Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vùng thu hồi đất huyện hoài đức, thành phố hà nội đến năm 2020 - Pdf 33

LỜI CAM ĐOAN
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
---------rb® Ế ---------- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được sử dụng đế bảo vệ một học vị nào.
KHUẤT VĂN THÀNH
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đờ cho việc thực hiện luận văn

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ

GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN VÙNG THƯ HỒI ĐÁT HUYỆN HOÀI ĐỨC,
Khuất Văn Thành
THÀNH PHÓ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TÉ

Chuyên ngành : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số

: 60.31.10

Ngưòi hưóng dẫn khoa học : PGS.TS. NGUYỄN VĂN SONG

1


LỜĨ CẢM ƠN

Đe thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ tận tình nhiều mặt của các tổ chức, cá nhân.


Danh mục các chữ viết tắt

V

Danh mục bảng

vi

Danh mục biếu đồ

viii

1. ĐẶT VẤN ĐÈ

9

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

9

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

11

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

11

2. TÒNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu

53

4.1 Tình hình phát triển công nghiệp tiếu thủ công nghiệp của huyện 53
4.2 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp

của huyện

54
Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp

4.2.1

trong thu hồi đất của huyện

54

Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp

4.2.2

của các xã điều tra

57

4.3 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động trong

các vùng bị thu hồi đất ở huyện Hoài Đức
4.3.1

58

Tổng hợp số huyện/thị, xã và cơ sở đào tạo nghề điều tra

4.1:

Giá trị sản xuất công nghiệp-TCN huyện Hoài Đức giai đoạn 2006
- 2008

4.2:

53

Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất NN sang phi NN của các xã
từ 01/01/2005 đến 01/01/2009

4.3:

50

55

Số hộ có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi của các xã
4.4. Thực trạng đất đai chuyến đối của các xã điều tra
4.5.

56
57

Tống hợp số học viên học nghề sơ cấp tại Trung tâm dạy nghề Hoài
Đức từ năm 2006 đến 30/4/2009 của các xã, thị trấn trong huyện 63
4.6. Việc làm của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp của 12/14 xã điều


Thực trạng hồ trợ tìm việc làm

Sử dụng tiền đền bù của người dân vùng thu hồi đất

Qui mô và cơ cấu nguồn lao động trong các cụm công nghiệp

Thu nhập bình quân của lao động trong các cụm, điếm công nghiệp

87

88
89
90
90
95

tại các doanh nghiệp dân doanh

95

98
Mức độ và cơ cấu chi tiêu bình quân thường của lao động trong các
KCN

vii


DANH MỤC
• BIẺƯ ĐÒ

nghiệp, các khu chế xuất và đô thị là tất yếu. Tuy nhiên, sự phát triển các khu
công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, đô thị dẫn đến sự thay đổi nhiều
mặt trong đời sống kinh tế xã hội nông thôn.

Sự phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, đô
thị dẫn đến sự thay đối về đất đai, lao động, việc làm, thu nhập và co cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn. Xét về lâu dài, sự thay đôi này mang tính chất tích
cực, tạo điều kiện chuyển dịch co cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, thưong
mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội,
góp phần đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH đất nước, tạo ra việc làm, nâng cao
thu nhập cho người lao động. Quá trình CNH - HĐH sẽ góp phần hiện đại hóa
các quá trình sản xuất trong nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi,
qua đó làm giảm nhẹ sức lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, sự
phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất và đô thị cũng tạo ra rất nhiều
khó khăn cho nông dân các vùng có đất thu hồi. Đó là: sự mất dần diện tích đất
nông nghiệp và hậu quả của nó là hàng ngàn nông hộ không hoặc thiếu đất sản
xuất, tăng tỷ lệ thất nghiệp, cụ thể trong 3 năm từ năm 2006 đến hết năm 2008
diện tích đất thu hồi của toàn huyện là 774,54 ha, kéo theo trên mười ngàn lao
động thiếu việc làm tạo ra nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội nông thôn; việc
sử dụng tiền đền bù không đúng mục đích, dẫn đến lãng phí không cần thiết,
9


nghiệp, khu chế xuất. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập
một cách ốn định cho lao động nông thôn nói chung và cho lao động nông thôn
thuộc những vùng thu hồi đất nông nghiệp nói riêng đang là vấn đề có tính chất
thời sự ở nhiều địa phương.

Huyện Hoài Đức trong những năm qua, kinh tế của huyện đó có những
bước phát triển mạnh mẽ. Hàng năm diện tích đất nông nghiệp giảm do chuyển

“ Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm
đều được thừa nhận là việc làm”.

Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuối có khả năng lao động có giao
kết hợp đồng lao động.

Người lao động là bộ phận dân số trong qui định thực tế tham gia lao
động (đang có việc làm) và những người không có việc làm nhưng đang tích cực
tìm làm việc.
13


- Chất lượng lao động:
Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động,
chất lượng lao động thế hiện ở sức khoẻ, trình độ văn hoá, nhận thức hiếu biết
về khoa học kỹ thuật và trình độ kinh tế tổ chức.

Trên co sở đó, có thế kết luận: người có việc làm là những người trong độ
tuối lao động và đang làm việc tại các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội. Việc làm là
hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện
tăng thêm thu nhập cho những người trong cùng một hộ gia đình.

Ngày nay việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề
có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh
hưởng
trực tiếp đến sự phát triển của một đất nước. Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất
nghiệp
là một trong những việc làm quan trọng để từng bước ổn định và nâng cao đời
sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững. Đặc biệt đổi với Việt Nam, tốc độ
tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc

Các nhà khoa học kinh tế Anh thì lại cho rằng “việc làm theo nghĩa rộng
là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ
đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu
chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” [3, tr.315]. Theo quan
điếm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có
được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm.

Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên Xô lại cho rằng, “việc làm là
sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích

15


Nga khái niệm này được quy định ra trong Bộ Luật Việc làm của dân cư Liên
Bang Nga như sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thỏa mãn những
nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật
Liên bang ngăn cấm” [3, tr.315].

Theo Tố chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến
trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân làm hai
loại: có trả công (những người làm thuê, học việc ...) và không được trả công
nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình ...). Vì
vậy, “việc làm có thế được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả
công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá
nhân và trực tiếp vào nồ lực sản xuất” [3, tr.314]. Theo khái niệm này, người có
việc làm là người làm việc gì đó đế được trả công, lợi nhuận được thanh toán
bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự' tạo
việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay
hiện vật). Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13
của nhà thống kê lao động (IL0.1993) và đã được áp dụng ở nhiều nước. Tuy


Khái niệm việc làm của Bộ luật Lao động Việt Nam được cụ thế hóa, có
thể hiểu dưới ba dạng hoạt động sau:

- Làm các công việc đế nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc

bằng hiện vật
- Làm các công việc đế thu lợi nhuận cho bản thân.

- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao

dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.

17


pháp lý của việc làm, quan niệm đó rõ ràng hơn so với quan niệm của tố chức
ILO. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, hành nghề và hoàn toàn phù
hợp với sự phát triển thị truờng lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần. Nguời lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào
vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên kết kinh doanh, tự do tìm
kiếm việc làm, tu do thuê muớn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không
bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực ngoài nhà nước và các
khu vực phi chính thức.

Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để
một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Neu một hoạt động tạo ra
thu
nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma túy, mại dâm,... thì

động. Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu
về tư liệu sản xuất, von có thế kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động. Còn trong
điều kiện tự động hóa, sản xuất theo dây truyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết
bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ thấp. Do đó, tùy
từng điều kiện cụ thế mà lựa chọn phương án phù hợp đế có thể tạo việc làm cho
người lao động.

Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành
tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỷ lệ
giữa c và V thường xuyên biến đối theo các dạng khác nhau.

- Sự phù họp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có ý nghĩa là mọi

người
có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Neu chỉ xem xét
19


Từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với khái niệm việc làm là
phạm
trù đê chi trạng thái phũ họp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết
(vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ...) đế sử đụng sức lao động đó. Trên cơ sở này
sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
hồ trợ giải quyết việc làm,
2.1.2
Thất nghiệp
Theo quan niệm của Tổ Chức Lao Động Quốc Te (ILO), thất nghiệp là
người không có việc làm, có khả năng làm việc và có nhu cầu tìm kiếm việc
làm.
Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động

thấp nghiệp cao đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát thấp cũng tạo ra những vấn đề xã
hội bức xúc về việc làm, về tệ nạn xã hội,... Vì vậy, duy trì một tỷ lệ thất nghiệp
họp lý ở mức thất nghiệp tự’ nhiên (tỷ lệ thất nghiệp mà ở đó ai có nhu cầu làm
việc đều có thể kiếm được việc làm) là điều lý tưởng.

Thất nghiệp trong trường hợp mất đất do chuyến đổi mục đích sử dụng
thuộc loại thất nghiệp tạm thời, bởi việc làm của người lao động nông thôn luôn
gắn liền với đất đai. Khi tư liệu sản xuất chính bị mất, một bộ phận lao động
nông nghiệp được chuyến sang lao động công nghiệp. Một bộ phận còn lại,
không đáp ứng được yêu cầu của khu công nghiệp đó tạm thời mất việc.

2.2 Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triến công nghiệp và

đô thị hóa
2.2.1

Những thành tựu chủ yếu phát triến khu công nghiệp

Thứ nhất, về số lượng các khu công nghiệp (KCN), tính đến cuối tháng
21


bằng sông Hồng có 42 KCN (10.046 ha); Đồng bằng sông Cửu Long có 28
KCN (5.027 ha)

Việc thành lập các KCN nhìn chung đều tuân thủ quy mô diện tích đã
đuợc phê duyệt tại Quy hoạch phát triển KCN đến năm 2015, đồng thời các
KCN có quy mô lớn đuợc phân kỳ đầu tu đế đảm bảo hiệu quả xây dựng cơ sở
hạ tầng và thu hút đầu tu.


các KCN đó vận hành và đang xây dựng co bản từ 50%-60%; nếu tính riêng các
KCN đó vận hành thì thường ở mức 65%-75%. Một số vùng phát triển KCN tù’
lâu như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ
lệ lấp đầy đất công nghiệp đối với các KCN đó vận hành cao hơn Đông Nam
Bộ: 75%; Đồng bằng sông Hồng: 73%; Đồng bằng sông Cửu Long: 89%). [ 15]
2.2.2

Hạn chế, tồn tại phát triến khu công nghiệp

Tiến độ thực hiện vốn đầu tư các dự án đầu tư trong một số KCN còn
chưa đạt yêu cầu. Trong 6 tháng đầu năm 2008, sổ dự án đi vào hoạt động và sổ
vốn đầu tư đã thực hiện giảm so với cùng kỳ năm 2007, chủ yếu do nhiều
nguyên nhân khách quan tù' biến động thị trường trong nước và thế giới ảnh
hưởng tới tiến độ huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp.

Ớ một số địa phương, điều kiện sống, làm việc, thu nhập của người lao
động còn chưa được giải quyết thỏa đáng. Do một số điều chỉnh về chế độ tiền
lương, sự quan tâm hơn của các địa phương, điều kiện sổng, làm việc của người
lao động nhiều KCN đã được cải thiện. Tuy vậy, do lực lượng lao động KCN
ngày càng đông đảo và biến động phức tạp, công tác quản lý lao động, triến khai
các cơ chế, chính sách nâng cao đời sống và đảm bảo quyền lợi của người lao
23


Việc đảm bảo các trung tâm dịch vụ, vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh
thần gần KCN chưa thực sự được chú ý khi xây dựng quy hoạch KCN.

Do tính chất phức tạp của lao động KCN, những năm qua, cơ chế hồ trợ
xây dựng nhà ở cho người lao động KCN đã được nghiên cứu song gặp nhiều
khó khăn đế hoàn thiện. Trên thực tế, pháp luật hiện hành đã quy định mức ưu

cư tù’ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống
trong
lãnh thố địa lý hạn chế được gọi là đô thị. Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân
cư đô thị trong tổng số dân của quốc gia.

Theo cách tiếp cận xã hội học, ĐTH được hiếu rộng hơn, đó là quá trình
tố chức lại môi trường cư trú của nhân loại; là sự thay đổi phương thức hay hình
thức cư trú của nhân loại. Điều này có nghĩa là ĐTH không chỉ thay đổi phương
thức sản xuất, tiến hành các họat động kinh tế mà còn là sự thay đôi lớn trong tất
cả các lĩnh vực của đời sổng xã hội và cá nhân, trong đó quan hệ xã hội, các mô
hình và ứng xử tương ứng với điều kiện CNH, HĐH và ĐTH.

ĐTH có hai hình thức biếu hiện là ĐTH theo chiều rộng và ĐTH theo
chiều sâu. ĐTH theo chiều rộng tức là ĐTH diễn ra tại các khu vực trước đây
không phải là đô thị. Đó là quá trình mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện
có trên cơ sở hình thành các đô thị mới, các quận, các phường mới. Với hình
thức này, dân số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt động phi
nông nghiệp và các họat động của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng. Sự hình
thành các đô thị mới được tạo nên cơ sở phát triển các khu công nghiệp, thương
mại và dịch vụ ở vùng nông thôn và ngoại ô. ĐTH theo chiều rộng là hình thức
phố biến hiện nay ở các nước đang phát triến trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa.

ĐTH theo chiều sâu túc là quá trình HĐH và nâng cao các đô thị hiện có.
25


đặc biệt là TP HCM, Hà Nội. Bốn đô thị loại 1 là Hải Phòng, Đà Nằng, cần
Thơ, và Huế; 13 đô thị loại 2; 36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 và 635 đô thị loại
5. Từ năm 1990, đô thị Việt Nam mới bắt đầu phát triển. Từ đó đến nay, đặc biệt
là vài năm trở lại đây tốc độ đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng. Những năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status