Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai - Pdf 26

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN SAU THU
HỒI ĐẤT
13
1.1. Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
sau thu hồi đất
13
1.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau
thu hồi đất ở một số địa phương và bài học rút ra đối với
Đồng Nai
30
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT Ở ĐỒNG NAI
37
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đồng Nai ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau
thu hồi đất
37
2.2. Kết quả và hạn chế trong giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn sau thu hồi đất
16
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI
QUYẾT CÓ HIỆU QUẢ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN SAU THU HỒI ĐẤT Ở ĐỒNG NAI
TRONG THỜI GIAN TỚI
70
3.1. Những quan điểm cơ bản nhằm giải quyết có hiệu quả việc

trí, đất đai xây dựng các KCN, khu đô thị này Chính quyền tỉnh đã phải thực hiện thu hồi khá
nhiều đất nông nghiệp. Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN chính là điều kiện và thời cơ tốt
nhất để chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp - nông thôn - là khu vực
có năng suất lao động thấp, sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Nhiều lao động đã được giải
quyết việc làm với thu nhập cao hơn, ổn định hơn nhưng bên cạnh đó, người dân bị thu hồi đất,
không phải tất cả mọi người đều có thể dễ dàng chuyển đổi được sang các công việc thuộc lĩnh
vực công nghiệp, dịch vụ như mong muốn, mà một bộ phận khá lớn người dân bị thu hồi đất là
những người nông dân thuần túy lâu đời, khi bị thu hồi đất, đất canh tác bị thu hẹp, không hoặc
khó có thể tiếp tục với hoạt động nông nghiệp nhưng bị hạn chế là rất nhiều lao động đã ở vào độ
tuổi không năng động để có thể được đào tạo nghề phù hợp trong lĩnh vực công nghiệp hoặc dịch
vụ, khả năng chuyển đổi nghề mới và tìm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ còn gặp
nhiều khó khăn. Hiện nay, số lao động bị thu hồi đất chủ yếu chỉ được hỗ trợ bằng hình thức đền
bù đất.
Mặc dù vậy, giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh nói chung, việc làm cho
lao động nông thôn sau thu hồi đất nói riêng còn tồn tại những bất cập, hạn chế. Điều đó do
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc nhận thức và các giải pháp thực hiện còn
thiếu hiệu quả. Bởi vậy, việc tiếp tục luận giải làm rõ những vấn đề lý luận thực tiễn làm cơ sở để
xác định các giải pháp, nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi
đất ở Đồng Nai có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Với lý do đó, tác giả lựa chọn vấn
đề “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế.
4
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Bởi vậy, đã có nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu, đề cập trên các khía
cạnh khác nhau về việc làm và giải quyết việc làm. Trong đó, đáng chú ý một số công trình tiêu
biểu sau:
- Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp của PGS. Nguyễn Quang Hiển, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 1995. Tóm tắt: Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố
con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng

việc làm, giữ vai trò đào tạo, tuyển dụng và hướng nghiệp để xã hội phát triển theo định hướng
XHCN.
- Nguyễn Sinh Cúc (2003), “Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra” Tạp chí
Con số và Sự kiện, số 8. Tóm tắt: Đưa ra phương hướng giải quyết cho tình hình việc làm tại nông
thôn. Nhằm giúp giảm gánh nặng xã hội về giải quyết việc làm và giảm về tỷ lệ lao động nhàn rỗi. Nêu
và giải quyết những vấn đề thực tiển cần thực hiện và giải pháp thời gian tới.
- Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí lao động và Xã hội, số 247. Tóm tắt: Tổng
hợp những giải pháp về lao động việc làm cho người lao động trình độ thấp, có phương hướng đạo tạo,
pháp triển nguồn lực hiện có tại địa phương. Đẩy mạnh phát triển toàn diện về công nghiệp hóa tại
nông thôn để phát triển xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Vũ Đình Thắng (2002), “Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn”, Tạp chí kinh tế và phát
triển, số 3”. Tóm tắt: Thể hiện những mặc khó khăn còn vướng mắc cần thực hiện nhằm giúp người
lao động có được việc làm thích hợp với khả năng, trình độ để ổn định cuộc sống.
- Bùi Văn Quán (2001), “Thực trạng lao động và việc làm ở nông thôn và một số giải pháp
cho giai đoạn 2001-2005”, Tạp chí lao động và Xã hội, số chuyên đề 3. Tóm tắt: Phân tích được nhiều
khía cạnh về thực trạng nguồn lao động và việc làm khi áp dụng tại nông thôn. Đề ra phương hướng và
giải pháp giải quyết trong thời gian tới.
- Trần Kim Thoa, “Bảo đảm an sinh xã hội gắn với giải quyết việc làm cho người lao
động”, 2009. - Số 4. - tr. 72-74 Tuyên giáo. Tóm tắt: Nêu sự quan tâm của Nhà nước đối với
6
người lao động. Để người lao động an tâm, tập trung làm tốt công việc, mang lại lợi ích cho
mình và cho xã hội.
- Đàm Hữu Đắc, “Phương hướng giải quyết việc làm cho thanh niên đến năm 2015”,
2009. - Số 353. - tr. 10-12 Tạp chí Lao động và Xã hội. Tóm tắt: Thực trạng nguồn lao động dồi
dào của nước ta còn chưa phát triển đúng hướng, đúng ngành nghề. Để định hướng chính xác
phát triển tối ưu nguồn lao động cần đề ra kế hoạch, phương hướng để thanh niên tìm được việc
làm thích hợp nhất.
- Đỗ Thị Xuân Phương, “Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm”, LATS
Kinh tế: 5.02.05, Hà Nội 2000. Tóm tắt: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hình thành

hội của Nhà nước, sự quan tâm, chăm lo đến đời sống của người lao động, đặc biệt là người
khuyết tật. Tạo điều kiện để họ hòa nhập với xã hội.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận giải về việc làm, giải quyết việc làm cho người
lao động trên các góc độ khác nhau, song đến nay chưa có công trình nào đề cập đến giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích: Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn về giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn sau thu hồi đất, từ đó đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ
yếu nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm cho đối tượng này ở Đồng Nai trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ quan niệm, sự cần thiết và nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
sau thu hồi đất ở Đồng Nai.
- Đánh giá đúng thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở
Đồng Nai.
- Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả việc làm
cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở
Đồng Nai.
8
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận chung về việc làm, giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất; thực trạng giải quyết việc làm và quan điểm,
giải pháp giải quyết việc làm trên địa bàn các địa phương ở Đồng Nai.
- Về không gian: Lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai.
- Về thời gian: Các số liệu điều tra, khảo sát được thực hiện chủ yếu năm 2005 đến
nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài
sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị Mác - Lênin: trừu tượng hóa

những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người. Khái niệm này nhấn mạnh nhiều
vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, chưa phản ánh được hết các hoạt động lao động của con người.
Trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin, lao động là hoạt động có
mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu
của đời sống con người. Trong Bộ luật Lao động của nước ta chỉ rõ: Lao động là
hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh
thần của xã hội.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức
quan trọng. Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của con
người, giúp con người nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên và
nâng cao kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Lao động là điều kiện tiên
quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội.
10
Để lao động, trước hết con người phải có sức lao động, đó là là toàn bộ thể
lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong con người. Thể lực, trí lực và tâm lực đó đem ra
vận dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất và những giá trị tinh
thần của xã hội.
* Khái niệm lao động nông thôn
Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là
nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn,
có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn. Điểm đáng lưu ý của
lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực
nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi; là những cơ thể sống với
những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ, lao động nông nghiệp mang sắc thái
riêng, không giống với lao động trong một số ngành kinh tế khác. Đặc biệt tính chất
thời vụ của lao động nông nghiệp, làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng,
lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu việc làm tạm thời là khá phổ biến.
Lao động nông thôn: là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia
hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi,

nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
- Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức
tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do
chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông
nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
12
Điều này cho thấy thị trường việc làm đã được mở rộng, bao gồm tất cả các
thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và không bị giới hạn
về không gian.Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự
do thuê mướn lao động theo luật pháp để tạo việc làm cho mình và xã hội.
Từ quan niệm trên về việc làm, có thể hiểu được thiếu việc làm hay bán
thất nghiệp. Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng do những
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, mà họ phải làm việc không hết thời gian
theo luật định, hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống, muốn
tìm thêm việc làm để bổ sung.
Việc làm thường được phần làm hai loại: Việc làm thường xuyên và việc
làm không thường xuyên. Người có việc làm thường xuyên là những người hoạt
động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có số ngày làm việc thực tế lớn hơn
hoặc bằng tổng số ngày có nhu cầu làm thêm. Người không có việc làm thường
xuyên gồm những người thuộc bộ phận hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12
tháng qua có tổng số ngày làm việc thực tế nhỏ hơn tổng số ngày có nhu cầu làm
thêm.
Như vậy, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc
làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm
- Nhân tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địa
phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người. Đó có thể là đất đai màu
mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điều kiện khí hậu,
thủy văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại cây trồng, vật nuôi; các nguồn

việc làm cho lao động nông nghiệp lớn, ít đất đai khả năng tạo việc làm cho lao
động nông nghiệp sẽ giảm đi.
Đô thị hóa đã đẩy nhanh quá trình phân công lao động, tạo cơ sở hạ tầng
thuận lợi cho sản xuất phát triển, tuy nhiên các nước đang phát triển có mức thu
nhập trung bình thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề của người lao
động thấp, không đủ khai thác những thuận lợi của quá trình đô thị hóa tạo ra, để
giải quyết công ăn việc làm cho mình. Do vậy, quá trình đô thị hóa ngày càng diễn
ra nhanh chóng nguy cơ thất nghiệp và thiếu việc làm trong nông nghiệp, nông
thôn ngày càng gia tăng.
+ Dân số
Quy mô dân số tăng, nhu cầu về lượng hang hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng
lên. Để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa
dạng hóa các ngành nghề hoạt động. Điều đó dẫn đến nhiều ngành nghề mới ra
đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm
cũng biến đổi theo.
Cơ cấu dân số quyết định cơ cấu tiêu dùng. Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành
nghề, tôn giáo, dân tộc….đều có tâm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhu cầu về
tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng khác nhau.
Để thỏa mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tất yếu phải mở rộng,
phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng chủng loại hàng hóa, nâng
cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngành nghề. Số lượng việc làm được tạo
ra nhiều hơn, phát triển đa dạng hơn.
Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khỏe, trình độ, phẩm
chất. Vấn đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của
người lao động. Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng một
tiên tiến, đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định đáp ứng yêu cầu công
15
việc. Người lao động có trình độ càng cao thì cơ hội tìm được việc làm càng dễ
dàng. Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu là những người có trình độ thấp,
không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ

dụng lao động và bản thân người lao động trong việc tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản
xuất; số lượng, chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để kết hợp với
tư liệu sản xuất và sức lao động.
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất chính là tạo cho người lao
động ở nông thôn - những người có đất bị thu hồi phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội có việc làm và thu nhập dể đảm bảo cuộc sống.
Trên cơ sở quan niệm về giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, có thể quan
niệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình CNH-HĐH ở tỉnh Đồng Nai: là
tổng thể hoạt động của Đảng bộ, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các chủ doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất và bản thân người lao động tỉnh Đồng Nai trong việc tạo ra số lượng, chất lượng
tư liệu sản xuất; số lượng, chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác ở khuc
vực nông thôn để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động trong quá trình CNH-HĐH của
tỉnh, nhằm tạo việc làm, bảo đảm thu nhập cho những lao động sau thu hồi đất, góp phần thực
hiện có hiệu quả mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra.
Quan niệm trên chỉ rõ:
- Chủ thể giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn trong quá trình CNH - HĐH
tỉnh Đồng Nai chính là Đảng bộ, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các chủ doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất và chính bản thân người lao động nông thôn bị thu hồi đất;
- Cách thức tiến hành: tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc kết hợp giữa tư liệu sản xuất
và sức lao động.
- Mục đích: Nhằm tạo việc làm, bảo đảm thu nhập cho người lao động, góp phần thực
hiện có hiệu quả mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra.
17
1.1.2. Sự cần thiết và nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
sau thu hồi đất
* Sự cần thiết giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất
ở Đồng Nai
- Do tác động của quá trình CNH – HĐH
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để
xây nhà máy, các khu chế xuất và dịch vụ là điều tất yếu. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và

8 Hố Nai 523
9 Tam Phước 331
10 Long Thành 488
11 An Phước 130
12 Ông Keo 800
13 Thanh Phú 186
14 Bàu Xéo 494
15 Long Khánh 100
16 Xuân Lộc 100
17 Tân Phú 50
18 Định Quán 50
Tổng 7,826
(Nguồn: Website: www.dongnai.gov.vn)
Tình trạng phân bố các KCN trong tỉnh chưa đều đã ảnh hưởng đến phân bố lao động trên
địa bàn. Đa số dự án thu hút nhiều lao động được tập trung chủ yếu trong các KCN trên địa bàn
thành phố Biên Hòa. Trong tổng số 190.000 người làm việc trong các KCN, số lao động làm việc
trong các KCN ở thành phố Biên Hòa là: 101.000 người (chiếm 54%); số lao động nhập cư ước
khoảng: 113.000 người (chiếm đến 60% trên tổng số lao động). Lao động nhập cư là một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải về cơ sở hạ tầng như: nhà ở, bệnh viện,
trường học, nạn kẹt xe vào mỗi giờ ra, vào ca, các tệ nạn xã hội, vi phạm trật tự an ninh trên địa
bàn… Số lượng lao động có tay nghề trong các KCN còn thấp, chưa tạo ra được cán bộ quản lý
chủ chốt, chưa tập trung vào việc đào tạo ra đội ngũ công nhân có tay nghề.
19
Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến cuối năm 2010 đạt 53%, tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề đạt 40%. Ngoài ra, tỉ lệ người tốt nghiệp đại học, công nhân tay nghề bậc cao còn thấp so
với bình quân chung cả nước. Công nghiệp phát triển nhanh nhưng nhân lực chất lượng cao
không đáp ứng kịp. Tính đến cuối năm 2008 mới có 19.751 người tốt nghiệp đại học, đang công
tác trong các thành phần kinh tế hoặc đã nghỉ hưu. Trong số này số tốt nghiệp từ hệ đào tạo
không chính qui (chuyên tu, tại chức, chuẩn hóa, từ xa) chiếm đến 44,2%.
Chỉ tính riêng Đồng Nai, diện tích đất thu hồi cũng lên đến19.752 ha. Giảm bớt đất canh

giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan
trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.
Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2013 nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng dựa vào một khu
vực kinh tế tư nhân mạnh trong quá trình tạo việc làm và nêu bật cách thức mà việc làm có thể
giúp cho phát triển thúc đẩy một chu trình đúng đắn. Báo cáo nhận thấy nghèo đói sẽ giảm xuống
khi con người phấn đấu thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn và khi việc làm giúp phụ nữ đầu tư nhiều
hơn cho con cái. Hiệu suất tăng lên khi người lao động làm việc giỏi hơn, khi các công việc có
năng suất cao xuất hiện và các công việc năng suất thấp dần dần biến mất. Xã hội phát triển khi
việc làm thúc đẩy sự đa dạng và mang lại nhiều lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn. “Một công
việc tốt có thể làm thay đổi cuộc sống một cá nhân và những công việc phù hợp có thể chuyển
đổi cả xã hội. Chính phủ các nước phải đưa việc làm trở thành trọng tâm của việc thúc đẩy sự
thịnh vượng và chống đói nghèo”, "Điều quan trọng là chính phủ các nước phải kết hợp tốt với
khu vực tư nhân, nơi tạo ra 90% tổng số việc làm. Vì vậy, phải tìm ra cách tốt nhất giúp các
doanh nghiệp và nông trại nhỏ phát triển. Việc làm là hy vọng. Việc làm là hòa bình. Việc làm có
thể làm cho các nước dế bị tổn thương trở nên vững mạnh."
- Từ đặc điểm lao động nông thôn tỉnh Đồng Nai;
Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp chỉ chiếm tỉ
trọng 6,8%, nhưng nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đóng một vai trò hết sức
quan trọng, với hơn 60% dân cư sống vùng nông thôn. Với nhận thức đó, Đồng
Nai luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi
21
đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm
an ninh, quốc phòng. Tính đến năm 2013, Đồng Nai có 15/136 xã đạt chuẩn nông
thôn mới và dự kiến đến cuối năm 2014 sẽ có thêm 6 xã hoàn thành. Với kết quả
này, Đồng Nai đang dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới. Người lao động
ở nông thôn chủ yếu làm việc tại các trang trại trồng nấm,nuôi gà, trồng cam,
quýt…, các xưởng hàn điện
Trong những năm gần đây, Hội Nuôi ong tỉnh Đồng Nai đã xây dựng mối
liên kết chặt chẽ giữa người nuôi ong và doanh nghiệp qua hợp đồng đầu tư và bao
tiêu sản phẩm, song song với việc cập nhật hóa thông tin về kinh tế, kỹ thuật cho

tích tăng khá cao và đạt 85,58 triệu đồng/ha vào năm 2013. Bên cạnh đó, xuất hiện
nhiều loại hình tổ chức sản xuất kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, tổ hợp tác và
doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Đời sống vật chất, thu nhập bình quân
đầu người khu vực nông thôn được nâng lên và đạt 32 triệu đồng/người/năm. Kết
cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu vực nông thôn từng bước được đầu tư
nâng cấp. Trong đó, hệ thống trường học, trạm y tế, văn hóa ngày càng khang trang
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống đường
giao thông nông thôn ngày càng được hoàn thiện đã tạo điều kiện cho người dân đi
lại, vận chuyển, lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất ngày càng thuận lợi. Công
tác an sinh xã hội được quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể; công tác phát triển
ngành nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm tại chỗ được chú
trọng.
Trong những năm qua và thời gian tới, Đồng Nai sẽ tiếp tục thực hiện đề án
nhưng tập trung vào những nghề mà nông dân đang sinh sống, hỗ trợ họ kiến thức,
kỹ năng để làm nghề và sống được bằng nghề. Tỉnh tập trung vào các nghề trọng
23
điểm như trồng trọt, chăn nuôi gà thả vườn, nuôi dê, may công nghiệp vừa phục
vụ tại chỗ, vừa cung cấp nguồn lao động dịch chuyển cho doanh nghiệp. Đồng
thời,tỉnh cũng hạn chế những nghề không phù hợp với khu vực nông thôn để nâng
cao hiệu quả của đề án, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Một trong
19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới là tăng thu nhập, nhất là đối tượng nghèo.
* Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất ở Đồng Nai
- Mở rộng và đa dạng hoá các loại hình sản xuất, kinh doanh trong nông thôn; Sản xuất
ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá với tỷ suất hàng hoá cao, tận dụng triết để các lợi thế so sánh
của các hộ, các vùng, trước hết là nguồn lực đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên ưu đãi
để đáp ứng yêu cầu tại chỗ và góp phần tham gia vào các quá trình phân công và hợp tác kinh tế
trong nội bộ hộ gia đình nông dân cũng như trong phạm vi rộng
- Thực hiện chính sách đất đai và hỗ trợ tín dụng cho sản xuất, kinh doanh của người lao
động trên địa bàn nông thôn; tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa để có những cánh đồng mẫu
lớn, làm bàn đạp tiến lên sản xuất lớn giúp giảm chi phí, hạn chế rủi ro trong sản xuất cho nông

- Về đặc điểm : Người dân sau khi tái định cư chủ yếu là người nghèo, trên 80% có trình
độ học vấn và trình độ chuyên môn thấp, việc làm đơn giản không ổn định, nghề nghiệp của họ
đa số là công việc lao động phổ thông, cá thể hoặc nhóm sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ như :
công nhân ngành tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, cắt tóc, uốn tóc, chạy xe vận chuyển, bán
hàng rong, bốc xếp…, nên việc định cư ở một chung cư cao tầng và các khu dân cư mới hầu hết
các cơ hội việc làm không nhiều, khó thay đổi việc làm mới, khó tìm lại công việc như trước đó
ở nơi định cư mới, dù công việc trước đó đơn giản nhưng đã nuôi sống họ. Từ đó đã ảnh hưởng
đến việc làm, có nhiều người dân sau khi di dời vẫn quay về chổ củ để làm ăn, tốn nhiều chi phí
đi lại, và các chi phí khác, kể cả những hộ có người lao động đã là công nhân viên chức ở các
công ty với việc làm, thu nhập ổn định khi di chuyển chổ ở mới, cũng bị ảnh hưởng giảm sút thu
nhập. Điều đáng quan tâm nhất là có 40% người dân cho rằng việc làm của họ sau khi tái định cư
gặp nhiều tình trạng khó khăn nhiều hơn, trong đó trên 20% đã lâm vào cảnh thất nghiệp, nhiều
hộ dân phải bán nhà tái định cư để đến các khu vực có nhiều cơ hội tìm được việc làm hơn để
sinh sống.
25
- Về việc thực hiện các giải pháp chính sách hổ trợ việc làm thì cũng có nhiều hạn chế,
chưa đạt kết quả tốt, vì:
+ Các cơ quan chức năng ở địa phương trước ,sau tái định cư và các Trung tâm tư vấn,
giới thiệu việc làm chưa thực hiện được việc tư vấn nghề nghiệp – việc làm cho người dân.
Thông tin hướng nghiệp, thị trường lao động không được chuyển tải đầy đủ, người dân không
biết định hướng nghề nghiệp, học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp nào là phù hợp nơi ở mới, phù
hợp với năng lực sở trường.
+ Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề không phù hợp với việc làm và không
thể đáp ứng đầy đủ các ngành nghề đa dạng của thị trường lao động nơi ở mới , đồng thời do
trình độ hạn chế người dân khó tiếp cận học nghề ở các trường chính quy mà thường học nghề
trong các cơ sở sản xuất, dịch vụ nên khó vào làm việc trong các doanh nghiệp ở các KCX –
KCN, các ngành công nghiệp, các ngành kinh tế , dịch vụ cần lao động lành nghề, cần kỹ năng
làm việc, tác phong công nghiệp.
+ Chính sách hổ trợ học nghề cho người dân tái định cư trước đây ( 1 triệu
đồng/người/lượt ) không đủ trang trải trong thời gian học nghề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status