LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Phạm Thi Thảo Nguyên
LỜI CẢM ƠN
i
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Môi trường- Trường Đại
học khoa học tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến
thức chuyên sâu về chuyên ngành và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian theo
học cũng như thời gian làm luận văn. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến PGS.TS. Nguyễn Xuân Cự - đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn động
viên, chia sẻ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Nghệ An, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thảo Nguyên
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................iv
ii
Chất thải rắn sinh hoạt
iii
MDD
Sở TN&MT
TNHH
TNMT
UBND
Mộc dân dụng
Sở Tài nguyên và Môi trường
Trách nhiệm hữu hạn
Tài nguyên môi trường
Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ................................................................................vi
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................3
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................31
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.................................................................................34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................70
2. Kiến nghị............................................................................................................72
iv
Khi nói đến CTR, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của các đô
thị hay các thành phố lớn. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Với sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất, đóng gói bao bì, nhiều loại giấy, hộp đóng
gói được làm chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc… rất tiện lợi, góp phần làm thay đổi
phong cách và tập quán sống của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị. Song
bên cạnh các mặt tích cực ấy là lượng CTR ra ngày càng lớn, không chỉ ở các đô thị
mà còn ở các vùng nông thôn, nó đã và đang trở thành vấn đề được mọi người quan
tâm. Ở nông thôn Việt Nam trước kia, việc thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn
được thực hiện tương đối tốt. Lượng chất thải ở nông thôn vốn nhỏ, chủ yếu là chất
thải hữu cơ hầu như được tận dụng hoàn toàn. Lượng chất thải hữu cơ này nguồn
gốc chủ yếu từ thức ăn thừa, được tận dụng làm thức ăn cho gia súc.
Một lượng chất thải rắn khác là phân người và gia súc được tận dụng làm
phân bón ruộng. Các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, được dùng làm nhiên liệu
để đun nấu và làm thức ăn gia súc. Tuy nhiên, trong một vài thập kỷ gần đây, khi
điều kiện kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện thì lượng chất thải rắn
nông thôn cũng tăng mạnh, trong khi điều kiện cơ sở hạ tầng về thu gom, vận
chuyển và xử lý còn nhiều hạn chế. Điều này đã khiến tình hình chất thải rắn ở nông
thôn trở thành một vấn đề nghiêm trọng.
Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng về phía nằm ở Đông Bắc tỉnh Nghệ An,
cách thành phố Vinh 60 km về phía Nam, có vị trí kinh tế và quốc phòng quan trọng
của tỉnh Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung. Những năm gần đây Quỳnh Lưu
đang vươn lên phát triển kinh tế xã hội. Điều tất yếu là lượng chất thải rắn phát sinh
1
mỗi ngày đều gia tăng. Tuy nhiên cũng như các vùng nông thôn khác của Nghệ An,
trên 90% tổng lượng chất thải chưa được thu gom và xử lý hợp vệ sinh. Hiện tượng
chất thải rắn sinh hoạt, bao bì phân bón, thuốc BVTV, chất thải từ chăn nuôi, làng
nghề… đổ bừa bãi khắp các vùng nông thôn Nghệ An đã làm suy giảm chất lượng
1.1. Tổng quan về chất thải rắn
1.1.1. Định nghĩa, phân loại chất thải rắn
* Định nghĩa về chất thải rắn
Chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt
động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v…). Trong đó quan trọng nhất là
các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống [9].
Như vậy CTR nói chung được hiểu là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá
trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hàng ngày hoặc các hoạt động khác.
CTR bao gồm CTR thông thường và chất thải rắn nguy hại [4].
* Nguồn gốc phát sinh CTR:
CTR có thể phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ở nơi nhiều nới khác
nhau. Tùy thuộc vào nguồn gốc phát thải, đặc điểm của các quá trình sản xuất và
thời gian mà các CTR cũng rất đa dạng. Chúng khác nhau về khối lượng, kích
thước, phân bố về không gian cũng như thành phần đặc trưng. Việc phân loại các
nguồn phát sinh CTR đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý các chất
thải rắn.
Trên thực tế, các CTR được phát sinh từ các nguồn như: Khu dân cư, khu
thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ…), cơ quan, công sở (trường học,
trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện…), khu xây dựng và phá hủy các công
trình xây dựng, nhà máy xử lý chất thải, hoạt động công nghiệp, hoạt động nông
nghiệp, khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đường
phố...), hình 1.1. [8].
3
Các CTR có thể được phân loại khác nhau tùy thuộc vào công tác quản lý
hay xử lý chúng. Thông thường, người ta chia các CTR dựa vào nguồn gốc phát
Hình 1.1. Các nguồn phát sinh chất thải rắn
* Thành phần CTR:
CTR từ các nguồn phát thải khác nhau cũng khác nhau về thành phần lý, tỷ
lệ và các chất hóa học của. Hơn nữa, thành phần của CTR ở từng nguồn thài cũng
có thể khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều
kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Nhìn chung, các CTR có một số thành phần cơ
bản như được trình bày ở bảng 1.1.
4
Bảng 1.1. Thành phần của CTR
Thành phần
1. Các chất cháy được
Nguồn gốc
Ví dụ
Các vật liệu làm từ giấy bột và Các túi giấy, mảnh bìa,
a. Giấy
b. Hàng dệt
c. Thực phẩm
d. Cỏ, gỗ củi, rơm rạ
e. Chất dẻo
f. Da và cao su
giấy
Có nguồn gốc từ các sợi
Vỏ hộp, dây điện, hàng
rào, dao.v.v..
Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ
châm hút
đựng…vv
Các vật liệu và sản phẩm được Chai lọ, đồ đựng bằng
chế tạo từ thủy tinh
Bất cứ các loại vật liệu không
cháy khác ngoài kim loại và
thủy tinh
thủy tinh, bóng đèn…vv
Vỏ chai, ốc, xương, gạch,
đá…vv
3. Các thành phần khác
Tất cả các vật liệu khác không
phân loại trong bảng này. Loại
a. Các chất hỗn hợp
này có thể chia thành hai
phần: kích thước lớn hơn
5mm và loại nhỏ hơn 5mm
Nguồn: [9]
1.1.2. Các phương pháp xử lý CTR
1.1.2.1. Phương pháp xử lý nhiệt
a. Nhiệt phân (pyrolysis)
khác nhau như tận dụng cho lò hơi, lò sưởi, cấp điện,…
Ở Việt Nam công nghệ thiêu đốt thích hợp cho việc xử lý chất thải bệnh
viện, chất thải nguy hại, các loại chất thải có thời gian phân hủy dài.
1.1.2.2. Xử lý sinh học
6
a.Phương pháp xử lý hiếu khí tạo thành phân bón (Composting)
Đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Việc
ủ CTR với thành phần chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy có thể được tiến hành
ngay ở các hộ gia đình để tạo thành phân bón cho. Ưu điểm của phương pháp này là
giảm được đáng kể khối lượng rác, đồng thời tạo ra phân bón hữu cơ giúp ích cho
công tác cải tạo đất. Chính vì vậy phương pháp này được ưa chuộng ở các quốc gia
nghèo và các nước đang phát triển.
Quá trình ủ rác hiếu khí diễn ra theo phản ứng sau:
Vi khuẩn hiếu khí
Chất hữu cơ
Chất mùn + CO2+ H2O+ NH3+ SO2
Phương pháp ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí
với sự có mặt của oxi. Thường chỉ sau 2 ngày nhiệt độ đống ủ tăng lên khoảng
450C, sau 6-7 ngày có thể đạt tới 70-75 0C. Nhiệt độ này chỉ đạt được với điều kiện
duy trì môi trường tối ưu cho vi khuẩn hoạt động như oxi, độ ẩm, tỉ số C/N, pH và
một số chất dinh dưỡng vô cơ chủ yếu như phốt pho, lưu huỳnh, kali, nitơ… Sự
phân hủy hiếu khí diễn ra khá mạnh, chỉ sau 2-4 tuần rác được phân hủy hoàn toàn.
Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị tiêu diệt do nhiệt độ ủ tăng. Bên cạnh đó,
mùi hôi cũng bị khử nhờ quá trình ủ hiếu khí, độ ẩm tối ưu cho quá trình này là 50600C. [17]
b. Xử lý kỵ khí (Anaerobic)
của CTR nguy hại.
Sử dụng vôi, kiềm làm giảm khả năng gây độc của các kim loại nặng do tạo
thành các hydroxit không hòa tan. Đối với các CTR có tính axit có thể trung hòa
bằng các chất kiềm và ngược lại.
1.1.2.4. Phương pháp ổn định hóa
Phương pháp ổn định hóa (cố định, đóng rắn) chủ yếu được xử dụng để xử lý
CTR nguy hại nhằm 2 mục đích: Giảm rò rỉ các chất độc hại bằng cách giảm bề mặt
tiếp xúc, hạn chế mức cao sự thẩm thấu của chất thải vào môi trường, và cải thiện
kích thước chất thải về độ nén và độ cứng.
Ổn định chất thải là công nghệ trộn vật liệu thải với vật liệu đống rắn, tạo
thành thể rắn bao lấy chất thải hoặc chất thải trong cấu trúc của vật rắn. Phương
pháp này thường dùng để xừ lý CTR của kim loại, mạ kim loại, chì, tro của lò
đốt,… tạo thành khối rắn để vận chuyển và chôn lấp trong bãi chôn lấp rác hợp
vệ sinh.
8
1.1.2.5. Chôn lấp rác
a. Bãi chôn lấp rác thông thường (Open dump)
Đây là phương pháp xử lý rác cổ điển đã được loài người áp dụng từ lâu đời.
Hiện nay, các đô thị ở Việt Nam và một số nước khác vẫn còn đang áp dụng.
Ưu điểm: Đây là phương pháp xử lý rác đô thị rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí
cho công việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác.
Phương pháp này có nhiều nhược điểm: Gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
đến cảnh quan, gây mùi khó chịu cho con người; là môi trường thuận lợi cho các loại
động vật gặm nhấm, các loại côn trùng, vi trùng gây bệnh sinh sôi nảy nở gây nguy
hiểm cho sức khỏe con người; gây ô nhiễm môi trường nước và không khí; cần diện
tích bãi thải lớn.
b. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh (Sanitary landfill)
nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải
rắn nguy hại từ y tế, công nghiệp như kim tiêm, ống chích, mầm bệnh, hợp chất hữu
cơ bị halogen hóa, PCB,... [6].
1.1.3.2 Làm ô nhiễm môi trường không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình chủ yếu là thực phẩm chiếm phần lớn trong
khối lượng CTR sinh hoạt. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều
như ở Việt Nam sẽ là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc
đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa, ảnh hưởng đến môi trường không khí và gây
mùi khó chịu cho con người. Khí sinh học hình thành từ các bãi chôn lấp do quá
trình phân hủy các thành phần sinh học trong chất thải có chứa rất nhiều các khí độc
hại như H2S, NH3, CH4, SO2, CO2 và các hợp chất hữu cơ bay hơi. Ngoài các hơi
khí gây ô nhiễm thông thường thì trong quá trình thiêu đốt rác thải có thể tạo ra các
khí như PCBs, PAHs, các hợp chất dioxin và furans [7].
1.1.3.3. Làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất trong
hai điều kiện hiếu khí và kỵ khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản
phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản, nước, CO2, CH4...
Với một lượng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của
môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm hoặc không ô
nhiễm. Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi
10
trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm. Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại
nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống nguồn nước
ngầm làm ô nhiễm tầng nước này.
Đối với CTR không phân hủy (nhựa, cao su,...) nếu không có giải pháp xử lý
thích hợp là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì của đất.
1.1.3.4. Làm ô nhiễm môi trường nước
tấn. Trong đó, CTR có nguồn gốc từ sản phẩm dầu mỏ chiếm 75%; CTR từ quá
trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%; từ cặn
cống thoát nước chiếm 1%; RTSH chiếm 1,5% (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Thành phần rác thải tại Mỹ
Thành phần
Giấy
Hữu cơ
Nhựa
Kim loại
Thuỷ tinh
Các loại khác
Tỷ lệ% các loại rác theo các nguồn khác nhau
Tại bãi rác
Trung bình cả
Theo EPA
Colombia
nước
41
33
35 – 47
21
17
18 – 29
16
12
11 – 21
6
6
Số chuyến vận chuyển
(triệu người)
chuyển
trong ngày
Bombay
8.5
2
2.0
Manila
7.6
65
2.0
Bangkok
5.6
1.8
Jakarta
7.9
776
3.0
Seoul
10.3
630
3.4
Nguồn: Trung tâm quốc gia về phát triển khu vực của Nhật Bản, 2008
Thành phố
1.2.1.3. Công nghệ xử lý CTR trên thế giới
Xử lý CTR là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý CTR và không làm ảnh
hưởng tới môi trường, tái tạo các loại sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy
khác
Compost
4
5
8
20
10
5
10
5
74
0.1
3.9
10
5
10
15
10
5
65
10
5
10
5
Môi trường (2005), Báo cáo diễn biến Môi trường Việt
Chôn lấp, bãi
rác lộ thiên
Việt Nam
về lĩnh vực này với hơn 533 nhà máy sản xuất phân compost và xử lý hàng năm
trên 7.3 triệu tấn nguyên liệu chất hữu cơ [12].
Tái chế CTR đang là một công nghệ được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước và
đặc biệt là tại các nước phát triển. Các loại chất thải có thể tái chế ví dụ như: giấy
(tại Pháp thu hồi 35,0%), chất sợi (Pháp 8,0%, Đức 40,0%), thuỷ tinh (tại Thụy
Điển, Đức và Đan Mạch > 50,0%). Rác tái chế được đem chế tạo thành những sản
phẩm khác có thể sử dụng, hay cũng có thể là đầu vào cho một số các nghành công
nghiệp khác. Như vậy không những làm giảm lượng CTR phải xử lý mà còn góp
phần cải thiện việc xử lý bằng các phương pháp khác như đốt [12].
Công nghệ sản xuất từ các loại CTR như thức ăn thừa, chất thải chăn
nuôi thành khí metan sinh học để chạy xe buýt. Sử dụng khí metan sinh học là
một bước nhảy vọt trên phương diện bảo vệ môi trường. Ở Canada, các nhà nghiên cứu
14
thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia (CNRC) đã sản xuất được hydro từ các chất
thải hữu cơ và từ các chất thải nông nghiệp.
1.2.2. Tình hình phát sinh và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
1.2.2.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam
Quá trình phát sinh CTR gắn liền với quá trình sản xuất và sinh hoạt của con
người. Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh
trung bình tăng từ 150- 200%, trong đó CTRSH đô thị tăng trên 200% và còn tiếp
tục gia tăng trong thời gian tới (Bảng 1.5). Dự báo đến năm 2015, khối lượng CTR
phát sinh ước đạt khoảng 44 triệu tấn/năm.
Bảng 1.5. Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008
TT
Loại CTR
1
CTR đô thị
4.786.000
179.000
9.078.000
1.023.000
27.868.000
năm 2007 -
Môi trường làng nghề, Hà Nội. [3].
Tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10
÷16% mỗi năm. Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTRSH chiếm khoảng 60 - 70%
tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%) [5].
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị
phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh,
chiếm tới 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị, tương ứng
khoảng 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) [6]. Nhìn chung ở nước ta, lượng chất
thải rắn phát sinh hàng năm chủ yếu có nguồn gốc từ các đô thị, tiếp đến là các
vùng nông thôn. Chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và làng nghề
chiếm tỷ lệ ít hơn nhiều (Hình 1.2).
15
Hình 1.2. Các nguồn phát thải CTR toàn quốc năm 2008
và dự báo cho năm 2015 [3]
1.2.2.2. Phân loại chất thải rắn và tình hình thu gom, vận chuyển
a. Phân loại tại nguồn
Công tác thu gom CTR mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan
tâm, nhưng do lượng CTR ngày càng tăng, năng lực thu gom còn hạn chế cả về
thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu. Mặt khác, do nhận
thức của người dân còn chưa cao nên lượng CTR bị vứt bừa bãi ra môi trường còn
Việc phân loại CTR tại nguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi, vì vậy ở
hầu hết các đô thị nước ta, việc thu gom CTR chưa phân loại vẫn là chủ yếu. Công
tác thu gom thông thường sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp (người dân tự thu
gom vào các thùng/túi chứa sau đó được công nhân thu gom vào các thùng rác đẩy
tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộ gia đình được công nhân thu gom vào
các xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rác chuyên dụng và chuyển đến khu xử
lý hoặc tại các chợ/khu dân cư có đặt con-tainer chứa rác, công ty môi trường đô thị
có xe chuyên dụng chở container đến khu xử lý). [10]
17
Ví dụ như ở Tp. Hồ Chí Minh có 2 trạm trung chuyển lớn: trạm trung chuyển
Quang Trung tiếp nhận 1.084 tấn/ngày, trạm trung chuyển Tống Văn Trân tiếp nhận
820 tấn/ngày. Rác từ 2 trạm trung chuyển này được các xe lớn chuyển tới khu liên
hiệp xử lý CTR Đa Phước, Phước Hiệp và Nhà máy Xử lý rác Vietstar.
Một trong những bức xúc của các đô thị hiện nay trong công tác thu gom
CTR là thiếu các địa điểm trung chuyển rác. Hà Nội chưa có trạm trung chuyển
rác trong khi khoảng cách từ Hà Nội tới khu xử lý rác Nam Sơn khoảng 50km.
Các thành phố khác cũng chưa có trạm trung chuyển rác đúng nghĩa như ở Tp.
Hồ Chí Minh. Theo đánh giá hiện nay, hầu hết các đô thị mới chỉ có các điểm tập
kết rác, tuy vậy, các điểm tập kết này cũng chưa đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ
sinh môi trường.
Công tác xã hội hóa việc thu gom và vận chuyển chất thải đang được thực
hiện rộng rãi ở nhiều nơi. Chỉ ở các đô thị lớn cấp thành phố mới có URENCO đảm
nhận việc thu gom, vận chuyển và xử CTRĐT. Tuy nhiên vẫn có sự tham gia của
các công ty cổ phần hoặc công ty tư nhân. Trên địa bàn TP. Hà Nội, ngoài
URENCO là đơn vị đảm trách chính còn có khoảng gần 30 đơn vị tư nhân và tập
thể khác tham gia thực hiện thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt.
Tại các đô thị nhỏ cấp thị trấn, phần lớn là các hợp tác xã, tổ đội thu gom, tổ