BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NAM
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN:
LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG,
VIỆC LÀM VÀ THẤT NGHIỆP TRONG
HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA KEYNES
Học viên
: Trần Thị Thùy Trang
Giảng viên hướng dẫn : TS. Lê Kiên Cường
Lớp
: CH17A
MSSV
: 020117150193
Chương 3: Kết luận
TPHCM, 02/2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Thất nghiệp, việc làm luôn là đề tài nan giải của xã hội qua nhiều thời kì, hơn
hết chúng có mối quan hệ mật thiết với thị trường lao động. Vào khoảng những năm
30 của thế kỷ XX thế giới đã trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế vô cũng trầm
trọng, dù bấy giờ đã có những học thuyết được đưa ra trước đó để giải quyết vấn đề
nhưng không thành công. Lúc này nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã cho ra
đời những lý thuyết về việc làm, thất nghiệp và thị trường lao động, đã giúp các
Chính phủ giải quyết được những vấn đề cấp bách trước mắt của nền kinh tế.
Lý thuyết này của ông được coi là một công cụ điều tiết vĩ mô và gần như
chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Keynes. Ngày nay, lý
thuyết này vẫn được nghiên cứu, áp dụng và phát triển để giải quyết các vấn đề kinh
tế vĩ mô của các nước trên thế giới, đặc biệt là nền kinh tế của Việt Nam càng cần
hơn nữa. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm
và thất nghiệp trong học thuyết kinh tế của Keneys” là rất quan trọng và cần thiết.
3
Chương 3: Kết luận
CHƯƠNG 1. SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT CỦA KEYNES
1.1 Tiểu sử của Keynes
John Maynard Keynes (1883-1946) sinh tại Cambirdge (Anh) trong một gia
đình có truyền thống hiếu học. Cha là John Neville Keynes là nhà kinh tế và giáo
dục trường Đại học Cambirdge. Mẹ là Florence Ada, là thị trưởng Cambirdge năm
1932 và là nhà hoạt động cho nữ quyền nổi tiếng tại Anh.
John Maynard Keynes là nhà kinh tế học nổi tiếng, là giáo sư kinh tế học của
Đại học Cambirdge và là nhà lý luận vĩ đại của thế giới. Ông là chuyên gia trong
lĩnh vực tài chính, tiêu dùng và lưu thông tiền tệ.
Cuộc đời của ông đã để lại cho nhân loại nhiều công trình nghiên cứu quý báu,
nhưng nổi bật nhất là “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” xuất bản
năm 1936. Nội dung công trình này đề cập đến vấn đề việc làm và xác định mức độ
không tăng và sản xuất cũng không được phục hồi như các lý thuyết trước đó
và cho rằng các lý thuyết đó đã lỗi thời và không còn phù hợp.
1.2.2 Đặc điểm phương pháp luận của Keynes
Thứ nhất, tiến hành một cuộc Cách mạng về nhận thức với Chủ nghĩa tư bản là
thừa nhận thất nghiệp, khủng hoảng…là khuyết tật của Chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, phân tích nền kinh tế dưới góc độ vĩ mô và có hệ thống: các khoản thu
nhập chung, đầu tư chung, lợi nhuận chung, việc làm chung.
Thứ ba, phủ nhận cơ chế tự điều tiết của trương phái Tân cổ điển, kịch liệt phê
phán lý luận tổng quát của L.Walras. Theo Keynes, tính “tích cực” của nền kinh tế
không đứng yên mà biến động liên tục, đó chính là sự mất cân đối thường xuyên.
SỰ MẤT CÂN ĐỐI THƯỜNG XUYÊN
CUNG > CẦU
5
NHÂN TỐ “TÍCH CỰC” CỦA NỀN KINH TÊ
Chương 3: Kết luận
Sơ đồ 1.1 Nhân tố tích cực của nền kinh tế theo học thuyết Keynes
Nguồn: bài giảng TS.Lê Kiên Cương 2015, chương 3 Keynes, bài giảng môn Các
học thuyết kinh tế hiện đại, trương Đại học Ngân hàng TP.HCM, ngày 21/12/2015
Thứ tư, đề cao vai trò của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế. Ông cho rằng tác
động của Nhà nước là cần thiết trong việc điều tiết nền kinh tế, khác với những
quan điểm của các nhà kinh tế học đi trước.
TÁC ĐỘNGTĂNG NHU CẦU NHA NƯỚCTĂNG
Tác động ở đây là 2 chiều chứ không phải tác động một chiều. Lạm phát cũng là
một cách để phân chia lại thu nhập của xã hội, vì cơ bản lạm phát là sự mất giá của
đồng tiền, mà khi lạm phát thì người càng giàu có thì càng mất nhiều.
Ngoài ra, theo giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế do trường Đại học Kinh
tế Quốc dân xuất bản năm 2013,do PGS.TS Trần Bình Trọng làm chủ biên thì
phương pháp luận của Keynes gồm 3 điểm cơ bản:
“Thứ nhất, Keynes đã đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô (tức là phân tích kinh tế
xuất phát từ những tổng lượng lớn để nghiên cứu mối liên hệ và khuynh hướng của
chúng, nhằm tìm ra công cụ tác động vào khuynh hướng, làm thay đổi tổng lượng).
Đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với 3 đại lượng:
•
Một là, đại lượng xuất phát (bao gồm nguồn vật chất như tư liệu sản xuất, sức lao
động, mức độ trang bị kĩ thuật của sản xuất, trình độ chuyên môn hóa của người lao
động, cơ cấu của chế độ xã hội). Là đại lượng không thay đổi hay thay đổi chậm
chạp.
•
Hai là, đại lượng khả biến độc lập (là những khuynh hướng tâm lý như tiêu dùng,
đầu tư, ưa chuộng tiền mặt...). Là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy bảo đảm
sự hoạt động của tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa.
•
Ba là, đại lượng khả biến phụ thuộc (là các chỉ tiêu quan trọng cấu thành nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa, cụ thể hóa tính trạng nền kinh tế như: khối lượng việc làm, thu
nhập quốc dân, đơn vị tiền công) có sự thay đổi theo sự tác động của các biến số
độc lập.
Mối liên hệ giữa đại lượng khả biến độc lập và đại lượng khả biến phụ thuộc:
8
Chương 3: Kết luận
nền kinh tế. Học thuyết này đề cập đến các vấn đề như sản xuất hàng hóa, tiền
lương, lợi nhuận và lợi tức, về sự điều tiết của thị trường, về sự can thiệp tối
thiểu của nhà nước trong nền kinh tế.
Tác giả Phạm Đức Chính (2005) đã tổng kết được rằng “Các nhà kinh tế cổ
điển đặt ra rằng hệ thống thị trường tạo điều kiện đảm bảo sử dụng đầy đủ nguồn
lực, trong số đó có nguồn lực sức lao động”. Trường phái cổ điển khẳng định nền
kinh tế thị trường phải đảm bảo được việc làm đầy đủ, không được để tình
trạng thất nghiệp trong xã hội và nền kinh tế thị trường sẽ tự điều tiết nên sự
can thiệp của nhà nước sẽ là dư thừa và có thể gây ra những hậu quả không
tốt.
2.1.2 Lý thuyết của trường phái tân tân cổ điển
Trường phái tân cổ điển được nhen nhóm vào những năm cuối thế kỷ XIX và
Alfred Marshall (1842-1924) được xem là người sáng lập. Ông cho rằng việc điều
tiết cung cầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo việc làm cho xã hội.
Trong quyển “Những nguyên tắc của khoa học kinh tế” (1993) A. Marshall đã viết
“Khi cung và cầu ở trong tình trạng cân bằng bền vững, thì trong trường hợp, nếu
khối lượng sản xuất nào đó được dịch chuyển khỏi trạng thái cân bằng của nó, các
sức mạnh nhanh chóng bắt đầu hoạt động thúc đẩy nó quay trở lại vị trí trước đây,
cũng chính xác như khi hòn đá treo trên sợi dây di chuyển khỏi trạng thái cân bằng,
nó sẽ lao nhanh trở lại vị trí cân bằng của mình”. Ông cho rằng nền kinh tế thị
trường sẽ tự điều tiết nền kinh tế và không xem trọng sự cần thiết của nhà
nước trong việc điều tiết thị trường, về luận điểm này thì giống với luận điểm
của các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển là A.Smith và D. Ricardo.
Năm 1933, tác giả Arthur Pigou (1877-1955) là người đã kế tục và phát triển
các học thuyết của A. Marshall đã công bố công trình “Lý thuyết thất nghiệp”. Ông
9
Chương 3: Kết luận
dư nên họ quan tâm tới việc làm sao để giá thành sản phẩm của họ thấp hơn so
với giá mặt bằng chung. Đòi hỏi phải nâng cao và đầu tư vào máy móc, ky
thuật hiện đại, tăng chí phí cho giá trị tư liệu sản xuất. Mà máy móc hiện đại sẽ
làm giảm nhu cầu thuê công nhân của các ông chủ tư bản, làm cho việc làm bị
giảm, thất nghiệp tăng lên.
Một nhân tố đóng góp vai trò quan trọng không kém là luật dân số, K.Marx
cho rằng giai cấp công nhân là người tạo ra sự tích lũy tư bản, nhưng người
tạo ra các công cụ khoa học ky thuật tân tiến hiện đại thay cho sức lao động
con người cũng chính là giai cấp công nhân, chính họ đã tạo ra máy móc và sau
đó là chính họ cũng bị thay thế bởi máy móc, biến mình trở thành người thất
nghiệp.
2.2 Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp của Keynes
2.2.1 Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết việc làm của Keynes
2.2.1.1 Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn
Là khuynh hướng tiêu dùng cá nhân, nó phụ thuộc vào thu nhập. Ông cho rằng tâm
lý tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố khách quan và chủ quan. Ông viết rằng
“Quy luật tâm lý thông thường của chúng ta là khi thu nhập thực tế của cộng đồng
tăng hay giảm, thì tiêu dùng của cộng đồng sẽ tăng hay giảm nhưng không nhanh
bằng. Khuynh hướng cá nhân phân chia phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng theo
tỷ lệ ngày càng giảm dần. Đây là quy luật tâm lý của mọi cộng đồng tiêu tiền, nó là
nguyên nhân của sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng dẫn đến sản xuất trì trệ, khủng
hoảng kinh tế và thất nghiệp”.
Theo Keynes, khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là một tương quan hàm số giữa thu
nhập và chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập đó: C = X(R)
11
Biểu thị khuynh hướng tiêu dùng giới hạn = dC /dR
Trong đó: C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập
dC là gia tăng tiêu dùng
12
Chương 3: Kết luận
R là Thu nhập
dR là gia tăng thu nhập
2.2.1.2 Hiệu quả của giới hạn tư bản
PGS.TS Trần Bình Trọng (2013) đã viết rằng “Theo Keynes, mục đích của các
doanh nhân khi đầu tư là bán có “thu hoạch tương lai”. Đó là chênh lệch giữa số
tiền bán hàng với phí tổn cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Tương quan giữa
“thu hoạch tương lai” và phí tổn cần thiết để sản xuất hàng hóa đó gọi là hiệu quả
của tư bản. Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư thì hiệu quả của tư bản giảm dần và
Keynes gọi đó là hiệu quả giới hạn của tư bản.
Có hai nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là:
Thứ nhất, đầu tư tăng làm cho khối lượng hàng hóa tăng dẫn đến giá cả hàng hóa
sản xuất thêm giảm.
Thứ hai, cung về hàng hóa tăng (sản xuất tăng) làm cho giá cung tổng số tư bản
tăng.
Từ đó làm cho phí tổn sản xuất tăng và “thu hoạch tương lai” giảm vì thế hiệu quả
tư bản giảm, như vậy tăng đầu tư sẽ dẫn đến làm giảm hiệu quả giới hạn của tư bản.
Đường biểu diễn mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư và hiệu quả giới hạn tư bản gọi
là “đường cong đầu tư” hay “đường cong hiệu quả giới hạn của tư bản”.
Oy: hiệu quả giới hạn của tư bản
Ox: vốn đầu tư
13
nói lên mức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầu tư). Cụ thể ta có:
C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập và dC là gia tăng tiêu dùng
R là Thu nhập và dR là gia tăng thu nhập
I là đầu tư và dI là gia tăng đầu tư
S là tiết kiệm và dS là gia tăng tiết kiệm.
Khi đó ta sẽ có công thức sau:
(khuynh hướng tiêu dùng giới hạn) =>
(khuynh hướng tiết kiệm giới hạn) =>
Từ đó công thức tính sự gia tăng sản lượng do đầu tư thêm là:
Q=R=C+I
d Q = d R = K. (dC + dI)
(Q là sản lượng và dQ là sự gia tăng sản lượng)
K là số nhân
Theo Keynes, mỗi sự gia tăng đầu tư kéo theo sự gia tăng cầu về tư liệu sản xuất và
sức lao động, kích thích sản xuất phát triển, tăng thu nhập (tăng sản lượng) và đến
15
Chương 3: Kết luận
lượt nó thu nhập tăng lại làm tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Vì thế số nhân làm
cho thu nhập phóng đại lên nhiều lần.
2.2.2 Lý thuyết về thị trường lao động
Thị trường lao động đóng một ảnh hưởng rất lớn đến lượng việc làm và thất
nghiệp trong xã hội.
Theo kinh tế học của Keynes trong điều kiện ngắn hạn, người lao động sẽ
có ít khả năng tìm được việc làm, nên họ sẽ chấp nhận làm việc với mức lương
không tương xứng với công sức bỏ ra. Do đó, trong ngắn hạn, lượng lao động
cân bằng là lượng do người chủ tư bản quy định, hay nói cách khác thì lượng
cung lao động không phụ thuộc vào mức tiền lương thực tế họ được nhận, do
Qua phân tích này có thể thấy được, động thái tăng lương của các doanh
nghiệp là hướng đi đúng đắn theo quy luật của Keynes như đã nói ở trên, là
một ví dụ minh chứng cho sự tự điều tiết của thị trường lao động.
2.2.3 Lý thuyết về việc làm và thất nghiệp của Keynes
Một trong những lý thuyết mang tính chất chủ chốt của Keynes là “Lý
thuyết việc làm” và “Lý thuyết thất nghiệp”. Vì việc làm và thất nghiệp có mối
liên hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. Theo Keynes, vấn đề quan trọng nhất
mà chủ nghĩa tư bản cần giải quyết chính là khối lượng thất nghiệp và việc
làm. Lý thuyết này đã mở ra một con đường, hướng đi mới cho nền kinh tế học
của thế giới và giúp giải quyết được những khó khăn mà các Chính phủ thời
bấy giờ đang gặp phải và được vận dụng cho đến ngày nay.
Đầu tiên, học thuyết của Keynes đã giải quyết được tình trạng thất nghiệp
là một đột phá trong kinh tế học thời bấy giờ. Trường phái kinh tế học cổ điển
cho rằng thị trường tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động là thị
17
Chương 3: Kết luận
trường ổn định. Tuy nhiên, Keynes đã đưa ra một giả định khác là thu nhập
của người lao động và giá cả có mối liên hệ với nhau. Có nghĩa là nền kinh tế
luôn ở trong tình trạng mất cân đối thường xuyên để cố gắng cân bằng giữa
mức lương người lao động mong muốn và mức lương các ông chủ chấp nhận
trả cho người lao động. Nếu tỷ lệ thất nghiệp giảm thì nguồn cung lao động sẽ
giảm do số lượng người đi tìm việc ít, nên các doanh nghiệp muốn mở rộng quy
mô sản xuất sẽ gặp khó khăn trong việc tìm người làm thuê, dẫn đến tiền lương
sẽ tăng lên. Đến một mức nào đó, ông chủ các doanh nghiệp sẽ không thể trả
hoặc không chấp nhận trả mức lương mà người laoi động đòi hỏi, họ sẽ không
tuyển thêm nhân sự nữa.
Tiền lương được đề cập ở đây bao gồm tiền lương thực tế và tiền lương danh
nghĩa. Tiền lương thực tế có tính đến yếu tố lạm phát, nhưng tiền lương danh
trạng này là do khuynh hướng tiết kiệm ngày càng gia tăng, nó mang tính chất tâm
lý, biểu hiện trong từng cá nhân, tổ chức xã hội và ngay cả trong các doanh nghiệp.
Khuynh hướng tiết kiệm được biểu hiện là khi sản xuất tăng lên thì thu nhập tăng
lên, thu nhập chia làm hai bộ phận là tiêu dùng và tiết kiệm (để dự phòng cho tương
lai). Khi thu nhập tăng thì bộ phận tiêu dùng có thể tăng tuyệt đối và giảm tương
đối. Khuynh hướng tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân làm cho cầu tiêu dùng cá nhân
tăng chậm hơn là cung. Cầu đầu tư cũng có khả năng tăng chậm hơn do cầu tiêu
dùng tăng chậm, lãi suất ngân hàng thường cố định ở mức tương đối cao trong khi
tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút, vì thế tổng cầu giảm sút so với tổng cung.
Tuy nhiên, trong thời đại của J.M. Keynes đã có thay đổi lớn trong tính chất và vai
trò của cầu, giá cả không còn là cơ chế lý tưởng xác lập cân bằng giữa cung và cầu.
Cầu luôn luôn tụt lại so với cung do người ta có xu hướng “muốn tiêu dùng một
19
Chương 3: Kết luận
phần thu nhập ít hơn dần khi thu nhập thực tế tăng”. Do đó phát sinh “cầu bị gác
lại”, cung trở nên thừa và điều này tạo điều kiện giảm đầu tư vào sản xuất, tức là
thất nghiệp và khủng hoảng xuất hiện”.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trương, khi các nhà tư bản tăng quy mô
đầu tư thì giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng bị giảm sút, thu nhập của
các nhà tư bản dự kiến sẽ đầu tư trong tương lai sẽ bị giới hạn bởi một khoảng
rất chật hẹp. Bất kì một nhà đầu tư nào cũng muốn có lợi nhuận ngày càng lớn
hơn, nên họ sẽ rất cân nhắc khi quyết định đầu tư, đặc biệt họ sẽ sẵn sàng đầu
tư để mở rộng quy mô khi nhận thấy hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi
suất. Còn ngược lại, nếu giới hạn của tư bản không lớn hơn lãi suất họ sẽ
không đầu tư, do đó, quy mô sản xuất sẽ không được mở rộng, số lượng việc
làm bị giảm đi là điều tất yếu, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên.
Keynes cho rằng, muốn nền kinh tế ổn định, nhất là vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia thì phải tăng tổng
trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho khu vực thành thị và một số trung
tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra
thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng. Điều này có thể làm suy giảm việc
làm và sản lượng quốc dân của cả nước”
Tóm lại, lý thuyết thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp của Keynes đã
đưa ra đưa ra được giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là phải sử dụng
có hiệu quả đối với nguồn nhân lực, vì việc làm và thất nghiệp là hai vấn đề
không chỉ liên quan đến thu nhập của cá nhân, cầu tiêu dùng mà còn liên quan
đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế.
21
Chương 3: Kết luận
Trong lý thuyết này, Keynes cho rằng muốn khắc phục tình trạng khủng
hoảng kinh tế, xây dựng nền kinh tế ổn định, tạo thêm được nhiều việc làm,
kích thích đầu tư tư nhân thì cần mở rộng đầu tư của các chủ thể trong nền
kinh tế.
Vai trò kinh tế của Nhà nước được Keynes rất coi trọng, muốn giải quyết được
số lượng việc làm và tình trạng thất nghiệp thì không thể thả cơ chế thị trường
tự do, mà Nhà nước phải thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường.
Ngày nay, nhiều Chính phủ vẫn sử dụng các ý tưởng của lý thuyết này để làm
hạn chế những chu kỳ bùng nổ và phá sản của nền kinh tế; các nhà kinh tế kết
hợp các nguyên tắc của Keynes với kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ để xác
tìm ra các phương pháp giải quyết cho những vấn đề nan giải của nền kinh tế
thế giới.
CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG,
LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP CỦA KEYNES.
3.1 Đánh giá chung
Trong thời kỳ những năm 50-60 của thế kỷ XX, học thuyết kinh tế của
Chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề mang tính chất ngắn hạn như thất
nghiệp, lạm phát mà không chú trọng giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế dài
hạn.
3.2 Kết luận
Qua bài nghiên cứu, có thể nhận thấy được những đóng góp của học thuyết
Keynes đối với nền tri thức của nhân loại về lĩnh vực kinh tế học.
Các lý thuyết về thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp của Keynes đã
giúp thay đổi nhận thức đối với chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng thất nghiệp và
khủng hoảng kinh tế là khuyết điểm của chủ nghĩa tư bản.
Ông đã phê phán quan điểm của các lý thuyết kinh tế học truyền thống trước
đó, xây dựng hệ thống lý luận mới, đưa ra thuyết Nhà nước can thiệp vào kinh
tế thay cho thuyết tự do kinh doanh. Keynes phủ định chính sách kinh tế tự do
thả nổi, không cần sự can thiệp của Nhà nước mà chủ nghĩa tư bản đang áp
dụng.
Phương pháp phân tích vĩ mô hiện đại là một trong những đặc điểm nổi bật
của học thuyết Keynes, phương pháp này tập trung nghiên cứu các hoạt động
23
Chương 3: Kết luận
tổng quát của nền kinh tế như: tổng cầu, tổng cung, tổng việc làm, tổng thu
nhập…tìm ra mối liên hệ giữa chúng để đưa ra được những cái nhìn tổng quan
hơn về một nền kinh tế.
PGS.TS Trần Bình Trọng (2013) đã từng nhận xét “Cuộc cách mạng của Keynes đáp
ứng yêu cầu thực tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền, thoát ra khỏi lý luận truyền
thống lấy tự do thả nổi làm nội dung phân tích sự cân bằng, xây dụng học thuyết
kinh tế mới mà tư tưởng trung tâm của nó là sự can thiệp của chính phủ vào kinh
tế mới và tìm mọi biện pháp nâng cao tổng cầu để giải quyết việc làm nhằm giúp
chủ nghĩa tư bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tránh khỏi sự sụp đổ hoàn toàn.
Tuy nhiên, việc can thiệp của chính phủ vào kinh tế nên tránh lạm dụng những can
dụng
vào
thực
tiễn
Việt
Nam,
truy
cập
tại
< />%20maynard%20keynes.pdf> [ ngày truy cập: 18/02/2016]
Phạm Đức Chính 2005a, “Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp
trong các học thuyết kinh tế”, Nghiên cứu kinh tế, số 327, tháng 8/2005
Phạm Đức Chính 2005b, “Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp
trong các học thuyết kinh tế”, Nghiên cứu kinh tế, số 328, tháng 9/2005
Trần Bình Trọng làm chủ biên 2013, Giáo trình Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế,
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân xuất bản
Trần Thị Ái Đức 2012, Tìm hiểu một số lý thuyết hiện đại về tạo việc làm, truy cập
tại < [ truy cập ngày:
18/02/2016]
25