Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 1 of 16
DANH SÁCH NHÓM I – LỚP TCDN Đ5 – K20
1. NGUYỄN THỊ VI HOÀI
2. NGUYỄN THỊ THANH HẢI
3. TRẦN TUẤN LỘC
4. TRẦN YẾN MINH
5. LÊ THỊ NGỌC ÁI
6. HỒ PHAN KHÁNH LINH
7. THÁI ÁI UYÊN
8. LÊ HOÀNG NGUYÊN
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 2 of 16
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ NỢ - THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 5
1. Định nghĩa công cụ nợ - trái phiếu 5
1.1 Định nghĩa 5
1.2 Đặc điểm 5
2. Đặc trưng của trái phiếu 5
2.1 Mệnh giá 5
2.2 Tỷ suất lãi trái phiếu 5
2.3 Giá mua trái phiếu 5
2.4 Kỳ hạn trái phiếu 5
2.5 Quyền mua lại trái phiếu 5
3. Các loại trái phiếu 5
3.1 Trái phiếu doanh nghiệp 6
3.1.1 Trái phiếu thế chấp 6
3.1.2 Trái phiếu tín chấp 6
3.1.3 Trái phiếu thu thập 6
3.1.4 Trái phiếu chuyển đổi 6
3.2 Trái phiếu Chính phủ và chính quyền địa phương 6
giới hiện nay cũng sẽ là sự lựa chọn và định hướng phát triển tất yếu của TTCK Việt
Nam.
Thực tế cho thấy kể từ khi Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ
Chí Minh ra đời vào tháng 07 năm 2000, hoạt động của TTCK Việt Nam trở nên sôi
động và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Trong suốt thời gian gần đây, TTCK
Việt Nam đã có những bước phát triển rất tích cực, ngày càng trở thành một kênh huy
động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
Với nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, nhu cầu vốn phát triển tăng dần
qua các năm thì thị trường trái phiếu chính là một trong những kênh huy động vốn
tiềm năng nhất không chỉ cho phát triển các dự án Chính phủ mà cả cho các dự án của
khu vực tư nhân. Và bên cạnh thị trường cổ phiếu vốn rất sôi động và thăng trầm, thì
một thị trường khác cũng chiếm sự quan tâm không nhỏ của giới đầu tư, đặc biệt là
những nhà đầu tư có tổ chức là thị trường trái phiếu vốn ít rủi ro hơn.
Trong giới hạn cho phép, đề tài sẽ giới thiệu tổng quan về Thị trường trái phiếu
Việt Nam cùng những chuyển biến của thị trường trong thời gian qua, cũng như các
vấn đề liên quan đến chính sách nhằm hướng đến sự phát triển mạnh mẽ và bền vững
của thị trường này, đặc biệt đối với trái phiếu doanh nghiệp.
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 5 of 16
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ NỢ - THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
1. Định nghĩa công cụ nợ - trái phiếu
1.1 Định nghĩa
- Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó quyền hưởng một khối lượng
tiền cố định, được ấn định trước, được gọi là công cụ nợ (debt instrument), như trái
phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, hay các khoản cho vay
- Trái phiếu là giấy chứng nhận nợ, xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu đối
với tổ chức phát hành ra nó. Trái phiếu có lãi suất hoặc chiết khấu cố định của Chính
phủ, công ty phải trả cho người nắm giữ.
Theo Luật Chứng Khoán VN, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là
loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu
chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công
cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
4. Lợi tức và rủi ro của trái phiếu.
4.1 Lợi tức của trái phiếu
Từ các nguồn:
- Tiền lãi định kỳ: Lợi tức trái phiếu = Lãi suất coupon * Mệnh giá TP
- Chênh lệch giá.
- Lãi của lãi (gọi là lãi tái ĐT)
4.2 Ru ̉i ro của trái phiếu
- Rủi ro lãi suất: Giá của TP sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất.
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 7 of 16
- Rủi ro tái đầu tư:Tùy thuộc vào chiến lược tái đầu tư
- Rủi ro thanh toán: Là rủi ro mà người phát hành TP có thể vỡ nợ
- Rủi ro lạm phát: Là rủi ro sức mua
- Rủi ro tỷ giá hối đoái: TP mua bằng ngoại tệ, thời điểm đáo hạn thanh toán bằng
VNĐ, mà VNĐ giảm giá so với ngoại tệ, NĐT sẽ nhận được ít ngoại tệ hơn.
- Rủi ro thanh khoản: Tuỳ thụôc vào TP có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần
với giá trị không.
5. Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu
- Khả năng tài chính của người cung cấp TP.
- Thời gian đáo hạn.
- Dự kiến về lạm phát.
- Biến động lãi suất thị trường.
- Thay đổi tỷ giá hối đoái.
II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM.
1.Trái phiếu Chính phủ Việt Nam.
1.1 Trái phiếu Chính phủ: an toàn nhưng tính thanh khoản và lợi nhuận
lần 1 cho khách hàng, các giao dịch tiếp theo trên thị trường thứ cấp hầu như không
tồn tại. Điều này làm cho lợi nhuận từ trái phiếu bị hạn chế rất nhiều.
1.2 Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 9 of 16
Trái phiếu Chính phủ Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá khá
cao. Cụ thể tháng 10 năm 2005, lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ Việt Nam được phát
hành ra thị trường vốn quốc tế. 750 triệu USD trái phiếu đã được các nhà đầu tư mua
hết ngay trong vòng 30 giây sau khi phát hành. Đây là một kết quả khả quan hơn mở
đầu cho bước tiến huy động vốn của Chính phủ Việt Nam. Đợt trái phiếu này được
mua bán lại trên tất cả các trung tâm chứng khoán (thị trường thứ cấp) lớn như
Hongkong, Singapore, London, New York, Boston liên tục đến năm 2016.
Tại thời điểm này, nhu cầu đối với trái phiếu Chính phủ Việt Nam trên thị trường
quốc tế là rất lớn. Trong đợt phát hành trái phiếu đầu tiên với lãi suất 6,875%, đáo hạn
vào năm 2016, để huy động vốn cho ngành đóng tàu, nhu cầu của các nhà đầu tư đã
cao gấp 6 lần so với số trái phiếu thực tế được phát hành. Mức lãi suất của trái phiếu
chính phủ Việt Nam lúc này là 5,78%, thấp hơn mức 5,95% của loại trái phiếu có kỳ
hạn và xếp hạng tín dụng tương đương của Chính phủ Brazil. Điều này chứng tỏ trái
phiếu của Việt Nam có mức độ hấp dẫn hơn. So với trái phiếu Chính phủ kỳ hạn tương
đương Mỹ tại thời điểm này, lãi suất của trái phiếu Việt Nam cũng chỉ cao hơn 1,25%.
Cũng trong năm này, VND đã tăng giá 0,3% so với USD, hiện đứng ở mức
16.014 VND/USD, VN Index đã tăng 48%, những con số hấp dẫn với nhà đầu tư quốc
tế. Ở thị trường vốn trong nước, Chính phủ Việt Nam cũng đã phát hành thành công
nhiều đợt trái phiếu theo phương thức đấu giá lãi suất. Tháng 3/2007, 300 tỷ đồng trái
phiếu Chính phủ lần đầu tiên được phát hành đấu thầu theo lô lớn (lô 100, 200, 300
tỷ đồng) đã được các nhà đầu tư nước ngoài mua hết với mức lãi suất thấp nhất trong
vòng ba năm trở lại, đó là 6,8%/năm. Trong những đợt phát hành tiếp theo lãi suất trái
phiếu cố định, nhưng mệnh giá thay đổi.
1.3 Tính cạnh tranh thấp
TPCP thực sự chưa cạnh tranh được với sự thuận tiện của hình thức gửi tiết kiệm,
yếu là các Tổ chức tín dụng, số doanh nghiệp phát hành trái phiếu rất ít và đa số quy
mô phát hành nhỏ.
Cho đến năm 1996, thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam mới có sự tham
gia của doanh nghiệp, mở đầu bằng việc công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) huy
động được 5 triệu USD. Hai năm sau đó, Công ty cổ phàn Công nghệ thông tin EIS
cũng đã huy động được 10 tỷ đồng. Đến 2003 thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt
Nam mới có thêm sự "góp mặt" của Tổng Công ty Dầu khí (huy động được 300 tỷ
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 11 of 16
đồng), Tổng công ty Xi măng (200 tỷ đồng) và Tập đoàn Điện lực (EVN) (300 tỷ
đồng). Trong khoảng thời gian này, việc huy động vốn trực tiếp trên thị trường hầu
như chưa phát triển. Các tổ chức phát hành chủ yếu là các tổ chức tín dụng và rất ít là
các doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp, kênh huy động vốn chủ yếu của
các doanh nghiệp là tín dụng ngân hàng hay ngân sách nhà nước hoặc Nhà nước vay
rồi cho vay lại
Ưu điểm-thành công:
- Thị trường đã manh nha phát triển, là một kênh huy động vốn với quy mô lớn
cho các doanh nghiệp.
Những điểm còn hạn chế:
- Khung pháp lý chưa rõ ràng.
- Còn siết rất chặt với đối tượng được phát hành trái phiếu chủ yếu là các doanh
nghiệp nhà nước, các Tổng công ty hoặc tổ chức tín dụng vốn Nhà nước.
- Quy mô phát hành cũng như giao dịch còn rất nhỏ so với một nền kinh tế đang
trong giai đoạn phát triển.
- Quy mô nhà đầu tư nhỏ. Những người nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu
là các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư.
- Tính thanh khoản của thị trường thấp, trái phiếu doanh nghiệp được niêm yết
trên sở giao dịch chứng khoán chỉ đếm trên đầu ngón tay và mức độ giao dịch
rất thấp.
2.1.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau nghị định 52/2006/NĐ-CP
TPDN đã huy động được trên 7.000 tỷ đồng, trong đó Tập đoàn EVN huy động được
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 13 of 16
5.000 tỷ đồng, Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã huy động
được 800 tỷ đồng, Tổng Công ty Sông Đà huy động được 300 tỷ đồng Và tính đến
tháng 7/2007, Vinashin đã huy động được 3.000 tỷ đồng, Tổng Công ty Lắp máy Việt
Nam (Lilama) được 1.500 tỷ, TCty Thép được 400 tỷ, Tổng Công ty Xây dựng Việt
Nam (Vinaconex) được 1.000 tỷ Những thuận lợi trên đã tạo điều kiện để các doanh
nghiệp có nhiều cơ hội tham gia vào thị trường trái phiếu Việt Nam.
2.2 Những thay đổi chủ yếu của Nghị định 90 về phát hành trái phiếu DN
Ngày 14/10/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát
hành trái phiếu doanh nghiệp (Nghị định 90). Nghị định 90 có nhiều thay đổi so với
quy định hiện hành về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và điều chỉnh cả đối với hoạt
động phát hành trái phiếu của các tổ chức tín dụng. Có hiệu lực từ 1-12-2011. Nghị
định này được đánh giá là cần thiết để siết lại việc doanh nghiệp vay vốn nước ngoài
tràn lan, gây áp lực lên cán cân thanh toán và tổng nợ nước ngoài.
Theo Nghị định 90/2011/NĐ-CP, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp nhằm
mục đích “thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp; tăng quy mô
vốn hoạt động của doanh nghiệp; cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp”. Đây là
nghị định mang tính áp đặt đối với các doanh nghiệp. Một quy định khác cũng gây băn
khoăn là yêu cầu phải đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài đối với việc phát
hành trái phiếu chuyển đổi. đây là một hạn chế không thực tế vì trái phiếu chuyển đổi
không có nghĩa là sẽ phải chuyển đổi. Thông thường thì trái phiếu chuyển đổi dành
cho trái chủ quyền được chuyển đổi và trái chủ có thể lựa chọn không chuyển đổi. Khi
chưa chuyển đổi thì sẽ không ảnh hưởng tới sở hữu nước ngoài. Do vậy, việc đảm bảo
sở hữu nước ngoài chỉ nên áp dụng khi chuyển đổi trái phiếu.Quy định này nhằm hạn
chế việc chuyển nợ trong nước thành nợ nước ngoài, gây áp lực lên tỷ giá, cán cân
ngoại hối. Thế nhưng, trong tình hình khó khăn về nguồn vốn như hiện nay thì việc
cấm đoán nói trên lại gây khó khăn cho doanh nghiệp
Một quy định khác có thể gây khó khăn cho mục tiêu cơ cấu lại các khoản nợ của
doanh nghiệp nói riêng, thị trường trái phiếu Việt Nam có một vai trò rất quan trọng
trong sự phát triển của thị trường vốn. Tuy nhiên rất cần phải có sự phát triển song
song giữa thị trường TPCP và thị trường TPDN. Đặc biệt là Chính phủ, UBCKNN và
doanh nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, thường xuyên tổ chức các diễn
đàn, các cuộc đối thoại về TPDN. Và Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA)
đã đi vào hoạt động với hơn 50 thành viên, với mục đích thúc đẩy sự phát triển của thị
trường trái phiếu và các công cụ nợ đã góp phần không nhỏ trong việc tái thiết và ổn
định các hoạt động phát hành trái phiếu ở Việt Nam hiện nay, giúp nâng cao tính
chuyên nghiệp của thị trường trái phiếu Việt Nam thông qua các hoạt động tổng hợp,
phân tích và tư vấn; chuẩn hóa các thông lệ thị trường đối với các giao dịch trái phiếu
và công cụ nợ khác.
Để thị trường trái phiếu phát triển, Việt Nam cần có những biện pháp và hệ thống
đánh giá chuẩn hơn để xác định lãi suất phát hành hợp lý, qua đó giảm gánh nặng nợ
vay cho đất nước. Đồng thời, tăng khối lượng phát hành thay vì phát hành nhiều đợt
với số lượng nhỏ nhằm giảm chi phí phát hành và thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư có
tổ chức tham gia.
Cải thiện thể chế pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô nhằm nâng mức xếp
hạng, đủ điều kiện để đạt được tiêu chuẩn đầu tư của các nguồn quỹ lớn trên thế giới.
Và để trở thành một thị trường trái phiếu hiệu quả, Việt Nam cần kết nối thị trường của
mình với các nước trong khu vực để tạo ra một thị trường đủ lớn, nhằm thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài.
Thật vậy, Việt Nam cần có những nỗ lực cải cách cụ thể và hiệu quả nhằm biến
thị trường trái phiếu chính phủ thành một nguồn thu hút vốn nhiều tiềm năng trong
tương lai.
GVHD: T.S Trần Thị Mộng Tuyết Thực hiện: Nhóm I – TCDN Đ5 – K20
Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Page 16 of 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bài giảng Thị trường tài chính của Giáo viên hướng dẫn: TS.Trần Thị Mộng
Tuyết
2.www.tapchitaichinh.vn