1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã
có nhiều chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các thành
phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các huyện lân cận.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện đáng
kể. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội
càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt. Rác thải
sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào
môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn
đến môi trường bị ô nhiễm. Đặc biệt ở các khu đô thị, lượng dân cư tập trung đông
kéo việc thải ra thường xuyên một lượng rất lớn rác thải sinh hoạt mà viêc quản lý
chúng ở nhiều nơi còn yếu kém và gặp khó khăn. Vì vậy nghiên cứu việc quản lý,
xử lý và tái chế rác thải sinh hoạt trong đô thị là một trong những vấn đề đáng
được quan tâm trong quá trình phát triển và xây đựng đô thị.
Hoa Lư là một huyện nằm liền kề với thành phố Ninh Bình. Huyện có đường
giao thông thuận lợi, nên các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được
mở rộng thu hút một lượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác. Thị trấn Thiên
Tôn là trung tâm văn hóa, chính trị của huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Những năm
gần đây, thị trấn đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội, tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, một vấn
đề đang nổi cộm lên ở huyện Hoa Lư hiện nay chính là vấn đề rác thải sinh hoạt.
Rác thải không những chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, đến mỹ quan của thị
trấn, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân nơi đây.
Xuất phát từ thực trang trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp
góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp
quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Thiên Tôn, Huyện Hoa
động phụ của việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ và các chất
kích thích sinh trưởng khác. Mỗi năm, trên thế giới có hàng nghìn hóa chất mới
được đưa vào sử dụng trong khi con người vẫn chưa hiểu biết hết tác động phụ của
chúng đối với hệ sinh vật. Hai là, không xử lý đúng kỹ thuật các chất thải công
nghiệp và sinh hoạt khác của người và súc vật, hoặc các xác sinh vật chết gây ra...
Thách thức thứ hai, đó là vấn đề ô nhiễm nguồn nước. Sự ô nhiễm các nguồn
nước đang có nguy cơ gia tăng do thiếu biện pháp xử lý cần thiết các loại rác thải
sinh hoạt và công nghiệp; do các hóa chất dùng trong nông nghiệp và các nguồn
nhiễm xạ, nhiễm bẩn từ các nguyên vật liệu khác dùng trong sản xuất; ô nhiễm do
các loài thực vật nổi trên mặt nước sinh sôi mạnh làm động vật biển chết hàng loạt
do thiếu ô xy.
Thách thức thứ ba là vấn đề ô nhiễm không khí. Sự phát triển công nghiệp và
đời sống đô thị dựa trên “nền văn minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm
bởi các chất thải khí SO2, NO2, CO, hơi chì, mồ hóng, tro và các chất bụi lơ lửng
khác sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác...Theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giới sống
trong môi trường không khí có mức khí SO2 vượt quá tiêu chuẩn và hơn 1 tỉ người
đang sống trong môi trường có bụi than, bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Thách thức thứ tư là tài nguyên biển đang bị khai thác bừa bãi, rừng bị thu hẹp
dần cùng với sự gia tăng đất bị sa mạc hóa. Biển càng ngày càng trở thành cái
thùng rác lớn nhất của quả đất nên ngày càng bị ô nhiễm nặng. Thêm vào đó là sự
khai thác bừa bãi, mù quáng quá mức cho phép của con người. Hiện nay, trước sức
ép của các vấn đề kinh tế-xã hội, các nước đã và đang đồng loạt tiến quân ra đại
dương nên sự cạn kiệt tài nguyên biển và vấn đề ô nhiễm đang ngày càng trở nên
trầm trọng. Cùng với biển, rừng đang ngày càng bị thu hẹp dần. Tốc độ phá rừng ở
nhiều quốc gia trên thế giới đang ở mức độ chóng mặt. Rừng bị thu hẹp kéo theo
những tai họa khổng lồ mang tính chất toàn cầu như làm biến dạng hệ sinh thái,
tăng nguy cơ khan hiếm nước, thay đổi khí hậu và gia tăng các tai họa thiên
được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng .
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các
trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại,
sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ,
xác động vật, vỏ rau quả v.v…[14].
2.2.2. Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải sinh hoạt
Nguồn gốc
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân
số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và
các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình.
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng.
- Từ các làng nghề ..v..v….
Nhà dân, khu
dân cư.
Cơ quan
trường học
Nơi vui chơi,
giải trí
Chợ, bến xe,
nhà ga
thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con người, động vật và gây
nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt
động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.
Thành phần của rác thải
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất
tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường thành phần
của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, catton, vải vụn,
sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá, gạch vụn…
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000
(tính theo % trọng lượng)
Thành phần
Hà Nội
Chất hữu cơ
Cao su, nhựa
Giấy, catton, giẻ vụn
53,00
9,15
1,48
3,40
Kim loại
Thủy tinh, gốm, sứ
Đất, đá,cát, gạch vụn
Độ trơ
Độ ẩm
0,4
2,70
0,63
0,7
1,85
3,7
30,27
32,13
35,3
38,87
15,9
13,17
17,15
10,9
11,0
47,7
45,0
44,23
49,0
46,0
0,42
0,43
0,45
0,50
0,50
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)
2.2.3 Một số tính chất của rác thải sinh hoạt
Tính chất lý học
của các thành phần hữu cơ; sự hình thành mùi; sự sinh sản ruồi, muỗi.
- Khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần hữu cơ:
Rác thải sinh hoạt chứa hàm lượng thành phần hữu cơ, nhất là các thành
phần dễ phân huỷ sinh học dưới tác dụng của các loài vi sinh vật như thực phẩm,
rác từ vườn ...
- Sự hình thành mùi:
Mùi sinh ra khi tồn trữ rác thải trong thời gian dài giữa các khâu gom, trung
chuyển và thải ra bãi rác nhất là ở những vùng có khí hậu nóng do quá trình phân huỷ
kỵ khí của các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ trong rác thải sinh hoạt.
- Sự sinh sản ruồi, muỗi:
Vào mùa hè cũng như tất các mùa ở những vùng có khí hậu ấm áp, sự sinh
sản ruồi muỗi ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm.
2.2.4 Tác hại của rác thải sinh hoạt
Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất
+ Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu
giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,
hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ
cấu đât, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị
đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
- Môi trường nước
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ
theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ,
sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây
mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều
rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan
Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu
gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên…
đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ
quan đường phố, thôn xóm.
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân
chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường và mương rãnh vẫn
còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu
gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
2.2.5 Hiện trạng rác thải sinh hoạt tại các đô thị ở Việt Nam
Theo thống kê năm 2007, lượng RTSH phát sinh trong cả nước khoảng 17 triệu
tấn, trong đó vùng đô thị chiếm 24% dân số thải ra 6,5 triệu tấn (chiếm 38%
tổng lượng RTSH cả nước).
Tỉ lệ thu gom phổ biến ở mức 70% dao động từ mức thấp nhất là 45% ở Long
An đến mức cao nhất là 95% ở thành phố Huế, phổ biến 70%
Công nghệ xử lý chủ yếu vẫn là chôn lấp, chiếm 95%. Một số địa phương đã áp
dụng công nghệ tái chế và ủ phân compost như: Cầu Diễn – Hà Nội (ủ đống tĩnh có
thổi khí…), Thủy Phương – Huế (ASC), Đông Vinh – Nghệ An (Seraphin), Hóc
Môn – TP. Hồ Chí Minh (Dano System), Sơn Tây – Hà Nội (Seraphin) Hải Phòng
(công nghệ ướt)… Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu cần phải có một đánh giá chuyên
sâu hơn, vì gần đây các phương tiện truyền thông phản ánh ô nhiễm môi trường tại
nhà máy rác Sơn Tây, Thủy Phương…
Quá trình đô thị hóa kéo theo lượng RTSH tại các đô thị và khu công nghiệp ngày
càng nhiều với thành phần phức tạp, ở các đô thị nước ta tăng trung bình mỗi năm
khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát
triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh
Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá
Đặc biệt
2
Loại I
3
Loại II
4
Loại III
5
Loại IV
Tổng cộng
0,84
0,96
0,72
0,73
0,65
8.000
1.885
3.433
3.738
626
2.920.000
688.025
1.253.045
1.364.370
228.490
6.453.930
0,73kg/người/ngày (bảng 2.4).
Bảng 2.4. Lượng RTSH đô thị theo vùng địa lý
ở Việt Nam đầu năm 2007
STT Đơn vị hành chính
Lượng RTSH đô thị
Lượng RTSH
phát sinh
bình quân
(kg/người/ngày) Tấn/ngày
Tấn/năm
1
ĐB sông Hồng
2
Đông Bắc
3
Tây Bắc
4
Bắc Trung Bộ
5
Duyên hải Nam Trung Bộ
6
Tây Nguyên
7
Đông Nam Bộ
8
ĐB sông Cửu Long
Tổng cộng
Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng
phát sinh RTSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao
(10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng phát sinh RTSH tại
các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm
(năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4
triệu tấn/năm). Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ TN&MT cho biết, đến năm 2015,
khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn
tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay. Như vậy,
với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng và các công nghệ
hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiện Việt Nam mật độ dân
số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãi chôn lấp khó khăn, không đảm
bảo môi trường và không tận dụng được nguồn tài nguyên từ rác thải. Việc áp
dụng các công nghệ mới hạn chế chôn lấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất,
đảm bảo môi trường và tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách.
2.3. Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam và trên thế giới.
2.3.1 Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
a,Phương pháp ủ yếm khí (biogas).
Phương pháp ủ yếm khí (biogas) là phương pháp đã sử dụng từ lâu ở các nước
phát triển thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong vài chục năm gần đây với
mục đích giới hạn ở vùng quê làm chất đốt và thắp sáng. Gần đây công nghệ này càng
được hoàn thiện và chuyển hướng sang sử dụng các loại nguyên liệu là rác thải nông,
công nghiệp và rác thải sinh hoạt để sản xuất khí sinh học, đa dạng hoá nguồn năng
lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường .
- Cơ sở khoa học:
Cơ sở của phương pháp này là nhờ sự hoạt động của các vi sinh vật mà các
hợp chất khó tan như: xenluloza, lignin, hemixenluloza, và các hợp chất cao phân tử
khác được chuyển thành chất dễ tan. Quá trình này xảy ra trong điều kiện kỵ khí nhờ
vai trò của hệ vi sinh vật phân giải xenluloza, lignin là rất quan trọng. Khi sự phân
huỷ các chất hữu cơ với sự có mặt của oxy thì quá trình này được gọi là quá trình
hiếu khí. Trong điều kiện này, vi sinh vật sử dụng oxy để phân huỷ các chất hữu
cơ, đồng hóa cacbon, nitơ, photo, sunfua và các chất dinh dưỡng khác tổng hợp
nên chất nguyên sinh của tế bào .
Vi sinh vật yếm khí phân huỷ các chất hữu cơ không cần oxy chủ yếu là nhóm
vi khuẩn sinh axit. Chúng phân huỷ các chất hữu cơ thành axit, anđehyt. Và nhóm
chuyển trực tiếp các chất thành CH4, NH3, CO2, H2 .
Ngày nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp ủ chất thải làm phân khác
nhau:
- Phương pháp ủ rác thành đống lên men tự nhiên có đảo trộn
- Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có thổi khí.
- Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa.
- Phương pháp lên men trong lò quay.
Ưu điểm:
- Rác hay than bùn không bị bỏ đi mà được tái chế thành sản phẩm phục vụ
cho nông nghiệp.
- Một nhà máy chế biến phân ủ đặt ở trung tâm giảm chi phí vận chuyển so
với việc chôn lấp.
- Dễ dàng thu gom các nguyên liệu tái chế được.
- Có thể xử lý được nước thải mùi cống.
- Các nguyên tắc trong sản xuất ủ từ rác thải đô thị và phế thải nông nghiệp
có thể áp dụng cho xử lý một số rác thải nông nghiệp.
Nhược điểm:
- Vốn và chi phí tương đối lớn.
- Gặp nhiều khó khăn trong tiếp thị sản phẩm.
- Đòi hỏi người vận hành phải được đào tạo với trình độ phù hợp.
- Còn thiếu kinh nghiệm trong vận hành nhà máy hiện đại.
Nhược điểm:
- Vốn và chi phí ban đầu cao.
- Các chất độc hại có thể lẫn trong sản phẩm làm ảnh hưởng đến chất lượng
phân hữu cơ và có thể phải phân vùng cây trồng.
- Hiệu quả kinh tế của nhà máy phụ thuộc vào tạo lập thị trường phân hữu
cơ vi sinh.
Như vậy, có rất nhiều công nghệ xử lý chất thải nói chung, rác thải sinh
hoạt nói riêng, mỗi công nghệ có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.
Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý nào phụ thuộc vào rất nghiều yếu tố đặc biệt
là yếu tố kinh tế - xã hội .
d,Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện [14].
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung thu
gom vào nhà máy. Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải,
các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh,
nhựa… được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ
thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và
tạo thành cac kiện với tỷ số nén rất cao.
Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san
lấp các vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát. Trên diện tích này có
thể sử dụng làm mặt bằng các công trình như: công viên, vườn hoa, các công trình
xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa mặt bằng khu vực xử lý rác.
Kim loại
Rác
thải
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là quá trình phân giải kị khí các
hợp chất hữu cơ trong rác thải. Các chất sẽ bị thối rữa nhờ quá trình phân hủy sinh
học bên trong tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu
cơ, nitơ, các hợp chất amon và các khí như CO2, CH4...
Rác được chở tới bãi bằng xe chuyên dụng, dùng xe ủi san bằng, đầm nén
trên bề mặt và đổ lên một lớp đất. Hàng ngày phun thuốc diệt muỗi, rác vôi
bột...theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm co rác trở nên tơi xốp và thể tích
của bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy thì chuyển sang
bãi mới. Hiện nay, chôn lấp RTSH vẫn được sử dụng đang phất triển nhưng phải
tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về BVMT.
Các bãi chôn lấp rác thải phải được đặt xa khu dân cư, không gần nguồn
nước mặt và nước ngầm. Đáy của các bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ
một lớp chống thấm bằng vải địa chất, ở các bãi chôn rác thải cần thiết phải có hệ
thống thu gom xử lý nước khi thải ra môi trường (MT).
Việc thu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một trong những khả năng
thu hồi kinh phí đầu tư các bãi rác.
Phương pháp này có ưu điểm như: công nghệ đơn giản, chi phí thấp. Song
nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất lớn, không được sự đồng
tình của dân cư xung quanh, tìm kiếm vị trí xây dựng bãi chôn lấp mới là việc làm
rất khơ khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường (ÔNMT) nước, không khí,
gây cháy nổ [14].
b. Đổ rác thành đống ( bãi rác hở)
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu, cho đến
nay phương pháp này vẫn được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới.
Nhưng có những nhược điểm sau:
- Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi chúng ta bắt gặp chúng.
- Đống rác thải là môi trường thuận lợ cho các loài động vật gặm nhấm, các
loài côn trùng, vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở gây nguy hiểm cho con
- Nhiệt phát tán trong quá trình đốt được thu hồi để cung cấp cho các nhà máy
điện, cho các nhà máy hay khu dân cư đô thị.
- Các lò đốt có thể xử lý được các chất thải rắn có chu kỳ phân hủy rất lâu dài
như vỏ xe, đệm cao su, các loại túi bóng, túi nilon…
- Bên cạnh những ưu điểm trên, phương pháp này cũng có những nhược điểm
như: chi phí mấy móc thiết bị cao [12].
d. Chôn rác dưới biển
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc chôn rác dưới biển cũng có nhiều điều
lợi. Ví dụ ở thành phố New York, trước đây chất thải rắn được chở đến các bến
cảng, sau đó chúng được các xà lan đem chôn dưới biển ở độ sâu 100feets, nhằm
tránh tình trạng lướ đánh cá bị vướng mắc. Ngoài ra ở một số thành phố ven biển
khác của Hoa Kỳ người ta còn xây dựng các bãi ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng
các khối gạch bê tông phá vỡ từ các công trình xây dựng, hoặc thậm chí các ôtô
thải bỏ. Làm điều này vừa giải quyết được vấn đề rác thải, đồng thời tạo nên nơi
trú ẩn cho các loài sinh vật biển [12].
e. Chôn rác nhiệt phân
Đây là phương pháp xử lý rác thải tương tự cách làm than hầm, sử dụng
nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong rác, phương pháp này có những
ưu điểm sau:
- Quá trình nhiệt phân là một quá trình kín nên ít tạo ra khí thải ô nhiễm.
- Có thể thu hồi nhiều vật chất sau nhiệt phân. Ví dụ: rác thải đô thị ở Hoa Kỳ
sau khi nhiệt phân có thể thu lại dầu nhẹ, hắc ín và nhựa đường, chất
ammonium sulfate, than, chất lỏng chưa rượu, tất cả các chất kể trên có thể
tái sử dụng làm nguyên liệu.
f. Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996). Công
nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các sản phẩm phục
vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng trong nông nghiệp hữu.
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex
(Nguồn: www.scribd.com/doc/6899000/4PP-xl-rac-thai-ran)
2.4. Thực trạng và giải pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình.
2.4.1. Công tác quản lý
Hiện nay, RTSH của TP Ninh Bình được Công ty MT&DVĐT Ninh Bình
chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển.
Rác thải trên địa bàn TP chưa có biện pháp quản lý riêng tất cả các loại rác
thải được đổ lẫn lộn với nhau.
Phương tiện thu gom, vận chuyển rác thải trong TP bao gồm: xe ép chở rác,
xe đẩy tay.
Hiện tại, lượng RTSH Cty MT&DVĐT thành phố Ninh Bình thu được trung
bình một ngày vào khoảng 135,8 tấn. Trên địa bàn TP có 27 điểm tập kết, trung
chuyển rác thải sinh hoạt. Hầu hết các điểm tập kết, trung chuyển và xử lý chất thải