phí rất lớn.
- Thứ hai, phát triển KCN chưa bảo đảm bền vững trên các khía cạnh
xã hội, môi trường
Đầu tư phát triển các KCN thời gian qua chưa đảm bảo các điều kiện về
cơ sở hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN. Dịch vụ phục vụ KCN, KCX còn
thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đời sống của người lao động
trong KCN, của các hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng KCN đã được quan tâm
hơn nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo cuộc sống
với thu nhập ổn định cho người lao động và gia đình. Việc tập trung lao động
quá cao ở một số khu vực có nhiều KCN trong khi các điều kiện hạ tầng xã
hội chung của khu vực (đường giao thông, nhà ở, bệnh viện, trường học trung
tâm thương mại ) chưa phát triển đồng bộ để đáp ứng nhu cầu đó, nên tạo ra
có tỷ lệ xuất khẩu cao.
Các dự án công nghiệp nặng chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất,
lắp ráp các sản phẩm điện, điện tử, vật liệu xây dựng, sắt thép, hoá chất còn
khá khiêm tốn và tập trung phần lớn tại các Vùng kinh tế trọng điểm. Các
ngành công nghiệp có giá trị tăng cao còn chiếm tỷ lệ thấp chưa hỗ trợ hoặc
phối hợp được với nhau trên cùng địa bàn và trong cùng khu vực.
Hiện nay chưa có đánh giá đầy đủ về cơ cấu các ngành công nghiệp
được đầu tư trong các KCN trên cả nước, nhưng có thể thấy rằng phần lớn là 13
các KCN tổng hợp, có cơ cấu ngành nghề tương đối giống nhau, chưa phân
định rõ ngành nghề chủ đạo, lại giới hạn theo ranh giới hành chính, có nhiều
cơ chế quản lý không đồng bộ giữa các địa phương dẫn đến hiệu quả kinh
doanh hạ tầng kém, gây ô nhiễm môi trường. Mặc dù quy hoạch phát triển các
KCN đã xác định rõ định hướng phát triển và phân bố, quy mô và cơ cấu
ngành nghề thu hút đầu tư nhưng chưa có sự phân loại các KCN theo vị trí,
chức năng và tầm quan trọng của các KCN để tạo điều kiện phân cấp, xác
định cơ chế quản lý và có chính sách đầu tư phát triển phù hợp theo điều kiện
của từng vùng lãnh thổ.
- Thứ tư, nguồn nhân lực tại các KCN chưa đáp ứng được cả về chất
lượng và số lượng.
Do kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh tăng mạnh nên nhu cầu về lao động có xu hướng tăng nhanh. Sự khan
hiếm nhân lực tập trung ở số lao động có trình độ, kỹ năng chuyên môn. Sau
khi gia nhập WTO, do thiếu sự đón đầu trong đào tạo và chuẩn bị cho hội
nhập, chúng ta còn thiếu chủ động về nguồn nhân lực. Tình trạng thiếu lao
động không còn dừng lại ở một số ngành nghề và địa phương mà đã trở thành
vấn đề chung của tất cả các KCN hiện nay. Theo báo cáo, mỗi năm các KCN,
KCX trên cả nước thu hút được lực lượng lao động khoảng trên 7 vạn người,
trong lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là đô thị. Đó cũng là quá trình gia tăng
tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của quốc gia.
Theo cách tiếp cận xã hội học, ĐTH được hiểu rộng hơn, đó là quá trình
tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại; là sự thay đổi phương thức hay
hình thức cư trú của nhân loại. Điều này có nghĩa là ĐTH không chỉ thay đổi
phương thức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh tế mà còn là sự thay đổi
lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cá nhân, trong đó quan hệ
xã hội, các mô hình và ứng xử tương ứng với điều kiện CNH, HĐH và ĐTH. 15
ĐTH có hai hình thức biểu hiện là ĐTH theo chiều rộng và ĐTH theo
chiều sâu. ĐTH theo chiều rộng tức là ĐTH diễn ra tại các khu vực trước
đây không phải là đô thị. Đó là quá trình mở rộng quy mô diện tích các đô
thị hiện có trên cơ sở hình thành các đô thị mới, các quận, các phường mới.
Với hình thức này, dân số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt
động phi nông nghiệp và các hoạt động của kinh tế đô thị không ngừng mở
rộng. Sự hình thành các đô thị mới được tạo nên cơ sở phát triển các KCN,
thương mại và dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô. ĐTH theo chiều rộng là
hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong thời kỳ đầu
công nghiệp hóa.
ĐTH theo chiều sâu tức là quá trình hiện đại hóa và nâng cao các đô thị
hiện có. Mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương thức và các hoạt động
kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng
tăng cường, hiệu quả kinh tế - xã hội cũng ngày càng được cải thiện và nâng
cao. (Trịnh Duy Luân, 1996).
* Kết quả đô thị hóa ở Việt Nam
Trong vòng 20 năm qua, Việt Nam đã trải qua thời kỳ ĐTH nhanh
chóng và hệ thống đô thị quốc gia đã có nhiều biến đổi về số lượng. Hệ thống
đô thị hiện nay bao gồm 753 khu đô thị, trong đó có hai thành phố loại đặc
sống trong môi trường chật chội với diện tích ở không quá 3 m
2
mỗi người.
Đô thị phát triển nhanh nhưng đời sống người dân thành thị chưa được
quan tâm đầy đủ. Ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh, người dân một số quận
huyện chưa được cung cấp nguồn nước máy. Dân số, nhà cửa ngày càng nở ra
nhưng các dịch vụ công ích như cung cấp nước phải theo kế hoạch nhất định
hằng năm. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ, đường sá
giao thông tắc nghẽn, nguồn nước ngầm và các dòng sông bị đe dọa nhiễm
bẩn nghiêm trọng vì chất thải, không khí ngày càng ô nhiễm nặng nề vì bụi
bặm công trường, khói xe, khói nhà máy sản xuất công nghiệp. Như khảo sát
của các nhà chuyên môn tại các thành phố lớn vẫn còn 20% và các đô thị nhỏ
còn khoảng 45% rác thải xả vào môi trường tự nhiên, chưa được thu gom. 17
Các vấn đề phát sinh khi quá trình ĐTH nhanh đều do sự ảnh hưởng
bởi tình trạng dân nhập cư tại khu vực thành thị. Một phần họ là những nông
dân chán cảnh “chân lấm tay bùn” dắt díu nhau vào các đô thị kiếm việc làm.
Một bộ phận là tầng lớp thanh niên trẻ ở lại thành thị lập nghiệp và làm việc
sau thời gian học tập.
Hiện nay các khu đô thị, thành phố trên cả nước đang đau đầu và khắc
phục những sai sót trong quá trình quy hoạch đô thị trước đây về cơ sở hạ tầng
như đường sá, hệ thống thoát nước, xử lí nước thải Đây là hệ quả của việc quy
hoạch đô thị không đồng bộ. (Bộ Xây dựng, Cục phát triển đô thị, 2010).
1.1.4. Tác động của phát triển khu công nghiệp và đô thị hóa tới lao động
việc làm khu vực nông thôn
1.1.4.1. Tác động tích cực
-Thứ nhất, phát triển KCN và ĐTH tạo mở nhiều việc làm mới trong
lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ. Để tiến hành ĐTH