Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
chơng I
KháI quát chung về thị trờng bảo hiểm
I. sự RA Đời Và Phát Triển Của Bảo Hiềm.
l. Nguồn gốc ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế giới.
Bất cứ ngành nghề nào đều ra đời từ nhu cầu đòi hỏi khách quan trong
những điều kiện nhất định.
Cho đến nay, cha ai có thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo hiểm
bắt đầu từ bao giờ, nhng mọi ngời công nhận các hoạt động sơ khai, mang
tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc
sống con ngời ở mọi nơi, mọi lúc trớc những rủi ro trong cuộc sống. Cùng với
sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về
quy mô, mức độ và thời hạn. Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu ấy
cũng phát triển một cách tơng ứng. Các hoạt động này dần dần đợc quy định
lại một cách chính thức, hợp pháp theo các tiêu chuẩn khác nhau và có tên gọi
chung là bảo hiểm.
Những nghiên cứu về lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm cho
thấy hoạt động bảo hiểm trong quá trình phát triển đã trải qua 3 hình thái: dự
trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc
trách nhiệm các bên.
1.l. Dự trữ thuần túy.
Những bằng chứng lịch sử cho thấy từ rất xa xa cho đến nay con ngời
đã ý thức đợc việc tự bảo vệ để tồn tại, trong đó vấn đề đầu tiên là dự trữ thức
ăn kiếm đợc hàng ngày phòng khi đói kém.
Ví dụ: vào những năm 2.500 trớc công nguyên (TCN) - hơn 4.000 năm
trớc đây, ở Ai Cập những ngời thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn
nhân của các vụ tai nạn.
1.2. Cho vay nặng lãi.
Hệ thống cho vay phát triển cùng với sự mở rộng thơng mại và buôn
bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu lục. Dấu ấn đáng chú ý là: hệ thống
vay mợn lãi suất cao để mua và vận chuyển hàng hóa ở Babylon (khoảng
Một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định,
nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến đợc nơi giao hàng do một số nguyên
nhân nhất định thì bên thứ hai (Ngời bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một khoản
tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Nh vậy, có thể coi bảo hiểm
hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất
còn lu lại đợc phát hành tại thành phố cảng Genoa - Italia, vào năm 1347. Sau
đó, cùng với cuộc cách mạng thơng mại vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy sự mở rộng
vận tải hàng hải, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội xoài ngời. Hoạt động này đã đáp ứng đợc những nhu cầu cấp thiết về an
2
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
toàn của con ngời trong cuộc sông và sinh hoạt. Bảo hiểm hàng hải là loại bảo
hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm. Sau đó, lần lợt là bảo hiểm
hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác.[8]
b1. Bảo hiểm hỏa hoạn:
Vụ cháy lớn ở Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 tòa nhà, là thảm
họa lớn nhất từ trớc cho đến thời điểm đó. Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài sản
trớc rủi ro cháy dẫn tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực hỏa
hoạn. Năm 1667, công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nớc Anh. [8]
b2. Bảo hiểm nhân thọ:
Công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu
tiên đợc thành lập ở Anh vào năm 1762. Có thể nói rằng nớc Anh là chiếc nôi
của ngành dịch vụ bảo hiểm thế giới. Cho đến ngày nay, đây vẫn là trung tâm
của các hoạt động bảo hiểm.
b3. Các loại bảo hiểm khác.
Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp
cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh:
bảo hiểm ô ô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ngày nay, bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã
Phí bảo hiểm nhân thọ theo bình quân đầu ngời 977.256
Phí bảo hiểm phi nhân thọ theo bình quân đầu ngời 492 ECU
Tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ theo BQ đầu ngời 659 ECU
Tỉ lệ: phí bảo hiểm/ Tổng sản phẩm quốc dân 6,9%
Đầu t của các công ty bảo hiểm 2.585.506 triệu ECU
Tỉ lệ: đầu t tài chính/ Tổng sản phẩm quốc dân 37,05% 37,05%
Phí bảo hiểm bình quân mỗi công ty 92 triệu ECU
Số lợng nhân viên trung bình mỗi công ty 184
(Nguồn: Giáo khoa Quốc tế về Bảo hiểm)
Năm 1999, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm Châu Âu tăng
gần 7%, trong đó 5,9% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và 7,5% là bảo
hiểm nhân thọ. Mặc dù bị giảm so với những năm trớc, nhng việc này vẫn
khẳng định xu hớng tăng đợc duy trì từ nhiều năm nay.
- Doanh thu bảo hiểm Châu Âu tăng nhanh hơn Tổng sản phẩm quốc
nội một cách rõ rệt, năm 1980 chiếm 4% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) lên
tới 6,9% năm 1999
- Ngành bảo hiểm Nhân thọ tăng nhanh hơn ngành bảo hiểm Thiệt hại,
gán đạt đến sự chín muồi, trừ ở các nớc Nam Âu nơi mà nhu cầu còn rất lớn.
Trong 15 năm gần đây, bảo hiểm Nhân thọ đã tăng nhanh hơn GDP 2,5 lần,
4
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
điều này thể hiện một phần tiết kiệm của các hộ gia đình chuyển hớng sang
sản phẩm bảo hiểm và nỗi lo lắng của một phần công chúng về tơng lai của
các chế độ bảo hiểm và hu trí của Nhà nớc.
Phần lớn các tập đoàn bảo hiểm Châu Âu hoạt động mạnh ở nớc ngoài
và đã trở thành những công ty đa quốc gia thực sự. Trong vòng 30 năm gần
đây, thị trờng bảo hiểm Châu Âu đã có những tiến triển sâu sắc. Không những
chỉ phát triển rất ổn định mà tất cả các luật bảo hiểm quốc gia cũng biến đổi
sâu sắc dới tác động bền bỉ của giới lãnh đạo Liên minh Châu Âu (EU). Thậm
chí những nớc không nằm trong số 15 nớc thành viên của EU cũng hầu nh
năm 1999
(tr. USD)
Tỷ trọng
bảo hiểm
nhân thọ
(%)
Phí bảo
hiểm bình
quân đầu
ngời USD
Tỷ trọng
bảo hiểm
trong GDP
Nhật Bản 637.256 80,1 5.088 12,78
Hàn Quốc 59.989 77,9 1.337 13,16
Đài Loan 14.397 67,7 678 5,53
Trung Quốc (không kể Hồng Kông) 7.368 31,6 6 1,17
ấn Độ 6.026 70,0 6 2,01
Hồng Kông 5.037 60,9 813 3,51
Israel 5.010 45,5 904 5,78
Thái Lan 4.076 47,6 67 2,43
Singapor 3.678 67,2 1.190 4,25
Malaixia 3.651 49,3 181 4,28
Indonesia 2.380 38,8 12 1,40
Phillipines 1.123 43,4 16 1,52
A rập xê út 712 3,7 40 0,57
Các tiểu vơng quốc ả Rập thống nhất 645 12,7 220 1,69
I ran 507 6,9 7 0,48
Pakistan 478 43,3 4 0,81
Cô oét 188 12,5 111 0,71
những năm 90 (Mặc dù bản báo cáo đầu tiên mới công bố gần đây của
Equitas, một cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong kế hoạch xây dựng
lại và cải cách của Lloyd's, chắc là đã làm chấn động toàn thị trờng, bởi lẽ
theo báo cáo đó thì những khiếu nại đòi bồi thờng sẽ phải giải quyết trong t-
ơng lai tỏ ra khác xa một cách nguy hiểm so với dự kiến ban đầu).
Bảo hiểm thế giới đã đợc chứng kiến sự tăng lên cha từng thấy của các
khả năng tài chính mới ở Hoa Kỳ, Bermuda và các nơi khác, đặc biệt là trong
lĩnh vực tái bảo hiểm. Ai nấy đều muốn chia phần và cạnh tranh ác liệt, hông
chỉ làm cho phí bảo hiểm giảm xuống một cách đáng kể, mà còn làm giảm cả
chất lợng sản phẩm bảo hiểm. Trớc tình hình đó, tất cả đều buộc phải tập
trung mọi sức lực bảo vệ công việc làm ăn của mình khỏi bị tấn công, cố gắng
đạt đợc sự tăng trởng và thực hiện đợc các mục tiêu chiến lợc về lợi nhuận tr-
ớc sự hiện diện của một "thị trờng mềm", do đó còn đâu thời gian và cảm
hứng để làm những việc nh: tập trung nghiên cứu để cung cấp những sản
phẩm mới có chất lợng cao nhằm đáp ứng các nhu cầu thay đổi hàng ngày, để
hành động một cách chủ động sáng tạo chứ không phải phản ứng một cách
thụ động; để ngẩng cao đầu và nhìn về tơng lai.
Cũng cần nói thêm rằng ngành bảo hiểm đang trải qua những thay đổi
cực kỳ sâu sắc. Một nhóm các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp đang thực hiện
những thay đổi quan trọng về cơ cấu. Việc sáp nhập và mua lại các hãng môi
giới và các công ty bảo hiểm đang diễn ra trên khắp thế giới. Ngày càng có
nhiều công ty tái bảo hiểm đợc thành lập để cung cấp các giải pháp mới về
bảo hiểm mức vợt trội cho những công ty muốn chọn mức giữ lại cao. Các
giải pháp bảo hiểm trực tiếp không qua trung gian đang trở nên ngày càng phổ
biến.
7
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
Cái mà ngời ta đang tập trung phê phán là ngành bảo hiểm đã tỏ ra
không đủ hiệu quả một cách đáng ngại. Những vấn đề về vai trò tơng lai của
môi giới và của tái bảo hiểm vẫn cha đợc giải đáp mặc dù ngày càng có nhiều
- Theo giáo trình bảo hiểm trờng Đại học Kế toán Hà Nội: Hoạt động
bảo hiểm là việc ngời bảo hiểm nhận trách nhiệm trớc rủi ro, trên cơ sở ngời
tham gia bảo hiểm ký kết hợp đồng, đóng phí bảo hiểm để ngời bảo hiểm bồi
8
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
thờng hoặc trả tiền bảo hiểm theo luật thống kê[9]. Khái niệm này mới chỉ nói
lên đợc quy trình bảo hiểm, mà cha nói lên đợc bản chất của bảo hiểm.
- Giai đoạn ban đầu phát triển của bảo hiểm thì bảo hiểm đã đợc định
nghĩa là : "Bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm ngời có cùng chung một loại
rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép bồi th-
ờng những thiệt hại mà một số ngời trong nhóm phải gánh chịu khi tổn thất
xảy ra [5]. Khái niệm trên cha đầy đủ, không phải bất cứ thiệt hại nào cũng đ-
ợc bồi thờng, mà chỉ một số những tổn thất đã đợc thoả thuận gây ra.
Nữ hoàng Anh Elisabeth đệ nhất đã từng khẳng định: Nhờ có bảo hiểm
"tổn thất sẽ nhẹ đi nếu đợc chia sẻ cho nhiều ngời và sẽ rất nặng nếu để một ít
ngời gánh chịu" [16]. Những ngời có nhà cửa, khi mua bảo hiểm hoả hoạn,
hàng năm đều phải trả một khoản tiền nhỏ (tơng đơng 0,5%o giá trị ngôi nhà)
để những ngời bất hạnh trong số họ, bị mất nơi ở do cháy, nhận đợc một
khoản tiền bồi thờng cho phép tái thiết lại nhà cửa.
- Còn trong giáo trình bảo hiểm - Trờng Đại học Ngoại thơng: Bảo
hiểm là một sự cam kết bồi thờng của Ngời bảo hiểm đối với Ngời đợc bảo
hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tợng bảo hiểm do một số rủi ro đã
thoả thuận gây ra, với điều kiện ngời đợc bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối
tợng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Khái niệm này
khá đầy đủ nhng cha đề cập đến bản chất của hoạt động bảo hiểm. [7]
- Định nghĩa về bảo hiểm do giáo s Hémard (Pháp) đa ra có tính pháp
lý hơn và đầy đủ hơn cả: ''Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là ngời
đợc bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bản hiểm hay đóng góp bảo
hiểm) cho chính mình hoặc cho một ngời thứ ba khác để trong trờng hợp rủi
ro xảy ra sẽ đợc trả một khoản bồi thờng từ một bên khác là ngời bảo hiểm,
Đôn.
- Phân chia rủi ro theo lớp:
Khi một nhà bảo hiểm có khả năng bảo hiểm ở mức thấp hơn so với
toàn bộ số tiền phải bảo hiểm, anh ta có thể đề nghị bảo hiểm cho rủi ro đầu
tiên tơng ứng với mức chấp nhận của anh ta và đề nghị một nhà bảo hiểm
khác bảo hiểm mức còn lại của lớp đầu tiên này. Đối với các tập đoàn có tầm
cỡ quốc tế, có thể quyết định bảo hiểm các lớp thấp ở các nhà bảo hiểm của n-
ớc nơi mà tập đoàn đó hoạt động (điều đó là một quy định bắt buộc của pháp
luật) và có thể quyết định bảo hiểm các tổn thất thảm họa hoặc bảo hiểm các
khoản tiền lớn nhất ờ các nhà bảo hiểm quốc tế đợc chấp nhận hoạt động tại
nớc mà tập đoàn này đặt trụ sở, đôi khi ngời ta gọi hợp đồng cuối cùng này là
một hợp đồng ''cái ô'' (Umbrella Cover).
- Tái bảo hiểm:
Tái bảo hiểm là phơng pháp thứ ba đợc áp dụng để phân tán các rủi ro
và phân chia tốt hơn các rủi ro giữa các nhà bảo hiểm theo khả năng tài chính
sẵn có của họ để bảo hiểm cho các rủi ro đó.
Ngời ta có thể nói ngời tái bảo hiểm là ngời bản hiểm của các nhà bảo
hiểm. Thật vậy, tái bảo hiểm là một hợp đồng mà qua đó ngời bảo hiểm gốc
10
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
trút bỏ tất cả hoặc một phần các rủi ro mà anh ta đã chấp nhận bảo hiểm sang
một ngời khác, đó là ngời tái bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm nhợng tái bảo hiểm, nhợng lại một phần các rủi ro đã
chấp nhận và các khoản phí tơng ứng. Chính vì vậy, trong một hợp đồng tái
bảo hiểm, ngời bảo hiểm gốc đợc gọi là công ty nhợng, hoặc ngắn gọn hơn
''bên nhợng'' và ngời tái bảo hiểm đợc gọi là ''bên đợc nhợng''. Nh vậy trong
đồng bảo hiểm, có một mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa ngời đợc bảo
hiểm với mỗi một nhà đồng bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm không hề có một
mối quan hệ nào với các nhà tái bảo hiểm. Ngay cả sau khi đã ký một hợp
đồng tái bảo hiểm, ngời bảo hiểm gốc vẫn giữ toàn bộ các rủi ro mà ngời đó
ờng. Có thể nói quan điểm chung nhất về thị trờng là ''thị trờng bao gồm toàn
bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa đợc diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với
các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất định''.
[3]
Theo thuật ngữ bảo hiểm, thì trờng bảo hiểm là nơi mua và bán các sản
phẩm bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là loại
sản phẩm vô hình không thể cảm nhận đợc hình dáng, kích thớc, màu sắc v.v
sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không đợc bảo hộ bản quyền, là sản phẩm mà
ngời mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với mình để đợc bồi
thờng hay trả tiền bảo hiểm (trừ bảo hiểm hu trí, bảo hiểm nhân thọ )
2.2. Các yếu tố cấu thành nên thị trờng bảo hiểm.
2.2. l. Chủ thể của thị trờng bảo hiểm.
Ngời mua hay khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có tài sản,
trách nhiệm dân sự trớc pháp luật, tính mạng hoặc thân thể gặp rủi ro cần bảo
hiểm thì mua các dịch vụ ( sản phẩm ) bảo hiểm hoặc trực tiếp hoặc thông qua
các tổ chức trung gian. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tại và khách
hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện
tại và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng hiện tại là
khách hàng đang tham gia quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó, khách hàng
tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản
phẩm đó trong tơng lai.
Mục tiêu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng là lợi nhuận. Muốn vậy phải tiêu thụ đợc sản phẩm của mình qua
các kênh phân phối sản phẩm. Do đặc điểm hoạt động kinh doanh, các doanh
nghiệp bảo hiểm thờng sử dụng kênh phân phối là đại lý và môi giới bảo
hiểm.
Theo thuật ngữ Bảo hiểm, Đại lý bảo hiểm là ngời làm việc cho doanh
nghiệp bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm cho ngời
mua. Còn Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam: ''Đại lý bảo hiểm là tổ chức,
cá nhân đợc ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt
môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm. Môi giới bảo hiểm gốc sẽ
giúp những ngời cần mua bảo hiểm nhng không biết phải mua nh thế nào và
mua ở đâu tìm và kí đợc hợp đồng bảo hiểm phù hợp. Khách hàng có thể trực
tiếp hoặc qua môi giới để mua bảo hiểm. Nhng trong những trờng hợp tái bảo
hiểm thì môi giới tái bảo hiểm lại đặc biệt quan trọng, là ngời không thể thiếu
khi tái bảo hiểm. Hầu hết các DNBH trên thế giới đều yêu cầu môi giới tái
bảo hiểm t vấn, giúp đỡ khi các rủi ro đợc bảo hiểm quá lớn so với khả năng
tài chính của họ trong việc thanh toán bồi thờng tổn thất nếu rủi ro xảy ra. Đối
với các rủi ro tiềm ẩn lớn, môi giới tái bảo hiểm sẽ giúp DNBH phân tích
phạm vi rủi ro để thu xếp tái bảo hiểm khi cần thiết. Thông qua môi giới tái
bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có đợc sự an toàn về tài chính, do đó
13
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
sẽ có khả năng bảo vệ khách hàng lớn hơn và đem lại sự ổn định cao hơn cho
xã hội.
2.2.2. Khách thể của thị trờng bảo hiểm.
Khách thể của thị trờng bản hiểm chính là sản phẩm bảo hiểm. Từ các
góc độ khác nhau, có thể đa ra các định nghĩa khác nhau về sản phẩm bảo
hiểm. Xét trên góc độ những thứ cơ bản nhất mà khách hàng nhận đợc khi
mua sản phẩm thì sản phẩm bảo hiểm có thể đợc định nghĩa là: Sự cam kết
của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm
khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Định nghĩa này xuất phát từ việc khi mua
bảo hiểm, bằng việc trả một khoản tiền nhất định - nộp phí bảo hiểm, bên mua
bảo hiểm (các tổ chức, các cá nhân sẽ đợc DNBH cấp cho Hợp đồng bảo hiểm
(giấy chứng nhận bảo hiểm) xác nhận rằng DNBH sẽ bồi thờng hoặc trả tiền
bảo hiểm cho họ khi xảy ra các sự kiện nh đã thỏa thuận. Thông thờng khi nói
tới ''Sản phẩm bảo hiểm", ngời ta thờng đồng nghĩa với nghĩa với ''nghiệp vụ
bảo hiểm". Cách nói này thờng đợc sử dụng khi phân loại DNBH theo sản
phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm:
đợc.
Các nhân viên của doanh nghiệp cũng nh các đại lý bảo hiểm chỉ có
một số giờ nhất định trong một ngày để gặp gỡ khách hàng và số giờ sẵn có
trong ngày không thể mang sang ngày khác. Doanh nghiệp bảo hiểm cũng
không thể "sản xuất'' trớc một lợng lớn các cuộc kiểm tra các khiếu nại hay
các dịch vụ khách hàng khác và gửi chúng cho các khách hàng có yêu cầu.
Tính không đồng nhất của dịch vụ bảo hiểm, cũng nh các dịch vụ khác,
chủ yếu đợc thực hiện bởi con ngời. Nhng cho dù là ngời có kỹ năng đến đâu
đi chăng nữa thì dịch vụ họ thực hiện không phải lúc nào cũng nhất quán. Ví
dụ, các địa lý khi bán sản phẩm có thể quên các chi tiết, có thể chậm trễ hoặc
mất kiên nhẫn Nhìn chung chất lợng phục vụ của một cá nhân nào đó tại
các thời điểm khác nhau, với các khách hàng khác nhau là khác nhau. Chất l-
ợng phục vụ này phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, các yếu tố xung quanh.
Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lợng phục vụ cũng khác nhau.
b) Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''không mong đợi". Một trong những
đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi. Điều
này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần túy, mặc
dù đã mua sản phẩm - nhng khách hàng đều không mong muốn rủi ro xảy ra
để đợc doanh nghiệp bảo hiểm bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi ro
một khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thơng tích, thiệt hại thậm chí là mất mát,
do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thờng, chi trả khó có thể bù đắp
đợc. Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm trở nên vô
cùng khó khăn, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của ''chu trình kinh doanh
đảo ngợc''.
Nếu nh trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm đợc xác
định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bản hiểm, phí bảo
15
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
hiểm - giá cả của sản phẩm bản hiểm đợc xác định dựa trên những số liệu ớc
hiểm, rất nhiều luật khác ảnh hởng nh luật Dân sự , luật Đầu t nớc ngoài.v.v.
2.3. Những đặc trng cơ bản của thị trờng bảo hiểm
Thị trờng bảo hiểm cũng nh các thị trờng khác đều có những đặc trng
chung là:
2.3.1. Cung - cầu về bảo hiểm luôn luôn biến động
16
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
Cung về bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện. Các doanh
nghiệp ngày một nhiều và luôn đa ra thị trờng những sản phẩm mới thích ứng
với thị trờng. Sản phẩm bảo hiểm ngày một nhiều và luôn gắn liền với sự phát
triển của khoa học kĩ thuật của nền kinh tế, của quá trình hội nhập và toàn cầu
hóa. Điều đó chứng tỏ sản phẩm bảo hiểm không dừng lại ở con số ban đầu
mà luôn đợc cải tiến, hoàn thiện và sáng chế, phát minh ra cái mới.
Cầu về bản hiểm của dân c, của các tổ chức xã hội, của doanh nghiệp
cũng không ngừng tăng lên. Khi nền kinh tế phát triển thì các tổ chức kinh tế
cũng phát triển theo, đời sống vật chất tinh thần của dân c cũng đợc cải thiện.
Do đó, nhu cầu về đa dạng về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Với
thời kỳ khởi nguyên của bảo hiểm và thị trờng bảo hiểm còn nhỏ bé, các lĩnh
vực bảo hiểm cũng hạn chế.Bạn đầu chỉ xuất hiện bảo hiểm hàng hải vì đây là
lĩnh vực thờng xuyên xảy ra rủi ro và tổn thất lại vô cùng lớn. Rồi sau đó đến
bảo hiểm cháy vì nó mang tính chất thảm họa tổn thất lớn. Còn bây giờ bảo
hiểm đã quá quen thuộc với mọi ngời từ bảo hiểm cho những tài sản công
trình lớn cho đến ô tô xe máy. Thậm chí chúng ta có thể mua bản hiểm cho
đôi chân, cho khuôn mặt, cho đôi mắt của chính mình nếu chúng ta muốn.
Rất nhiều diễn viên, ngời mẫu, ca sĩ đã mua những sản phẩm bảo hiểm mà
chúng ta tởng nh không thể có nh bảo hiểm giọng hát. v.v
Những năm đầu thế kỉ XX, dịch vụ bảo hiểm chỉ có trên dới vài chục
sản phẩm nhng đến nay đã tăng lên hàng trăm, hàng nghìn loại.
Cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm phát triển song hành. Cầu tăng thì
cung tăng và ngợc lại.
phải phù hợp với các mục tiêu marketing cụ thể của doanh nghiệp.
- Các mục tiêu hớng theo lợi nhuận.
- Mục tiêu hớng theo số lợng hợp đồng khai thác.
- Mục tiêu hớng theo cạnh tranh.
Quá trình định phí có thể đợc gọi là quá trình dự đoán tổn thất và chi
phí trong tơng lai, phân bổ các chi phí này giữa những ngời tham gia bảo
hiểm. ở các quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển, trong các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ, việc định phí đợc thực hiện bởi bộ phận định phí hoặc đối
với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quy mô nhỏ hơn thì việc định phí do
các công ty t vấn định phí thực hiện. Còn trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và
trách nhiệm, giá cả sản phẩm bảo hiểm đợc xác định dựa trên số liệu thống kê
về khuynh hớng tổn thất do các tổ chức t vấn cung cấp hoặc do từng doanh
nghiệp bảo hiểm tự thu thập.
18
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
* Cầu về sản phẩm của khách hàng là nhân tố quyết định giới hạn trên
của giá cả sản phẩm. Kinh nghiệm marketing thực tế đều cho thấy, cầu của
hầu hết các sản phẩm (trong đó có sản phẩm bảo hiểm) có quan hệ tỉ lệ
nghịch với giá cả của sản phẩm (với điều kiện là các nhân tố khác - điều kiện
kinh tế nói chung, sự sẵn có của sản phẩm, khả năng mua của khách hàng
không thay đổi). Khi phân tích cầu về sản phẩm phải xác định sự thay đổi của
nó khi giá cả sản phẩm thay đổi. Để đo lờng mức độ thay đổi này (tỉ lệ % thay
đổi trong lợng cầu khi có tỉ lệ % thay đổi trong giá cả), kinh tế học vi mô đã
đa ra khái niệm ''độ co dãn của cầu theo giá''.
2.3.3. Canh tranh và liên kết diễn ra liên tục
Thị trờng bảo hiểm cũng nh các thị trờng khác, sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, để thu nhiều lợi nhuận diễn ra liên
tục, gay go, quyết liệt. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật. Do
đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là dễ bắt chớc, không bảo hộ bản quyền,
nên các doanh nghiệp bảo hiểm "đổ xô'' vào những sản phẩm đợc thị trờng
hiểm chiếm trong thị trờng bảo hiểm. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của
doanh nghiệp càng cao; kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển.
Nói đến thị phần là nói đến thị trờng phát triển không còn mang tính
độc quyền. ở đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội nh nhau; song doanh
nghiệp nào dành đợc thị phần nhiều hơn là doanh nghiệp đó làm tốt công tác
quảng cáo, tiếp thị; do chất lợng phục vụ tốt hơn, phí bảo hiểm có thể thấp
hơn v.v
Nh vậy, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi do số l-
ợng doanh nghiệp tham gia vào thị trờng thay đổi; do chiến lợc maketing,
chiến lợc sản phẩm, chiến lợc giá cả v.v của các doanh nghiệp thay đổi
không những giữ đợc thị phần của mình mà còn giành giật đợc thị phần của
các doanh nghiệp khác.
Ngoài việc cạnh tranh để giành giật thị trờng của nhau, các doanh
nghiệp phải có chiến lợc kinh doanh hợp lý để thu hút bộ phận khách hàng
tiềm năng. Đây là bộ phận dân c có nhu cầu bảo hiểm, nhng cha có thông tin
chính xác về dịch vụ bảo hiểm trên thị trờng. Doanh nghiệp nào có chiến lợc
tuyên truyền, quảng cáo, phục vụ tốt sẽ thu hút thêm khách hàng ở bộ phận
này góp phần tăng thị trờng doanh nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp bảo
hiểm cũng phải tung ra thị trờng những sản phẩm mới để thu hút dân c trong
bộ phận không tiêu dùng tuyệt đối bộ phận không có nhu cầu tuyệt đối với
dịch vụ bảo hiểm có trên thị trờng.
Ngoài ra, thị trờng bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng nh:
- Thị trờng bảo hiểm có đối tợng khách hàng rất rộng vì đối tợng bảo
hiểm đa dạng, bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con ngời.
- Thị trờng bảo hiểm là thị trờng tài chính, do đó chịu sự kiểm tra, kiểm
soát rất chặt chẽ của Nhà nớc. Nhà nớc có thể can thiệp khá sâu vào hoạt
động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Nhà nớc không những xét duyệt biểu
phí, xác định giới hạn trách nhiệm dân sự mà còn quyết định hình thức triển
20
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
dựa trên cơ sở pháp luật bắt buộc những ngời có đủ điều kiện đều phải tham
gia bảo hiểm một cách bắt buộc.
* Đóng góp phí bảo hiểm
Bảo hiểm xã hội nhằm mục đích tạo điều kiện ổn định đời sống kinh tế
của đa số ngời lao động trong xã hội.
* Tinh thần giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng xã hội
21
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
Trong quá trình điều hòa sử dụng thực tế quỹ bảo hiểm xã hội thờng có
lợi cho những ngời có thu nhập thấp, nên trong xã hội đã có tình trạng "ngời
có mức lơng cao nộp phí bảo hiểm nhiều lại đợc lợi ít, còn ngời có mức lơng
thấp nộp phí bảo hiểm ít lại đợc lợi hơn''. Số cán bộ, công nhân viên đang làm
việc tại các cơ quan, doanh nghiệp lâu đời ít hơn so với các cơ quan, doanh
nghiệp mới, nhng số cán bộ, công nhân viên đã về hu mà các cơ quan, doanh
nghiệp lâu đời cần phải chăm sóc lại nhiều hơn so với các cơ quan, doanh
nghiệp mới. Vì vậy, các doanh nghiệp lâu đời nộp phí bảo hiểm ít lại đợc h-
ởng lợi nhiều, còn các doanh nghiệp mới phải nộp phí bảo hiểm nhiều lại đợc
hởng lợi ít một cách tơng đối.
3.2. Bảo hiểm thơng mại
a. Bảo hiểm nhân thọ:
Là bảo hiểm đời sống hoặc tuổi thọ của con ngời nhằm bù đắp cho ngời
đợc bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi ngời đợc bảo
hiểm bị chết hoặc bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn. Bao gồm các loại hình nh
bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ
* Bảo hiểm phi nhân thọ là tính chất phân tán rủi ro và các công ty bảo
hiểm có thể có mà cũng có thể không phải trả tiền bồi thờng phụ thuộc vào
tổn thất có xảy ra hay không.
* Bảo hiểm nhân thọ mang tính chất tiết kiệm, lâu dài và các công ty
bảo hiểm nhân thọ chắc chắn phải trả tiền bảo hiểm khi đến hạn ghi trong hợp
đồng bảo hiểm.
+ Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng.
- Bảo hiểm trách nhiệm của ngời giao nhận.
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
- Bảo hiểm du lịch.
II. vai trò của thị trờng bảo hiểm
1. Vai trò của thị trờng bảo hiểm trong nền kinh tế
1.1 Tạo ra một nguồn vốn lớn bằng phí bảo hiểm và tập trung vào
một số đầu mối để đầu t vào những lĩnh vực khác để phát tnển nền kinh tế
quốc dân.
Tốc độ tăng trởng kinh tế quốc gia tỉ lệ thuận với tốc độ gia tăng về đấu
t Đặc biệt với các khoản tiền lớn vô cùng cần thiết cho các lĩnh vực đầu t lâu
dài, yêu cầu vốn nhiều.
Ngày nay, ở các nớc phát triển, số tiền do nhà bảo hiểm đang quản lý
rất lớn: 2000 tỉ USD ở Hoa Kỳ, 1719 tỉ Bảng Anh, 2.967 tỉ Frăng ở Pháp. Nhờ
khả năng đầu t, giờ đây thị trờng bảo hiểm đóng một vai trò chủ lực trong nền
kinh tế ở Pháp nơi có truyền thống đầu t vào trái phiếu, nhà bản hiểm đã nắm
60% số lợng trái phiếu của nhà nớc và trong lĩnh vực bất động sản cũng giữ
một vị trí quan trọng.
ở Anh, các nhà bảo hiểm đầu t chủ yếu vào cổ phiếu nhất là qua Quỹ h-
u trí (Fonds de pension), quỹ này thu về các khoản tiền đóng góp dài hạn để
sau này trả lơng hu cho những ngời làm công ăn lơng. ở đây thị trờng bảo
23
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
hiểm ảnh hởng rất lớn đến thị trờng chứng khoán và tài trợ cho các hoạt động
đầu t. Còn ở Việt Nam tính đến cuối năm 2002 Bảo Việt đã đầu t và góp vốn
vào tổng số 22 công ty và tập đoàn cả trong nớc và nớc ngoài, các ngân hàng,
công ty cổ phần chứng khoán (Nguồn:Báo cáo hàng năm của Tổng Công ty
Bảo hiểm Việt Nam)
1.2. Bổ sung vào ngân sách của Nhà nớc bằng lãi bảo hiểm.
Doanh thu của ngành bảo hiểm càng cao thì nguồn thu cho ngân sách
Thị trờng bảo hiểm Việt Nam
các tổ chức này phải đảm nhận ngày càng nhiều hơn: thiên tai và tai nạn bất
ngờ hay xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh và khai thác kĩ thuật mới,
sản phẩm mới, còn những rủi ro về tín dụng hay xảy ra trong quá trình kinh
doanh giữa các bên. Nhà nớc không thể bao cấp cho những tổn thất do những
rủi ro này gây ra nh thời kì cha đổi mới cơ chế kinh tế, những nhà sản xuất,
kinh doanh phải tự đảm nhận giải quyết. Chỉ có tham gia bảo hiểm các doanh
nghiệp có thể chuyển rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm, tức là chuyển những
yếu tố không ổn định và những tổn thất không lờng trớc đợc trong quá trình
kinh doanh, nhằm đảm bản cho những hoạt động sản xuất và kinh doanh của
doanh nghiệp đợc thực hiện thuận lợi.
Đồng thời, chế độ phá sản doanh nghiệp đợc thực hiện trong quá trình
đổi mới kinh tế hiện nay cũng phải đợc thực hiện đồng bộ với chế độ bản
hiểm xã hội tơng ứng, nhằm đảm bảo một phần nhất định đời sống công nhân
viên chức của doanh nghiệp bị phá sản trong thời gian chờ việc lành. Nếu
không, việc thực hiện luật phá sản doanh nghiệp sẽ gây ra những yếu tố
không ổn định về trật tự xã hội.
1.5. Thị trờng Bảo hiểm giúp cho việc thực hiện, bảo toàn vốn vay
của các ngân hàng thơng mại một cách thuận lợi.
Đảm bảo cho việc luân chuyển vốn cho vay. Trong thời kì đổi mới cơ
chế kinh tế ở nớc ta, một phần lớn vốn cần dùng cho doanh nghiệp đợc cung
cấp từ khoản tiền vay của ngân hàng, những doanh nghiệp bị tai nạn rủi ro,
việc đó chẳng những ảnh hởng đến khả năng hoàn trả khoản tiền vay đã hết
hạn, mà còn yêu cầu ngân hàng tiếp tục cho vay, nhằm đáp ứng đầy đủ số tiền
vốn cần dùng ngay để doanh nghiệp khôi phục sản xuất. Nếu doanh nghiệp bị
tai nạn rủi ro đã kịp thời nhận đợc tiền bồi thờng bảo hiểm, đã nhanh chóng
khôi phục sản xuất và kinh doanh thì cũng có thể hoàn trả vốn vay ngân hàng.
1.6. Thị trờng bảo hiểm có lợi cho sự phát triển và củng cố nền kinh
tế hàng hóa ở nông thôn.
Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần