LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được gửi lời cảm ơn chân
thành tới TS. Bùi Thị Việt Hà, chủ nhiệm bộ môn Vi sinh vật học, trường ĐH Khoa
học Tự Nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội. Người đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và
tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như làm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ của bộ môn Vi sinh vật học,
trường ĐH Khoa học Tự Nhiên- ĐH Quốc gia Hà Nội. Trong quá trình làm luận
văn, tôi đã luôn nhận được sự chỉ bảo trực tiếp và được tạo điều kiện thuận lợi nhất.
Đồng thời, tôi chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo tại khoa Sinh học
nói chung và bộ môn Vi sinh vật học, trường ĐH Khoa học Tự Nhiên- ĐH Quốc gia
Hà Nội nói riêng đã tận tình dạy dỗ tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và toàn thể
các bạn trong nhóm. Những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong thời
gian học tập.
Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Minh Thư
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP Ở NGƯỜI
3
3
1.4.1 Đặc điểm thực vật học
16
1.4.2 Sự phân bố
1.4.3 Tác dụng dược lý
17
17
14.4 Thành phần hóa học
18
1.4.5 Tình hình nghiên cứu táo mèo
18
Chương 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 NGUYÊN LIỆU
2.1.1 Nguồn giống
2.1.2 Hóa chất và thiết bị
2.2. PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Phương pháp lên men quả táo mèo
2.2.2 Phương pháp phân lập vi khuẩn
2.2.3 Xác định hoạt tính kháng sinh và enzym
2.2.4 Bảo quản giống
2.2.5 Xác định sinh khối bằng phương pháp đo mật độ quang học-OD
2.2.6 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và hoạt tính
3.3.3 Nguồn nitơ thích hợp
3.3.4 Lựa chọn pH nuôi cấy thích hợp
3.3.5 Lựa chọn nhiệt độ thích hợp
3.3.6 Lựa chọn thời gian nuôi cấy thích hợp
3.3.7 Khả năng sinh enzym ngoại bào của TM5.2
3.4 TÁCH CHIẾT CHẤT KHÁNG KHUẨN TỪ DỊCH CHIẾT TÁO MÈO VÀ DỊCH LÊN
MEN VI KHUẨN
3.4.1 Khảo sát hệ dung môi rửa giải và pha rắn hấp phụ
3.4.2 Tách chiết phân đoạn chất kháng khuẩn của dịch lên men vi khuẩn
3.4.3 Tách chiết phân đoạn chất kháng khuẩn từ dịch chiết táo mèo
3.4.4 Sắc ký bản mỏng các phân đoạn kháng khuẩn của dịch lên men chủng
TM5.2 và dịch chiết táo mèo
3.5 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CAO DỊCH LÊN MEN, DỊCH
CHIẾT TÁO MÈO VÀ CÁC PHÂN ĐOẠN
3.5.1 Sơ bộ thành phần hóa học của cao dịch chiết táo mèo và các phân đoạn
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
28
28
29
29
30
32
32
33
34
36
37
Vi sinh vật
DANH SÁCH BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh viêm họng mạn tính
7
Bảng 1.2: Tỷ lệ kháng kháng sinh của M.catarrhalis
9
Bảng 1.3:Tỷ lệ các loài có khả năng sinh CKS
10
Bảng 1.4: So sánh bacteriocin và chất kháng sinh
13
Bảng 2.1: Thông số thiết kế cột nhồi
23
Bảng 3.1: Hoạt tính kháng M.catarrhalis của dịch lên men quả táo mèo
28
Bảng 3.2: Hoạt tính kháng M.catarrhalis của 4 chủng vi khuẩn
32
34
35
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của pH ban đầu đến sinh trưởng, hoạt tính kháng
khuẩn của TM5.2
Hình 3.5: Ảnh hưởng của pH ban đầu đến sinh trưởng và HTKK của TM5.2
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sinh trưởng và hoạt tính
kháng khuẩn của TM5.2
Hình 3.6: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng sinh trưởng và hoạt tính
kháng khuẩn của TM5.2
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh trưởng và
hoạt tính kháng khuẩn của TM5.2
Hình 3.7: Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh trưởng và
hoạt tính kháng khuẩn của TM5.2
Bảng 3.10: Khả năng sinh enzym ngoại bào
36
Bảng 3.11: Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn của phân đoạn tách từ dịch
chiết lên men
Bảng 3.12: Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn M.catarrhalis của cao dịch
chiết táo mèo tại các nồng độ khác nhau
Bảng 3.13: Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn M.catarrhalis của các phân
đoạn từ dịch chiết táo mèo
Bảng 3.14: Kết quả thử định tính các nhóm hợp chất của dịch chiết quả táo
mèo và các phân đoạn
gây thiệt hại kinh tế.
Moraxella catarrhalis là căn nguyên gây ra phần lớn các trường hợp mắc
bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, đặc biệt hiện nay được coi như tác nhân gây bệnh viêm
tai giữa phổ biến thứ ba sau Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenzae.
Trong khi đó M. catarrhalis hiện đã kháng lại hầu hết các chất kháng sinh thuộc
nhóm beta-lactam, chỉ còn nhạy cảm với cephalosporin thế hệ 2, 3 và ciprofloxacin
thuộc họ quinolon. Thực trạng kháng kháng sinh của M. catarrhalis nói riêng, các
vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm nói chung đã và đang đem đến gánh nặng kinh tế,
xã hội trong việc thay thế kháng sinh thế hệ cũ bằng kháng sinh thế hệ mới đắt tiền.
Với sự phát triển của ngành công nghệ sinh học hiện đại đem lại một triển vọng lớn
cho nền Y học khi tìm kiếm thêm những hợp chất tự nhiên hỗ trợ cho việc phòng và
điều trị bệnh trên. Các hợp chất này góp phần giảm tác dụng phụ không mong muốn
7
của các hợp chất tổng hợp, giảm gánh nặng về mặt kinh tế cho người bệnh và xã
hội.
Từ ngàn xưa, ông cha ta đã lưu truyền rất nhiều bài thuốc dân gian từ cây, cỏ
chữa các bệnh đường hô hấp và rất nhiều bệnh khác. Hiện nay táo mèo và các sản
phẩm chế biến từ táo mèo đặc biệt là giấm táo mèo được lan truyền rộng rãi trong
cộng đồng như một bài thuốc chống béo phì, tăng cường miễn dịch, kháng khuẩn,
giảm chứng suy hô hấp....Trên thế giới cây táo mèo phân bố tại Trung Quốc, Ấn
Độ, Myanma, tại Việt Nam tập trung ở các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu
và Lâm Đồng. Năm 2010 đã có những nghiên cứu sơ bộ với kết quả khả quan về tác
dụng kháng khuẩn, trong đó có M. catarrhalis gây bệnh hô hấp của dịch lên men
quả táo mèo đã mở ra một hướng nghiên cứu mới cũng như định hướng ứng dụng
của dịch lên men quả táo mèo trong việc hỗ trợ và nâng cao thể trạng cho con
người. Với mục tiêu góp phần chứng minh và làm sáng tỏ vai trò chủ đạo của các
tác nhân có trong dịch lên men quả táo mèo theo kinh nghiệm dân gian, đặc biệt là
ở trẻ em, trong đó trẻ có thể nhiễm đến 10 lần. Mỗi năm tại Hoa Kỳ, nhiễm khuẩn
hô hấp trên gây giảm khả năng làm việc trong 170 triệu ngày, 23 triệu ngày trẻ phải
nghỉ học, 18 triệu ngày phải nghỉ làm. Điều này cho thấy dù là loại bệnh được cho
là tự khỏi nhưng chúng đã gây ra những thiệt hại đáng kể không chỉ về sức khỏe mà
còn cả về kinh tế xã hội.
Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là trẻ em. Ước tính trên toàn cầu mỗi năm có
khoảng trên 2 tỷ lượt trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp, chiếm 15 -20% số tử
vong trong độ tuổi dưới 5. Tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam bệnh
trên là nguyên nhân cao nhất (25%) gây tử vong ở trẻ, tiếp theo là tiêu chảy và sơ
sinh kết hợp với các bệnh khác, còn lại là do các nguyên nhân khác [22]. Ở trẻ em
bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên gây biến chứng nặng viêm tai giữa (29 – 50%), viêm
xoang (5 – 10%) [38].
9
Vi sinh vật gây bệnh thường gặp là virut (chiếm 80%) và vi khuẩn (20%), cụ
thể như sau:
- Tác nhân virut gây bệnh gồm có:
+) Rhinovirus là một picornavirut, phân lập được hơn 110 serotyp- thường
gặp hơn cả (khoảng 50%).
+) Coronavirus: 20-25%.
+) Orthomyxovirus: gây bệnh cúm
+) Paramyxovirus : virut hợp bào, quai bị..
+) Adenovirus, thường là các typ 1, 2, 3, 5, 6.
- Tác nhân vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus
influenzae và Moraxella catarrhalis [24, 33,37].
Ngoài vi khuẩn trên còn có các vi khuẩn không điển hình như Mycoplasma
1.2.2 Vai trò của Moraxella catarrhalis trong bệnh nhiễm khuẩn hô hấp
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra rằng M. catarrhalis
là một trong những tác nhân gây bệnh quan trọng nhất đối với đường hô hấp.
Các nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chỉ ra M. catarrhalis là nguyên nhân phổ
biến gây bệnh viêm đường hô hấp. M. catarrhalis là vi khuẩn cộng sinh phổ biến ở
vòm họng của trẻ em [41], một nghiên cứu trên 120 trẻ sơ sinh đã cho thấy 66% trẻ
một tuổi mang vi khuẩn, tăng lên đến 77,5% ở trẻ hai năm tuổi, điều này cho thấy
trẻ em có nguy cơ cao bị các bệnh đường hô hấp, đặc biệt là hô hấp trên [20].
Những nghiên cứu khác cũng cho thấy 48,9% gặp ở trẻ độ tuổi từ 3-12 [32] và 54%
ở trẻ dưới 4 tuổi [22]. Tuy nhiên ở người lớn tỷ lệ này thấp hơn với 1% trong 561 ca
phụ nữ trong tuổi lao động nhập viện [32], 5,8% ở người lớn khỏe mạnh và tăng
đến 26,5% ở người có độ tuổi trên 60 [48] và tăng cao vào mùa đông. Timothy [47]
đã đưa ra các biểu hiện lâm sàng và dịch tễ học của M. catarrhalis, đặc biệt sự liên
quan giữa bệnh viêm tai giữa ở trẻ em và bệnh COPD ở người lớn, hai căn bệnh
truyền nhiễm phổ biến nhất gây ra bởi M. catarrhalis. Viêm tai giữa là bệnh hay
11
gặp nhất trong thời thơ ấu của con người và là lý do phổ biến nhất mà trẻ em được
kê đơn kháng sinh, trung bình khoảng 80% trẻ em trong 3 năm đầu đời mắc bệnh.
Trong đó M. catarrhalis chiếm 15-20% nguyên nhân gây các đợt bệnh viêm tai
giữa cấp tính, rất nguy hiểm với trẻ em nếu không phát hiện và điều trị kịp thời. M.
catarrhalis còn là nguyên nhân gây ra một loạt các bệnh về hô hấp khác như: viêm
xoang cấp, viêm vòm họng, viêm phế quản mãn tính. Catlin [26] đã chỉ ra những
bằng chứng cho thấy M. catarrhalis đã gây ra bệnh nhiễm trùng máu, viêm màng
não, viêm nội tâm mạc. Đặc biệt trong các báo cáo tổng hợp lại về các bệnh viêm
phổi, viêm tai giữa và AIDS chỉ ra rằng M. catarrhalis là nguyên nhân thường gặp
Theo Đỗ Quyết [19] từ tháng 6/2007 đến tháng 6/2008 tại khoa lao và bệnh phổi,
bệnh viện 103 Hà Nội trên 40 bệnh nhân trong đợt bùng phát bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính cho thấy M. catarrhalis chiếm 14,3% nguyên nhân gây bệnh. Cũng theo
Nguyễn Minh Hải (2006) [10] tỷ lệ gây bệnh tương tự là 51,6%, theo Nguyễn Ngọc
Bích (2007) chiếm 30,75% số vi khuẩn gây bệnh. Thống kê của viện dịch tễ trung
ương và bệnh viện nhi Thụy Điển về tình hình nhiễm khuẩn đường hô hấp, M.
catarrhalis chiếm tỷ lệ 18,8-29,6% trong tổng số các chủng phân lập được [2]. Phân
lập vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân mắc bệnh viêm họng mạn tính tại
bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương cho bảng kết quả sau [13]:
Bảng 1.1: Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh viêm họng mạn tính
STT
Tên vi khuẩn
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1
M. catarrhalis
51
37,8
2
S.aureus
Tổng cộng
135
100
Những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy M. catarrhalis
là một trong những tác nhân chủ yếu gây ra các bệnh hô hấp với tỷ lệ gây bệnh cao
và mức độ nguy hiểm của chúng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là với trẻ em,
người già. Một vấn đề rất được quan tâm và chú trọng nghiên cứu hiện nay chính là
tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh hô hấp, trong đó đặc biệt là
của M. catarrhalis.
1.2.3 Tính kháng kháng sinh của Moraxella catarrhalis
13
Vấn đề về thực trạng kháng kháng sinh đã mang tính toàn cầu và đặc biệt nổi
trội ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam với gánh nặng của các bệnh
nhiễm khuẩn và những chi phí bắt buộc cho việc thay thế các kháng sinh cũ bằng
kháng sinh mới đắt tiền. Cùng với bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện, bệnh nhiễm khuẩn đường hô
hấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu có tỷ lệ mắc và tử vong cao ở các
nước đang phát triển. Thực tế việc kiểm soát bệnh này đã và đang chịu sự tác động
bất lợi của sự phát triển và lan truyền tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn.
M. catarrhalis là vi khuẩn Gram âm, có khả năng tổng hợp enzym βlactamaza. Enzym này làm mất hoạt tính kháng sinh của nhóm kháng sinh β- lactam
bằng cách thủy phân vòng β- lactam.
Trước đây khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn M. catarrhalis ampicillin vẫn
được coi là kháng sinh đặc trị hữu hiệu. Tuy nhiên hiện nay kháng sinh điều trị theo
kinh nghiệm này đã được ghi nhận là bị M. catarrhalis đề kháng với tỷ lệ cao lên
Số
T
sinh
hiệu
chủng
Ac
51
5,99
0
94,11
1
Amoxicillin
clavulanic axit
/
Nhạy (S)
5,99
19,61
74,5
4
Cefuroxime
Cu
51
21,56
0
5
Cefotaxime
Ct
51
6
Ceftriaxone
Pefloxacine
Pef
51
11
Gentamycine
Ge
51
12
Amikacine
Ak
51
13
Doxycycline
Do
51
0
0
0
13,73
19,22
23,53
27,33
13,7
25,5
60,8
11,8
15,7
72,5
47,05
19,6
1.3.1 Khái niệm
Chất kháng sinh là những chất hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật (vi sinh vật,
thực vật, động vật), có khả năng diệt hoặc kìm hãm sự phát triển các vi sinh vật
khác, các chất kháng sinh thường có tác dụng mạnh ở nồng độ thấp và đặc hiệu lên
các vi sinh vật khác nhau [49].
Bảng 1.3: Tỷ lệ các loài có khả năng sinh CKS [9]
Sinh vật sinh CKS
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
Vi khuẩn
950
9
1.3.2 C
Xạ khuẩn
4.600
43
h
Nấm
700
7
Tổng số SV bậc cao
3.550
33
Tổng số
10.700
100
Thực vật bậc cao
Động vật
kháng sinh có nguồn gốc từ vi khuẩn
1.3.2.1
Khái quát lịch sử nghiên cứu
Từ rất xa xưa, với sự tìm tòi, khám phá và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn,
con người đã phát hiện, ứng dụng hiệu quả nhiều nguồn dược liệu vào mục đích
điều trị y học. Và một kỷ nguyên mới trong y học đã được mở ra với phát minh vĩ
đại của Alexander Fleming vào năm 1928 khi ông phát hiện ra penicillin – một chất
kháng sinh có nguồn gốc từ nấm Penicillium notatum [7]. Năm 1942, quy trình sản
xuất penicillin G procain được phát minh bởi Howard Florey (1898-1968) và Ernst
Chain (1906-1979). Penicillin lúc này đã được bán như một loại thuốc. Fleming,
Florey và Chain đã cùng được trao giải Nobel Y học vào năm 1945 cho thành tựu
• Dựa vào cơ chế tác dụng
• Dựa vào cấu trúc phân tử và các nhóm chức đặc trưng: đây là nguyên lý
cơ bản được sử dụng để phân loại chất kháng sinh vì chúng đóng vai trò
quyết định hoạt tính kháng sinh.
Bacteriocin
17
Hiện nay con người đang phải đối mặt với thời kỳ “hậu kháng sinh” bởi tình
trạng kháng thuốc, sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc, sự thiếu
hụt các nhóm kháng sinh mới [35]. Trong bối cảnh này song song với việc phát
triển các chất kháng sinh phổ rộng thì việc nghiên cứu bacteriocin là vấn đề rất đáng
được quan tâm.
Bacteriocin là peptit hoặc protein do vi khuẩn tổng hợp, có hoạt tính kháng
khuẩn [29], thuật ngữ này được đề xuất từ năm 1953 [28]. Tiếp tố “in” hoặc “cin”
dùng để biểu thị các peptit có hoạt tính kháng khuẩn tiết ra từ vi khuẩn. Tiếp tố này
được viết thêm vào tên chi hoặc tên loài. Ví dụ, bacteriocin tiết ra từ E. coli được
gọi là colicin, từ Bacillus subtilis được gọi là subtilin... Các chữ cái đứng sau tên
bacteriocin chỉ thứ tự bacteriocin được tìm ra ở cùng một loài. Bacteriocin được
phát hiện ở hầu hết các loài vi khuẩn, đặc biệt một số loài có khả năng tiết hàng
chục, thậm chí hàng trăm loại [45]. Chúng rất đa dạng về chủng sản xuất, kích
thước phân tử, tính chất vật lý, hóa học, độ bền, phổ kháng khuẩn và cơ chế tác
động. Tập hợp các gen cấu trúc, gen điều hòa sinh tổng hợp bacteriocin ở vi khuẩn
rất đa dạng, cớ thể nằm trong hệ gen hoặc plasmit hoặc trong cả transposon.
Bacteriocin được phân chia thành 2 nhóm lớn là bacteriocin của vi khuẩn
Gram âm và bacteriocin của vi khuẩn Gram dương [45]. Vi khuẩn Gram dương
tổng hợp bacteriocin phong phú và đa dạng hơn nhiều so với vi khuẩn Gram âm. Đa
phần các bacteriocin có phổ kháng khuẩn không rộng, chủ yếu ức chế hoặc tiêu diệt
các vi khuẩn khác có mối quan hệ gần gũi hoặc tương đồng, có sự cạnh tranh trực
Cơ chế tác động tế
Ảnh hưởng tới kết cấu màng Tùy thuộc phương thức hoạt
bào đích
tế bào
động, ảnh hưởng tới yếu tố
phiên mã di truyền.
Yêu cầu tương tác
Đôi khi cần cắt ngắn phân tử
Đích đặc hiệu
Phương thức hoạt
Hầu hết là tạo lỗ trên màng Màng tế bào hoặc các đích
động
tế bào chất (một số ít có thể nội bào
ảnh hưởng đến sinh tổng
hợp thành tế bào)
Độc tính/tác dụng phụ Chưa thấy
Có
Với tình trạng kháng thuốc kháng sinh hiện nay việc nghiên cứu, phát triển
sản xuất các hợp chất có hoạt tính kháng khuẩn từ thực vật đang là mối quan tâm
lớn của các nhà khoa học, ngành y học, dược học. Việt Nam với điều kiện khí hậu
và thảm thực vật đa dạng, phong phú đã và đang phát triển các nghiên cứu về các
hoạt chất có tính kháng khuẩn từ thực vật dựa vào những bài thuốc cổ truyền từ
ngàn xưa để lại. Theo các số liệu thống kê mới đây, thảm thực vật tại Việt Nam có
trên 12000 loài, trong số đó có trên 3200 loài được sử dụng làm thuốc trong Y học
cổ truyền [16]. Tại Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hợp chất kháng
khuẩn từ thực vật và đã thu được những kết quả nhất định trên các đối tượng như:
tỏi, đu đủ, anh đào, lá dứa, thanh long, lá lốt, dừa cạn, dâm bụt, sống đời, xoan, bồ
công anh Việt Nam, diệp hạ châu, đinh lăng…
1.3.3.3 Phân loại các hợp chất kháng khuẩn của thực vật
Thực vật có khả năng tổng hợp chất thơm, hầu hết là phenol hoặc dẫn xuất
oxy. Chúng đều là hợp chất thứ cấp, hiện nay đã phân lập được khoảng 12000 loại,
chiếm tỷ lệ ước tính dưới 10% tổng số hợp chất thứ cấp [42]. Trong đó đa số các
hợp chất thứ cấp có vai trò bảo vệ cây trồng chống lại những sinh vật hại chúng
như: vi sinh vật, côn trùng, động vật. Ví dụ như nhóm terpenoid tạo mùi hôi, nhóm
quinon và tannin tạo sắc tố trên thực vật, một số chất tạo hương vị và một số được
dùng làm dược phẩm và thực phẩm cho con người.
Các hợp chất kháng khuẩn thực vật gồm có:
20
• Ankaloit: berberin, piperin
• Phenol và polyphenol: phenol, axit phenol, catechol, pyrogallol, quinon,
flavon, flavonoit….
• Terpenoit: tinh dầu, saponin
• Và một số hợp chất khác như: lectin, polyacetylen
1.3.4 Cơ chế kháng khuẩn
Nhóm quinolon ức chế tác dụng của enzym DNA gyraza làm cho hai mạch
-
đơn của ADN không thể duỗi xoắn, ngăn cản quá trình nhân đôi của ADN.
Nhóm sulfamid có cấu trúc giống PABA (axit p- aminobenzoic) có tác dụng
-
cạnh tranh PABA và ngăn cản quá trình tổng hợp axit nucleic.
Nhóm trimethoprim tác động vào enzym xúc tác cho quá trình tạo nhân
purin làm ức chế quá trình tổng hợp axit nucleic.
1.4 CÂY TÁO MÈO VÀ DỊCH CHIẾT TỪ QUẢ TÁO MÈO
1.4.1 Đặc điểm thực vật học
21
Cây táo mèo hay còn gọi là cây chua chát, tên khoa học là Docynia indica,
thuộc họ hoa hồng (Rosaceae).
Dạng sống là dạng bụi hoặc gỗ nhỏ, ưa sáng, chiều cao 5-10 mét, cây phân
cành sớm, tán tròn, trên nhánh và thân non có gai, mọc rải rác trong rừng ở độ cao
1300-2000 mét.
Lá mọc so le, hình thuôn, gốc tròn đầu nhọn, mép lá nguyên, mặt dưới có
lông bạc mịn, mặt trên màu xanh lục, có 2 lá kèm rụng sớm. Rụng lá hoàn toàn vào
cuối mùa đông, ra lá non vào tháng 3.
Mùa ra hoa vào tháng 2-4, hoa màu trắng, mọc thành cụm 3- 5 hoa ở nách lá
hoặc đầu cành, cuống ngắn, đài dày có lông trắng, hoa mỏng manh và không có
lông, nhị ngắn, vòi nhụy dài…[6].
khả năng kháng khuẩn, chữa bệnh viêm đường hô hấp: ho, viêm amidan.
1.4.4 Thành phần hóa học
Theo nghiên cứu của Đinh Thị Kim Chung [5] cho biết khối lượng trung
bình của quả táo mèo tại 2 vùng Yên Bái và Lào Cai là 20,5 ± 0,5 g, nước chiếm tỷ
lệ 84,6%, đường 4,81%, axit tổng số 1,47% và pH là 2,9.
Theo kết quả khảo sát định tính dịch chiết từ quả táo mèo thấy có đủ các
nhóm hợp chất như: Flavonoit, tannin, ankaloit, glycozit có tác dụng kháng khuẩn
rất có hiệu quả. Giấm táo chứa axit malic, axit acetic, hàm lượng enzym cao rất tốt
cho tiêu hóa.
1.4.5 Tình hình nghiên cứu táo mèo tại Việt Nam
Hiện nay trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu về cây táo mèo Docynia
indica, đặc biệt là về tác dụng kháng khuẩn của quả táo mèo.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan [15] cho thấy tác
dụng chống béo phì và giảm trọng luợng của dịch chiết quả Táo mèo Docynia
indica (Wall.) Decne trên mô hình chuột béo phì thực nghiệm. Theo Vũ Thị Hạnh
Tâm [20] nghiên cứu và ghi nhận vai trò hạ lipit và đường huyết của dịch chiết quả
táo mèo trên chuột. Hoàng Thị Minh Tân [21] quả và lá táo mèo có khả năng chống
23
rối loạn trao đổi gluxit và lipit. Vũ Thị Huê, Bùi Thị Việt Hà [49] đã có những
nghiên cứu sơ bộ ghi nhận về tác dụng kháng khuẩn của dịch lên men quả táo mèo.
24
Chương 2 - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP