Nghiên cứu tác dụng chống viêm của cốt toái bổ
(Drynaria fortunei) trên động vật thực nghiệm
Nguyễn Trần Giáng Hơng
1
, Phạm Xuân Sinh
2
1
Đại học Y Hà Nội,
2
Đại học Dợc Hà Nội
Tác dụng chống viêm của cốt toái bổ đợc thực hiện trên chuột cống trắng theo phơng pháp
gây phù lòng bàn chân chuột bằng carrageenin Kết quả cho thấy cao lỏng cốt toái bổ (Drynaria
fortunei) có tác dụng chống viêm cấp và mạn tính ở liều 4g/ kg.
Tác dụng chống viêm cấp của cốt toái bổ đợc thể hiện qua việc làm giảm lợng dịch rỉ viêm và
lợng bạch cầu trong dịch rỉ viêm.
i. Đặt vấn đề
Nớc ta có nguồn dợc liệu phong phú và
nền y học cổ truyển lâu đời, nhiều vị thuốc, bài
thuốc có tác dụng tốt trên lâm sàng, nhng
cha đợc nghiên cứu sâu về tác dụng dợc lý
và độc tính. Trong những cây thuốc dân gian
cốt toái bổ (Drynaria fortunei) đợc dùng để
chữa viêm khớp, đau lng, đau nhức gân
xơng [3]. Theo y học cổ truyền, cốt toái bổ đã
đợc dùng để chữa chứng phong thấp, nhng
cha có nghiên cứu chi tiết nào về hóa học, tác
dụng dợc lý, cơ chế tác dụng, độc tính của
loại thảo dợc này. Để góp phần khẳng định
Chuột cống trắng cả hai giống đợc chia
thành 3 lô, mỗi lô 10 con:
- Lô 1: uống NaCl 0,9%
- Lô 2: uống aspegic (lysin acetyl salicylat)
0,09g/ kg tơng đơng aspirin 0,05g/ kg
- Lô 3: uống cốt toái bổ 4g/ kg
Một giờ sau khi chuột uống thuốc thử (uống
1 lần), gây viêm bằng cách tiêm vào dới da
gan bàn chân sau bên phải của chuột
carrageenin 1% - 0,05ml/ chuột, thể tích chân
chuột đợc đo bằng dụng cụ chuyên biệt
plethysmometer UGO BASILE loại N
0
7140
trớc và sau khi gây viêm bằng carrageenin ở
các thời điểm sau gây viêm 2-4-6-24 và 48 giờ.
Mức độ phù đợc tính nh sau:
V
t
- V
0
X% = ì 100
V
0
V
t
: Thể tích chân chuột sau khi gây viêm
V
0
: Thể tích chân chuột trớc khi gây viêm
C trong 2 giờ vào dới da lng chuột.
Chiều ngày thứ 5 giết chuột, bóc tách khối u,
đặt vào tủ sấy 36
0
C trong 18 giờ, sau đó cân
trọng lợng các khối u. Trọng lợng trung bình
các khối u (đã trừ sợi amiant của chuột thử
thuốc đợc so với chuột đối chứng. Tác dụng
chống viêm đợc biểu thị bằng tỉ lệ % giảm
trọng lợng khối u.
3.3. Đánh giá tác dụng chống viêm thông
qua vỏ thợng thận
Đánh giá ảnh hởng của thuốc lên tuyến ức
chuột cống non theo phơng pháp của
P.Lechat và cộng sự [5].
Chuột cống non (nặng 60- 70g) đợc uống
thuốc trong 2 ngày liền, chiều ngày thứ 3 giết
chuột, bóc tách tuyến ức và cân ngay. Theo dõi
sự ảnh hởng của thuốc lên tuyến ức thông
qua trọng lợng tơng đối tuyến ức so với lô
uống dung môi và uống prednisolon.
Tất cả số liệu nghiên cứu đợc xử lý bằng
thuật toán thống kê t- test Student.
III. Kết quả
1. Tác dụng chống viêm cấp
1.1. Gây phù lòng bàn chân chuột cống
trắng bằng carrageenin
Bảng 1: Tác dụng chống viêm cấp của cốt toái bổ
Thể tích chân chuột sau tiêm
carrageenin (ml)
%
viêm
Độ ức
chế
viêm %
p so
với
chứng
1 10 NaCl
0,9%
1,05
0,11
1,91
0,24
1,85
0,23
1,78
0,23
1,37
0,12
1,24
0,10
1,53 58 100
2 10 Aspegic
0,09g/kg
0,06
1,18
0,05
1,14
0,08
1,36 40 68,27 31,37 <0,059
Kết quả thực nghiệm đợc ghi lại trên bảng 1 cho thấy cao lỏng cốt toái bổ có tác dụng làm
giảm phù thực nghiệm chân chuột, biểu thị bằng tỉ lệ % giảm thể tích chân chuột thử thuốc so với
chân chuột đối chứng. Tác dụng chống viêm của cốt toái bổ 4g/ kg so với aspirin 0,05g/ kg có phần
kém hơn, nhng sự khác biệt này cha có ý nghĩa thống kê.
Phơng pháp gây tràn dịch màng bụng
Bảng 2: Tác dụng chống viêm của cốt toái bổ qua phơng pháp gây tràn dịch màng bụng
Lô
thử
n Thuốc dùng và liều
lợng
Số lợng dịch
trung bình (ml)
% giá trị TB làm
giảm thể tích dịch
so với chứng
p so với
chứng
p so
với
10,7 0,5 62,2 4,3 36,0 3,9
2 10 Aspegic 0,09g/ kg
7,8 0,4
(p< 0,05)
59,7 3,9
(p > 0,05)
38,5 1,5
(p> 0,05)
3 10 Cốt toái bổ 4g/ kg
7,9 0,5
(p < 0,05)
61,5 2,8
(p > o,o5)
37,5 1,6
(p> 0,05)
> 0,05
Kết quả thực nghiệm đợc trình bày trên bảng 2 và 3 cho thấy cốt toái bổ liều 4g/ kg có tác dụng
chống viêm cấp rõ rệt, làm giảm lợng dịch rỉ viêm 26,20% so với lô chứng (p< 0,05). Tác dụng này
của cốt toái bổ (4g/ kg) gần bằng với aspirin (0,05g/ kg).
Ngoài ra, cốt toái bổ và aspirin còn làm giảm số lợng bạch cầu trong dịch rỉ viêm (p< 0,05).
Tuy vậy, công thức bạch cầu không có sự thay đổi đáng kể sau thời gian thử nghiệm.
3.2. Tác dụng chống viêm mạn tính
Bảng 4: Trọng lợng trung bình u hạt của các nhóm nghiên cứu
Lô
thử
n Thuốc dùng và
liều lợng
Trọng lợng trung
Trọng lợng trung
bình tuyến ức
(mg/ 100g chuột)
Tỉ lệ % giảm trọng
lợng tuyến ức so với
chứng
p so với lô
chứng
1 10 NaCl 0,9%
224 19,7
2 10 Cốt toái bổ 4g/ kg
223 15,0
0 > 0,05
3 10 Prednisolon 0,006g/ kg
169 13,2
24,55 < 0,05
Kết quả thực nghiệm (bảng 5) cho thấy cao
lỏng cốt toái bổ 4g/ kg không có tác dụng làm
thu teo tuyến ức so với lô chứng (p> 0,05),
trong khi đó prednisolon 0,006g/ kg có tác
dụng làm giảm trọng lợng truyến ức rõ rệt (p <
0,05).
iv. Bàn luận
Cốt toái bổ là một vị thuốc đã đợc dùng từ
lâu trong dân gian, qua nghiên cứu trên thực
nghiệm chúng tôi thất cốt toái bổ có tác dụng
chống viêm rất rõ.
1. Tác dụng chống viêm cấp
Qua kết quả thực nghiệm, chúng tôi nghĩ cơ
chế chống viêm của cốt toái bổ có thể do làm
giảm tính thấm thành mạch tại vị trí viêm dẫn
tới làm giảm lợng dịch rỉ viêm đồng thời đã ức
chế một phần khả năng xuyên mạch của bạch
cầu đa nhân trung tính vào ổ viêm. Trong dịch
rỉ viêm, lợng lympho bào và các tế bào khác
cha có sự thay đổi là phù hợp. Vì chúng ta đã
biết, trong phản ứng viêm cấp ở những giờ đầu,
dới ảnh hởng của nhiều yếu tố, trong quá
trình viêm cơ thể mới tập trung chủ yếu là bạch
cầu trung tính đến làm nhiệm vụ tại ổ viêm.
2. Tác dụng chống viêm mạn tính
Trên mô hình thí nghiệm của phơng pháp
này với nguyên tắc gây u hạt bằng carrageenin
và amiant. Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng
của thuốc trên quá trinh tăng sinh tổ chức
thông qua việc tạo thành u hạt. Amiant là một
vật lạ không có khả năng tiêu, carrageenin có
bản chất là một polysaccharid đóng vai trò
quan trọng trong cơ chế viêm. U hạt tạo thành
là do có phản ứng viêm gây ra với carrageenin
cùng với sự tồn tại của vật lạ không tiêu đ
ợc
là amiant. Cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tập
trung nhiều tế bào tạo ra mô bào lới, nguyên
bào sợi vây quanh vật lạ tạo nên hình ảnh của
mô hình viêm mạn thực nghiệm. Dựa theo
11
1. Nguyễn Trần Giáng Hơng (1983).
Nghiên cứu tác dụng dợc lý, độc tính của
alkaloid toàn phần trong cây Trinh nữ. Luận
văn bác sỹ nội trú, Trờng Đại học Y Hà Nội.
2. Lơng Trần Khuê, Đào Văn Phan
(1998). Đánh giá tác dụng của bài thuốc chữa
trĩ hoè hoa tán trên thực nghiệm. Tạp chí
Nghiên cứu Y học, Trờng Đại học Y Hà Nội, 4,
39- 44.
3. Đỗ Tất Lợi (1999). Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học kỹ
thuật.
4. Ducrot, R; Julon, L et al (1965).
Turner, screening methodes in pharmacology.
Academic press, 114- 115.
5. Lechat (P); Fontagne' (J) (1967).
Action des anti- inflammatoire non-
steroidiques sur le thymus. Therapie, 22, 1221-
1230.
6. Winter, C.A; Ristey, E. A and Nuss,
G.W (1962). Carrageenin induced edema in
hind paw of the rat as an assay for anti
inflammatory drug. Proc, exp. Biol. N.J, 111,
544- 574.
Summary
Study on the anti inflammatory effect of cot toai
bo in experimental animals
The anti inflammatory effect of cot toai bo was studied on rat's hind paw oedema induced
by carrageenin. The experimental results showed that: