Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng các mô hình đồng quản lý và đề xuất xây dựng một số chính sách tăng cường đồng quản lý trong ngành thủy sản - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------

Đỗ Thị Huyền Trang

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TRONG VÙNG NUÔI NGAO XÃ GIAO XUÂN,
GIAO THỦY, NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------

Đỗ Thị Huyền Trang

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH ĐỒNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TRONG VÙNG NUÔI NGAO XÃ GIAO XUÂN,
GIAO THỦY, NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60 44 03 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN................................................................................................3
1.1. Cơ sở khoa học áp dụng đồng quản lý........................................................................3
1.1.1. Một số khái niệm và quan niệm cơ bản................................................................3
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của ĐQL.................................................................................11
1.1.3. ĐQL là một quá trình.........................................................................................12
1.1.4. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là gì? ........................................................13
1.1.5. Thực trạng quan niệm ĐQL ở Việt Nam............................................................14
1.2. Đồng quản lý thủy sản của một số nước trên thế giới...............................................16
1.2.1. Phân quyền cho cộng đồng trong xác định mục tiêu quản lý.............................16
1.2.2. Lồng ghép tri thức bản địa vào quá trình ĐQL..................................................17
1.2.3. Vấn đề quy mô...................................................................................................17
1.3. Nhu cầu áp dụng đồng quản lý nghề cá.....................................................................18
1.3.1. Sơ lược tiềm năng nguồn lợi .............................................................................18
1.3.2. Tình hình nuôi trồng và vấn đề môi trường ......................................................19
1.3.3. Nhu cầu áp dụng ĐQL trong nuôi trồng thủy sản..............................................19
1.3.4. Sơ lược về tình hình triển khai ĐQL nghề cá ở Việt Nam.................................21
1.4. Bài học rút ra từ việc áp dụng ĐQL..........................................................................22
1.4.1. Xác định rõ phạm vi quản lý, đối tượng và chủ thể quản lý..............................22
1.4.2. Nâng cao nhận thức cho các bên liên quan .......................................................22
1.4.3. Nâng cao năng lực cho các bên liên quan..........................................................22
1.4.4. Lựa chọn hạt nhân quản lý.................................................................................23
1.4.5. Xây dựng cơ chế quản lý hợp lý.........................................................................23
1.4.6. Điều kiện pháp lý để thực hiện mô hình............................................................23
1.4.7. Phát triển sinh kế thay thế..................................................................................24
1.4.8. Sử dụng tốt hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của các nhà tài trợ..........................24
1.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu.................................................................................24
1.5.1. Điều kiện tự nhiên huyện Giao Thủy.................................................................24
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội...................................................................................27
1.5.3. Các lợi thế và hạn chế trong nuôi ngao tại xã Giao Xuân .................................29
CHƯƠNG 2.........................................................................................................................34

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ....................................................................................72


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các đặc điểm chính của hệ thống quản lý nghề cá ............................................5
Bảng 2: Cho điểm đánh giá mức đô đạt được các tiêu chí.............................................38
Bảng 3: Tóm tắt cơ chế quản lý vùng nuôi nhuyễn thể huyện Giao Thủy ...................41
Bảng 4: Thu nhập của các hộ từ hoạt động nuôi ngao năm 2011..................................48
Bảng 5: Ước lượng phần trăm thu nhập của gia đình từ nghề NTTS...........................48
Bảng 6: Tóm tắt tác động của nuôi nhuyễn thể tới cơ cấu ngành nghề xã Giao Xuân 49
Bảng 7: Tổng hợp ý kiến của người dân về nhu cầu xây dựng ĐQL............................49
Bảng 8: Tổng hợp ý kiến về người khởi tạo mô hình ĐQL............................................50
Bảng 9: So sánh một số chỉ tiêu của 2 mô hình ĐQL ngao.............................................59

DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Hệ thống quản lý nghề cá.......................................................................................5
Hình 2: ĐQL là sự cộng tác giữa các bên...........................................................................7
Hình 3: Các kiểu ĐQL và quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng.......................................8
Hình 4: Bản đồ khu vực VQG Xuân Thủy năm 2008....................................................25
Hình 5: ĐQL (đường chéo) lồng ghép hai hệ thống quản lý dựa vào Chính phủ và vào
cộng đồng - hai phần tam giác của hình chữ nhật...........................................................36
Hình 6: Sơ đồ tổ chức đồng quản lý nuôi ngao tại xã Giao Xuân..................................41
Hình 7: So sánh tình trạng nguồn nước cách đây 10 năm và hiện nay.........................42
Hình 8: So sánh tình trạng ngao giống cách đây 10 năm và hiện nay...........................43
Hình 9: So sánh năng suất ngao hiện nay so với 10 năm trước.....................................44
Hình 10: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý HTX, tập đoàn quản lý khai thác ngao Bến
Tre .......................................................................................................................................58
(Nguồn: Sở NN&PTNT Bến Tre)......................................................................................58



Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng
Nuôi trồng thủy sản
Các tổ chức phi chính phủ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quản lý dựa vào cộng đồng
Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
Rừng ngập mặn
Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á
Hợp phần tăng cường quản lý khai thác thủy sản
Tài nguyên và Môi trường
Vườn Quốc gia
Ủy ban Nhân dân
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

MỞ ĐẦU
Việt Nam có lợi thế phát triển thủy sản nhờ tính đa dạng của các kiểu loại sinh
cảnh và các thủy vực. Nghề thủy sản cũng là nghề truyền thống ở các vùng nông
thôn, gắn với sinh kế của người dân. Đến nay mặc dù thủy sản đã trở thành một
trong 10 ngành kinh tế xuất khẩu đứng đầu ở nước ta, nhưng về bản chất vẫn là một
nghề cá nhỏ (small-scale fisheries), trước kia còn gọi là “nghề cá nhân dân”. Bởi
vậy, phương thức quản lý nghề cá có sự tham gia của người dân địa phương
(participatory management), quản lý dựa vào cộng đồng (community-based
management) và đồng quản lý (ĐQL, co-management) đã được quan tâm áp dụng.
Các phương thức quản lý nói trên đã được áp dụng trong lĩnh vực quản lý thủy


Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc áp dụng đồng quản lý vẫn còn tồn
tại các hạn chế như kém ổn định và chưa phát huy tác động tích cực khi dự án kết
thúc. Mặt khác còn thiếu các cơ chế, chính sách đảm bảo cho người dân được tham
gia đầy đủ, chủ động và hiệu quả vào quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý
môi trường và nguồn lợi thủy sản. Vì thế, khả năng nhân mô hình ra diện rộng gặp
nhiều khó khăn.
Trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý môi
trường, tôi chọn địa điểm vùng nuôi ngao tại xã Giao Xuân, Giao Thủy, Nam
Định. Đây là một trong 5 xã vùng đệm của Vườn Quốc Gia (VQG) Xuân Thủy có
hoạt động nuôi ngao tập trung, chiếm khoảng trên 50% diện tích nuôi ngao trong
toàn huyện.
Với đặc điểm là xã vùng đệm của VQG, Giao Xuân có nhiều vấn đề trong việc
kết hợp các hoạt động phát triển với hoạt động bảo tồn. Đáp ứng nhu cầu đó, với sự
hỗ trợ của Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), cuối
năm 2009 tổ hợp tác nuôi ngao bền vững ra đời với phương thức sản xuất thân thiện
với môi trường. Tháng 8 năm 2011, tổ hợp tác đã gia nhập trở thành hội viên của
Hội nhuyễn thể huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và có những đóng góp đáng kể
trong hoạt động của hội này.
Nhìn chung, đồng quản lý khi được áp dụng đã đạt được những thành công
nhất định trong đó phải kể đến tình trạng con giống được cải thiện, xây dựng được
thương hiệu Ngao sạch Giao Thủy và quan trọng là vấn đề môi trường, mâu
thuẫn/xung đột lợi ích được cải thiện đáng kể.
Luận văn “Hoàn thiện mô hình đồng quản lý môi trường trong vùng nuôi
ngao tại xã Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định” với mục tiêu đánh giá thực trạng
và hiệu quả áp dụng phương thức ĐQL vùng nuôi ngao; rút ra những bài học kinh
nghiệm trong áp dụng đồng quản lý để bảo vệ môi trường vùng nuôi ngao tại xã
Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định. Từ đó mạnh dạn đưa ra những đề xuất giải pháp

cả các nước phát triển và đang phát triển.
- Khái niệm ĐQL lần đầu tiên được Kearney (1984) nhắc đến với một ý nghĩa
sơ sài về sự hợp tác trong quản lý nguồn lợi cá trích tại vùng biển Canada. Nhiều
nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là Jentoft (1989) và Pinkerton (1989) đã phát triển
khái niệm này dưới góc độ xã hội học và thể chế. Khung phân tích và những hướng
dẫn thiết lập ĐQL được Oakerson (1992) và Tổ chức các nước phát triển OECD
(1996) xây dựng. Phân loại ĐQL đã được Sen và Raakjaer Nielsen (1996) giới thiệu.
Khái niệm ĐQL đã được sử dụng như là một cách thiết lập cơ chế về quản lý nguồn lợi,
mà không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các trường hợp cụ thể.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐQL trong các kết quả nghiên cứu, triển
khai mô hình của các nhà khoa học ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt
Nam. Theo đó, ĐQL được hiểu là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan
Nhà nước và người sử dụng nguồn lợi (cộng đồng) thông qua các hình thức hợp tác.

Khoa Môi trường

3

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

Ngân hàng Thế giới định nghĩa ĐQL là “sự chia sẻ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ
giữa các bên tham gia, cụ thể, đó là cộng đồng địa phương và Nhà nước: là một cách
phi tập trung hóa quá trình ra quyết định với sự bình đẳng giữa các bên” (The World
Bank, 1999) [2]. Ngoài hai thực thể chính là những người trực tiếp sử dụng nguồn lợi
và Nhà nước, các nhóm người khác như các nhà khoa học, hội nghề nghiệp,…cũng có

Luận văn tốt nghiệp

2
Quản lý dựa vào chính phủ

Đồng quản lý

3

4

Quản lý mở, tự do

0

Quản lý dựa vào cộng đồng

Quản lý dựa vào cộng đồng

Hình 1. Hệ thống quản lý nghề cá
Theo Jentoft (1989) đặc điểm cơ bản của hệ thống quản lý nghề cá là: khởi
xướng, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát, quyền tự quản và sự tham gia, mà chi tiết được
thể hiện trong bảng 1 [2].
Bảng 1: Các đặc điểm chính của hệ thống quản lý nghề cá
TT
1
2
3

Các đặc điểm

Kiểm soát
Quyền tự quản
Tham gia

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT
Trung ương
Không
Không

Giao quyền
Ít


Giao quyền



Như vậy, có thể hiểu ĐQL nằm trung gian giữa 2 phương thức: Quản lý dựa
vào chính quyền và cộng đồng tự quản. Nó là điểm gặp giữa sự quan tâm của Chính
phủ trong việc quản lý và bảo vệ nguồn lợi hiệu quả và sự quan tâm của cộng đồng
với những cơ hội ngang nhau, tự quyết định, tự kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với
qui định đã được khởi xướng.
Từ các nguyên tắc và thực tiễn quản lý như vậy, có thể xem ĐQL như là một
sự sắp xếp, phối hợp, trong đó cộng đồng của những người sử dụng nguồn lợi địa
phương (ngư dân), chính quyền và các bên tham gia khác (chủ tàu cá, nậu vựa,
doanh nghiệp,…) và các cơ quan đại diện bên ngoài (các tổ chức phi chính phủ,
Viện nghiên cứu và trường đại học) đều chia sẻ quyền hạn và trách nhiệm đối với
việc quản lý nghề cá (Hình 2) [13].
Thông qua việc tư vấn và thương thuyết, các bên tham gia đã tiến hành một
thoả thuận chính thức về vai trò, trách nhiệm và quyền hạn tương ứng trong việc


Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

Quản lý dựa vào nhà nước

Luận văn tốt nghiệp

Thông tin
Tư vấn
Hợp tác
Tham vấn
Truyền
đạt

ĐỒNG QUẢN LÝ
Thông báo
Lấy ý kiến
Hợp tác
Phổ biến thông tin
Trao đổi thông tin
Tham vấn
Hành động phối hợp
Đối tác
Kiểm sóat cộng đồng
Điều phối liên vùng

Hình 3: Các kiểu ĐQL và quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
(Theo Sen & Raakjaer Nielsen, 1996; Pomeroy, 2008)

Theo sơ đồ các kiểu ĐQL nói trên, có thể thấy:

d) Vai trò của quản lý của các bên liên quan
Vai trò của Nhà nước trong quá trình ra quyết định
Trong các kiểu ĐQL mà ở đó Nhà nước giữ vai trò chính thì quá trình ra quyết
định thuộc về Nhà nước. Mọi quyết định và thay đổi sẽ được truyền đạt xuống dưới,
Nhà nước chỉ đối thoại hoặc tham khảo ý kiến cộng đồng khi cần thiết. Ngược lại,
với kiểu ĐQL thiên về cộng đồng thì Nhà nước lại giữ vai trò rất hạn chế. Quá trình
ra quyết định thuộc về cộng đồng. Nhà nước chỉ đóng vai trò tư vấn hoặc thậm chí
chỉ là người nhận thông tin sau khi đã có quyết định từ phía cộng đồng.
ĐQL không có nghĩa là giao phó toàn bộ nguồn lợi cho cộng đồng mà ở đây
Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập và vận hành các thiết
chế quản lý. Vai trò của Nhà nước thể hiện ở 3 khía cạnh sau [13]:
(1) Đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lợi: nếu thiếu vắng sự kiểm
soát của Nhà nước, nguồn lợi chung sẽ rơi vào tình trạng “tự do đánh bắt” như
Hardin (1968) đã mô tả; (2) Đảm bảo tính công bằng: Nhà nước đóng vai trò như là
điều phối viên để cho các nhóm sử dụng khác nhau, nhất là nhóm người sử dụng
nguồn lợi cho mục đích sinh kế, có cơ hội được khai thác nguồn lợi như nhau; (3)
Vai trò quản lý hành chính: chỉ có Nhà nước mới đủ năng lực để đảm bảo các quy
định được thực thi.

Khoa Môi trường

9

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT



Khoa Môi trường

10

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

địa phương). Tùy thuộc vào chức năng quản lý và bối cảnh chính trị - xã hội mà một
số công việc quản lý được phi tập trung hóa, còn số khác thì giao cho đại diện.
Nhóm sử dụng còn có thể tham gia vào các bước của quá trình quản lý đó là:
Lập kế hoạch, thực hiện, và đánh giá. Tình huống lý tưởng nhất là nhóm sử dụng có
quyền tham gia vào tất cả các bước này. Tuy nhiên trong quá trình thiết lập ĐQL cần
phải tính đến hiệu quả của chi phí cho các bước thực hiện. Trong giai đoạn lập kế
hoạch, sẽ tốn chi phí ít hơn nếu toàn bộ công việc thiết kế được làm tập trung thay vì
đưa xuống để chờ các bên cùng hợp tác. Ngược lại, các giai đoạn thực hiện, giám sát
và chế tài sẽ tốn kém hơn nếu thực hiện theo hướng tập trung (tức không có sự tham
gia tích cực của nhóm sử dụng) vì khi đó người sử dụng sẽ không thấy tính chính
đáng trong các quy định và thực hiện. Ngược lại, trong trường hợp thiếu thông tin,
ngư dân sẽ là người cung cấp nhiều thông tin trong quá trình hoạch định và thực
hiện, và do đó sẽ làm giảm chi phí giao dịch.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của ĐQL
a) Sự tham gia của các bên liên quan
Sự tham gia chia sẻ của cộng đồng sẽ tạo ra tính hợp pháp của các quy định
quản lý, ít nhất, theo Jentoft (1989) trên 4 góc độ sau: (i) Nội dung của các quy định
sẽ phù hợp và sát với những vấn đề cộng đồng đang vấp phải hoặc đối mặt; (ii) Các

cấm (hoặc kiểm soát quyền sử dụng) đối với người sử dụng tiềm năng. Thứ hai,
nguồn cung có hạn đó là, nếu người này sử dụng thì sẽ làm giảm lợi ích của người
khác.
ĐQL là một cách sắp xếp điều hành được đặt giữa 2 chế độ: Sở hữu Nhà
nước thuần túy và sở hữu tập thể thuần túy. Mức độ giúp đỡ từ Nhà nước sẽ phụ
thuộc vào thiện ý của Nhà nước trong việc hỗ trợ các hệ thống sở hữu tập thể.
1.1.3. ĐQL là một quá trình
ĐQL không phải là một phương thức để giải quyết mọi vấn đề của quản lý
nghề cá, mà là một quá trình quản lý nguồn lợi: hoàn thiện kế hoạch, điều chỉnh và
thích nghi các điều kiện thay đổi theo thời gian. ĐQL bao hàm các khía cạnh của
dân chủ cơ sở, chia sẻ quyền hành và sự phân cấp quản lý. ĐQL có khả năng thích
nghi thông qua một quá trình học hỏi, thông tin được chia sẻ cho các đối tác, điều đó
sẽ dẫn đến một quá trình cải tiến và thay đổi liên tục trong quản lý. Thông qua ĐQL,
các đối tác sẽ tích cực đóng góp và phối hợp cùng nhau trong việc quản lý nghề cá.
Họ chia sẻ các chi phí và lợi ích, thành công cũng như thất bại.
ĐQL là một chiến lược quản lý mang tính tham gia, có khả năng cung cấp và
duy trì một diễn đàn hoặc một cơ cấu hoạt động quyền lực, xây dựng quy chế, qui
định, quản lý xung đột, chia sẻ quyền, học hỏi xã hội, đối thoại và phát triển giữa
các bên tham gia. ĐQL là một quy trình theo xu hướng cùng nhận biết các giá trị,
nhu cầu về mối quan tâm khác nhau liên quan đến việc quản lý nguồn lợi.
Việc thiết lập và thực hiện ĐQL có thể khá phức tạp, tốn kém và đôi khi gặp
khó khăn. Nghiên cứu cho thấy rằng có thể mất 3-5 năm để tổ chức và khởi xướng
các hoạt động và can thiệp ĐQL tại cấp độ cộng đồng. Nó cũng sẽ mất từng đó thời

Khoa Môi trường

12

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


và bên ngoài cộng đồng. Chính quyền có thể đóng vai trò thứ yếu trong QLDVCĐ,
ngược lại, ĐQL từ định nghĩa trên cho thấy chính quyền có vai trò rất quan trọng.
Những người tham gia QLDVCĐ đôi khi nhìn nhận chính quyền như một
người ngoài cuộc và thậm chí là đối tác, được đưa vào trong quá trình chỉ khi đã ở
giai đoạn cuối. Mặt khác, các chiến lược ĐQL liên quan đến các cơ quan chính

Khoa Môi trường

13

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

quyền, các nhà quản lý nguồn lợi và các cán bộ được bầu đều bình đẳng cùng với
cộng đồng và các bên tham gia cùng xây dựng sự tin tưởng giữa người tham gia.
Khi QLDVCĐ được cân nhắc là một bộ phận cần thiết của ĐQL, nó có thể
được gọi là ĐQL dựa vào cộng đồng (community-based comanagement). ĐQL dựa
vào cộng đồng gồm các đặc tính của cả QLDVCĐ và ĐQL: lấy con người làm trung
tâm, định hướng cộng đồng, dựa vào nguồn lợi và sự phối hợp. Vì vậy, ĐQL dựa
vào cộng đồng coi cộng đồng là trọng tâm, đồng thời nhận thấy rằng để thực hiện
được việc đó cần phải có mối liên kết ngang (xuyên suốt cộng đồng) và dọc (với bên
ngoài các tổ chức và cơ quan cộng đồng như chính quyền). ĐQL dựa vào cộng đồng
được khởi xướng bởi Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) và
thường phổ biến ở các nước đang phát triển do nhu cầu phát triển tổng thể kinh tế và
cộng đồng và quyền lực xã hội, và quản lý nguồn lợi.
1.1.5. Thực trạng quan niệm ĐQL ở Việt Nam

sản, UBND xã) và có thể có sự tham gia của các tổ chức quần chúng- xã hội (Hội phụ
nữ, Thanh niên,…), các tổ chức hội nghề nghiệp (Hội nông dân, nghề cá,…), đều có
sự hỗ trợ của các cơ quan (viện, trung tâm), các ngành liên quan (công an, dân
phòng,...), các tổ chức quốc tế ở những mức độ khác nhau trong mỗi mô hình. Có sự
khác biệt tương đối, nhưng cũng không rõ nét, ở đây là một số mô hình có sự tham gia
nhiều hơn và tích cực hơn của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan liên quan
trong các hoạt động quản lý.
Trên cơ sở tìm hiểu những định nghĩa đã có về ĐQL và quản lý trên cơ sở cộng
đồng, kết hợp với thực tế diễn ra tại các địa điểm nghiên cứu ở Việt Nam và một số
nước đang phát triển có thể tóm tắt như sau:
- Tuy không phân biệt được rạch ròi nhưng có thể thấy được sự khác biệt giữa
các mô hình ĐQL và QLDVCĐ về mức độ tham gia (nhiều hay ít, tích cực hay
chưa) của chính quyền các cấp cũng như các cơ quan liên quan trong các hoạt động
quản lý.
- QLDVCĐ là nhân tố trung tâm của ĐQL và con đường dẫn đến ĐQL.
- ĐQL không chỉ dừng lại trong lĩnh vực quản ý nguồn lợi thuỷ sản mà còn mở
rộng ra trên các lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất (thực hiện đúng quy trình nuôi
trồng thuỷ sản, giảm ô nhiễm môi trường), tín dụng (Ngân hàng cộng đồng), kinh
doanh tiêu thụ sản phẩm (Chợ cá cộng đồng).
Ngoài ra, ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ đã thực hiện một số chủ trương như:
“Nhà nước và nhân dân cùng làm” và “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
nhằm phát huy dân chủ và quyền làm chủ ở cơ sở. Do đó thuật ngữ ĐQL dễ hiểu và
gần gũi với người dân Việt Nam, phù hợp với các quy định quản lý của Chính phủ.
Mức độ chia sẻ trách nhiệm và hợp tác quản lý giữa Nhà nước và cộng đồng
người sử dụng nguồn lợi/lao động nghề cá theo mỗi vùng nước, ngành nghề, đặc
điểm kinh tế-xã hội, văn hoá của mỗi vùng, mục đích quản lý và bảo vệ nguồn lợi
khác nhau sẽ khác nhau.

Khoa Môi trường


kết thuận lợi cho hợp tác và liên kết. Vai trò của Chính phủ trong việc thiết lập điều
kiện để hình thành ĐQL là tạo ra tính chính đáng và tin cậy của các tổ chức và thể
chế. Kinh nghiệm từ Bangladesh, Nhật và Nauy cho thấy: Nhà nước đóng một vai trò
tối quan trọng trong việc cung cấp các cơ sở pháp lý để hình thành ĐQL. Bên cạnh việc
kêu gọi cộng đồng và người dân tham gia, Chính phủ phải thiết lập được các quyền
pháp lý mang tính bảo đảm, và đồng thời phải phân cấp và phân quyền cho cộng đồng.
Quá trình thiết lập ĐQL đòi hỏi những thay đổi trong bộ máy quản lý của
chính quyền, lúc này tham gia như là một đối tác. Việc phân cấp, giao quyền cho
cộng đồng cũng đồng nghĩa với giảm quyền của một bộ phận cơ quan quản lý Nhà

Khoa Môi trường

16

Trường ĐH Khoa học Tự nhiên


Luận văn tốt nghiệp

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

nước. Để vận hành được quá trình ĐQL, cần thiết phải đào tạo và phát triển các kỹ
năng chuyên nghiệp mới cho cả nhân viên thuộc cơ quan nhà nước lẫn cộng đồng.
Những thay đổi như vậy sẽ là cơ hội đi đến hợp tác giữa nhà nước và người sử dụng
nguồn lợi.
1.2.2. Lồng ghép tri thức bản địa vào quá trình ĐQL
Một vấn đề rất phổ biến trong quản lý nghề cá là sự khác nhau trong hiểu biết
nguồn lợi giữa cộng đồng người dân, các nhà khoa học và Chính phủ. Hệ thống
quản lý tập trung dựa chủ yếu vào các nghiên cứu trên các khía cạnh sinh học (nghề
cá Việt Nam) được đưa ra từ các Trường và Viện nghiên cứu. Hiểu biết, nhận thức

Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT

Phần lớn các nghiên cứu về ĐQL chỉ mới thực hiện ở phạm vi quy mô địa
phương bao gồm một vài cộng đồng. Bài học từ những nghiên cứu này do đó chưa
thể đảm bảo cho việc triển khai áp dụng ở quy mô lớn. Câu hỏi đặt ra là liệu có thể
triển khai ĐQL ở quy mô lớn hay không?. Nielsen (2004) đã chỉ ra, để áp dụng ĐQL
ở quy mô lớn thì một số nguyên tắc thiết kế mang tính chuẩn như sau cần được tuân
thủ: Xác định rõ ràng ranh giới vùng áp dụng; sự tương thích giữa quy định đưa ra
với điều kiện địa phương; việc thiết lập phải mang tính lựa chọn tập thể; tiêu chuẩn
giám sát, hình phạt phải được quy định; cơ chế giải quyết xung đột và sự xác nhận
tối thiểu về các quyền quy định. Kinh nghiệm từ Philipine và Bangladesh cho thấy
ĐQL có thể thành công ở quy mô lớn. Trong trường hợp của Bangladesh cần phải
ghi nhận vai trò quan trọng của các Tổ chức phi chính phủ (NGOs).
1.3. Nhu cầu áp dụng đồng quản lý nghề cá
1.3.1. Sơ lược tiềm năng nguồn lợi
Việt Nam là một quốc gia có tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên và các
thuỷ vực đặc trưng cho môi trường nước ngọt, lợ và mặn. Đó là những tiền đề quan
trọng đối với khả năng phát triển một ngành thuỷ sản mạnh và đa dạng. Thuỷ sản
nước ta có thể phát triển ở tất cả các loại hình mặt nước và trên các vùng tự nhiên sinh thái khác nhau từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo. Vì
thế, sản xuất thuỷ sản cũng là một nghề có truyền thống lâu đời, rất gần gũi với
người dân ở các vùng nông thôn ven biển, vùng sâu, vùng xa; là chỗ dựa sinh kế
cho các cộng đồng dân cư, đặc biệt người dân nghèo [2].
Số liệu gần đây nhất do Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng công bố cho thấy
tổng trữ lượng cá biển Việt Nam là 5.075.143 tấn, khả năng khai thác bền vững tối đa là
2.147.444 tấn [ 5]. Bên cạnh nguồn lợi cá, biển Việt Nam còn có một trữ lượng đáng kể
về nguồn lợi tôm, mực, cua, nhuyễn thể, rong câu,…
Theo ước tính tổng diện tích các thuỷ vực nước ngọt của Việt Nam được dùng
cho khai thác và nuôi trồng thủy sản là 1,4.10 6 ha. Các loài thuỷ sản phong phú: cá
nước ngọt có 544 loài, trong đó cá kinh tế có 97 loài, cá biển có 2.030 loài, trong đó
có trên 100 loài cá kinh tế, có 225 loài tôm biển, 53 loài mực, 653 loài rong, 298 loài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status