LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực, và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cám ơn. Các thông
tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thu Huyền
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân. Trước hết tôi xin chân thành cám ơn
các giảng viên khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học trường Đại học Kinh tế và
Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là sự hướng dẫn của GS.TS
Bùi Minh Vũ trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng
chí lãnh đạo UBND huyện Thanh Sơn,lãnh đạo và chuyên viên Chi Cục Thuế
huyện, Chi Cục Thống kê huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài
nguyên và Môi Trường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Thanh Sơn đã góp ý
và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Thanh
Sơn, lãnh đạo và chuyên viên các phòng, ban trong huyện cùng các đồng
nghiệp tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận
văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thu Huyền
MỤC LỤC
Trang
i
ii
iii
iv
v
vi
1
1
3
3
4
4
6
7
8
8
8
11
14
20
22
25
26
27
30
41
3.2.2.2. Công tác thu ngân sách
3.2.2.3. Công tác chi ngân sách
41
41
41
42
43
43
43
44
44
44
45
45
49
49
49
52
55
56
60
60
60
64
65
66
66
67
68
70
71
72
74
75
77
79
79
80
81
81
83
85
87
88
90
90
91
92
94
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2011
Bảng 3.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội của huyện từ 2009-2011
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp qua các năm 2009, 2010,
2011
Bảng 3.4. Tình hình thu ngân sách trên địa bàn huyện giai đoạn 20092011
Bảng 3.5. Tình hình chi ngân sách trên địa bàn huyện giai đoạn 20092011
bên cạnh đó còn giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công
bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động xã hội. Chính từ vai trò đó và
trong điều kiện đất nước ta hiện nay đang tích cực phấn đấu không còn là
nước kém phát triển trở thành một nước công nghiệp. Với mục tiêu đó và
nguồn lực cho sự phát triển của Việt Nam là có hạn nên yêu cầu huy động
mọi nguồn lực và sử dụng hiệu quả là hết sức cần thiết đây chính là mục tiêu
nâng cao hiệu quả quản lý NSNN; NSNN là một thể thống nhất nên yêu cầu
nâng cao hiệu quả quản lý NSNN không chỉ là ở cấp quốc gia mà các địa
phương phải thực hiện. Để thực hiện được điều đó, trước hết cần phải nhận
thức đúng vấn đề lý luận về ngân sách Nhà nước, từng bước đổi mới phương
thức quản lý NSNN phù hợp. Ngày 7/11/2001 Việt Nam chính thức là thành
viên thứ 150 của tổ chức quốc tế WTO – là điều kiện thuận lợi cho chúng ta
đón nhận nguồn tài chính của các tổ chức tài chính trên thế giới, song phải
quản lý, sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy nội lực
kết hợp huy động nguồn lực bên ngoài đảm bảo nên tài chính quốc gia.
Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN nhằm làm cho NSNN thực sự là
công cụ của Nhà nước, sử dụng nó để thực hiện tốt hơn, hiệu quả cao hơn
trong huy động và phân bổ các nguồn lực của xã hội thuộc phạm vi NSNN.
Yêu cầu trên đối với huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ là hết sức cần thiết, bởi
vì là một huyện nông nghiệp, quy mô kinh tế nhỏ tăng truởng kinh tế chưa
cao, khả năng tích luỹ thấp, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn.
Thời gian qua, quản lý NSNN của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
từng bước đổi mới, hoàn thiện, nhiều chính sách tài chính góp phần kích thích
tăng trưởng kinh tế, thu và chi ngân sách đều không ngừng tăng qua các năm
góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống xã hội. Tuy vậy, vẫn còn một
vài hạn chế và trong giai đoạn mới cần phải khắc phục và hoàn thiện, tập
trung vào nội dung: phân cấp ngân sách, lập dự toán ngân sách, trong đó phân
bổ vốn đầu tư và chi thường xuyên, từng bước đổi mới công tác lập dự toán
2008
179.446
14.138
165.308
2009
241.196
18.045
223.151
2010
2011
257.448
384.398
36.813
36.791
220.635
347.607
thì vấn đề hiệu quả quản lý ngân sách được đặt lên là yếu tố vô cùng
quan trọng trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp như ngày nay..
của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ..
4. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập thông tin:
- Thu thập thông tin thứ cấp được chọn lọc và tổng hợp từ các tài liệu
Luật ngân sách nhà nước năm 2002; Các Nghị định hướng dẫn thực hiện luật
ngân sách năm 2002; Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội
huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2008-2020 của UBND huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm 2006-2010 của
UBND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Báo cáo quyết toán ngân sách nhà
nước huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ các năm 2009, 2010, 2011. Các số liệu
về kinh tế xã hội trong niên giám thống kê huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
của Chi Cục Thống kê huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ các năm 2009, 2010,
2011; Giáo trình lý thuyết tài chính- Học viện tài chính năm 2003, Thông tin
từ các Trang Web báo điện tử của Bộ Tài chính, các tỉnh, thành phố trên toàn
quốc.
- Thu thập thông tin: sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những
người có trách nhiệm các phòng, ban ngành của huyện, địa phương nghiên
cứu, các ý kiến trao đổi của các lãnh đạo, chuyên viên phòng Tài chính – Kế
hoạch, Chi cục Thuế và lấy số liệu trực tiếp từ các báo cáo của huyện.
- Thể hiện thông tin: Phương pháp thể hiện thông tin chủ yếu thông
qua các sơ đồ, bảng biểu và biểu thức toán học.
* Phương pháp phân tích đánh giá
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các chỉ số để phân tích, đánh
giá mức độ biến động và mối quan hệ giữa các hiện tượng.
- Phương pháp thống kê so sánh: Nhằm so sánh, đánh giá và kết
luận về tình hình quản lý ngân sách trên địa bàn huyện.
- Phương pháp đối chiếu: Để đánh giá thực trạng khó khăn, thuận lợi
từ đó có đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm bốn chương
Chương 1: Các luận cứ khoa học về ngân sách nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
ngân sách nhà nước huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
CHƯƠNG 1
CÁC LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Ngân sách Nhà nước, ngân sách cấp huyện
1.1.1.1. Ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước
* Khái niệm: Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn
liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của
kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của
kinh tế hàng hoá là những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh tồn tại và phát
triển của ngân sách nhà nước. Hai tiền đề nói trên xuất hiện rất sớm trong lịch
sử, những thuật ngữ ngân sách Nhà nước lại xuất hiện muộn hơn, vào buổi
bình minh của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa. Thuật ngữ này chỉ các
khoản thu và các khoản chi của Nhà nước được thể chế hoá bằng phương
pháp luật do cơ quan lập pháp quyết định còn việc điều hành ngân sách nhà
nước trong thực tiễn do cơ quan hành pháp thực hiện. Trong thực tế, vai trò
điều hành ngân sách nhà nước của Chính phủ ta rất lớn nên còn thuật ngữ "
Ngân sách Chính phủ" mà thực ra là nói tới ngân sách nhà nước.
Biểu hiện bên ngoài, ngân sách nhà nước là một bảng dự toán thu chi
bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định thường là một
năm. Chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ ngân sách nhà nước, đồng
mình. Nguồn tài chính này giữ vị trí chủ đạo trong tổng nguồn tài chính của
xã hội và là công cụ để Nhà Nước kiểm soát vĩ mô và cân đối vĩ mô. Từ sự
phân tích biểu hiện bên ngoài và thực chất bên trong của ngân sách nhà nước,
ta có thể đưa ra quan niệm chung về ngân sách nhà nước như sau:
Xét theo hình thức biểu hiện bên ngoài và ở trạng thái tĩnh, ngân sách
nhà nước là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Xét về thực chất và ở trạng thái động, ngân sách nhà nước là kế hoạch
tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính nhà nước,
được Nhà nước sử dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình
thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngân
sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể
trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002, Ngân sách Nhà nước được
đề cập như sau: "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
Nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
Nước". ( Phụ biểu 1.1- Ngân sách nhà nước)
* Hệ thống ngân sách nhà nước: Hệ thống các cấp ngân sách nhà nước
là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau, có mối quan hệ ràng
buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của từng
cấp ngân sách.
Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước luôn gắn liền với việc tổ chức bộ
máy nhà nước và vai trò, vị trí bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước, trên cơ sở hiến pháp, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân
sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Việc hình thành hệ thống
quy định; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực
tiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật; Phần nộp ngân sách theo
quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc
địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; Các khoản
thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyện; Thu bổ
sung từ ngân sách tỉnh; Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng theo quy định.
Nhiệm vụ chi ngân sách
- Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi do địa phương quản lý; Đầu tư và
hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của
Nhà nước theo quy định của pháp luật; Phần chi đầu tư phát triển trong các
chương trình quốc gia do địa phương thực hiện; Các khoản chi đầu tư phát
triển khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội,
văn hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý: Giáo dục phổ
thông, bổ túc văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các
hoạt động giáo dục khác; Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo
nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; Phòng
bệnh, chữa bệnh
và các hoạt động y tế khác; Các trại xã hội, cứu tế xã hội,
cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động khác; Bảo tồn, bảo
tàng, thư viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động văn hoá khác; Phát thanh
truyền hình và các hoạt động thông tin khác; Bồi dưỡng, huấn luyện, huấn
+ Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ
quan địa phương thực hiện.
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.
+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của Pháp luật.
+ Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
Chi chuyển nguồn ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa
phương năm sau.
1.1.2. Quản lý ngân sách cấp huyện
1.1.2.1. Nguyên tắc cơ bản về quản lý ngân sách nhà nước
* Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân
sách nhà nước. Nội dung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải được
ghi đầy đủ vào kế hoạch ngân sách nhà nước, mọi khoản chi phải được vào sổ
và quyết toán rành mạch. Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới
phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài
khoản thu, chi.
Nguyên tắc quản lý này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập
và sử dụng quỹ đen. Điều này có ý nghĩa rằng mọi khoản thu chi của ngân
sách nhà nước đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách để Quốc hội phê chuẩn,
nếu không việc phê chuẩn ngân sách của Quốc hội sẽ không có căn cứ đầy đủ,
không có giá trị.
* Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước bắt nguồn từ
yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước. Biểu hiện cụ thể sức
mạnh vật chất của Nhà nước là thông qua hoạt động thu - chi của ngân sách
nhà nước. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách nhà nước được thể
hiện:
Mọi khoản thu - chi của ngân sách nhà nước phải tuân thủ theo những
trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa
phương.
Nguyên tắc này đòi hỏi: Ngân sách nhà nước được xây dựng rành
mạch, có hệ thống; Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính
xác và phải đưa vào kế hoạch ngân sách; Không được che đậy và bào chữa
đối với ất cả các khoản thu, chi ngân sách nhà nước; Không được phép lập
quỹ đen, ngân sách phụ.
1.1.2.2. Nội dung quản lý ngân sách cấp huyện
* Lập dự toán ngân sách huyện
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng
đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các
chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch.
Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội: Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kế
hoạch phát triển, xã hội. Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu mang tính định hướng.
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng
đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu
cầu của Luật ngân sách nhà nước. Hoạt động ngân sách nhà nước là nội dung
cơ bản của chính sách tài chính. Do vậy, lập ngân sách nhà nước phải thể hiện
được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địa
phương như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố
trí các nội dung chi tiêu. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước hoạt động luôn
phải tuân thủ các yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước, nên ngay từ khâu lập
quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra
của Uỷ ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu
ngân sách tại địa phương; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm
chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy
định khác của Pháp luật.
+ Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách
phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào ngân sách nhà nước.
- Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: Sau khi Uỷ ban nhân dân giao
dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán
chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên
tắc được quy định tại Điểm a khoản 1 điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐCP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ. Dự toán chi thường xuyên giao
cho đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục ngân
sách nhà nước, theo các nhóm mục: Chi thanh toán cá nhân; Chi nghiệp vụ,
chuyên môn; Chi mua sắm, sửa chữa; Các khoản chi khác.
+ Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách huyện (xét theo
lĩnh vực chi): Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y
tế, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, văn hoá xã hội; Chi cho các hoạt
động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; Chi cho hoạt động hành chính nhà
nước; Chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội; Chi khác.
Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của ngân sách huyện bao gồm:
Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc
chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước.
+ Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Trên nguyên tắc quản lý
cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở
thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài
liệu thiết kế, dự toán; Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản