BỘ CÔNG THƯƠNG
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC ĐẾN NĂM 2020
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
(Đã hoàn thiện sau khi nghiệm thu chính thức nhiệm vụ KH&CN)
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC,
CÔNG NGHỆ VÀ TRANG THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM
CÁC CƠ SỞ HÓA DƯỢC VIỆT NAM
Mã số: CNHD.ĐT.012/10-11
Cơ quan chủ trì Đề tài:
Trung tâm Dữ liệu và Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất
Chủ nhiệm Đề tài:
ThS Nguyễn Thị Thúy Hà
8836
HÀ NỘI 2011
BỘ CÔNG THƯƠNG
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC ĐẾN NĂM 2020
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
Chủ trì đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thúy Hà
Chức vụ: Chuyên viên - Trung tâm Dữ liệu và Hỗ trợ ứng phó sự cố hóa chất
Stt Họ và tên
Chuyên ngành
đào tạo
Đơn vị công tác
1 TS. Nguyễn Xuân Sinh
Công nghệ Hóa
học
TT Dữ liệu và Hỗ trợ ứng phó
sự cố hóa chất
2
ThS. Nguyễn Thị Thúy
Hà
Công nghệ môi
trường
nt
3 TS. Lưu Hoàng Ngọc
Công nghệ Hóa
học
Cục Hóa chất
4 KS. Phạm Ngọc Thảnh
Công nghệ Hóa
học
Cục Hóa chất
5 Th.S. Trần Kim Liên
14 Các cộng tác viên khác
i
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 7
1.3 Đối tượng và phạm vi của đề tài 7
1.4 Các nội dung chính của đề tài 8
1.5 Các sản phẩm chính của đề tài 8
1.6 Phương pháp thực hiện 9
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 10
2.1 Tổng quan về ngành hóa dược của một số nước và của Việt Nam 10
2.1.1 Tổng quan về ngành hóa dược của một số nước trên thế giới 10
2.1.2 Tổng quan về ngành hóa dược của Việt Nam 13
2.1.2.1 Ngành công nghiệp Dược Việt Nam 13
2.1.2.2 Tài nguyên sử dụng làm nguyên liệu sản xuất hóa dược 17
2.1.2.3 Một số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nguyên liệu hóa dược 22
2.1.2.4 Tổng quan về cơ sở vật chất, kỹ thuật - công nghệ 25
2.1.2.5 Tổng quan về nhân lực và đào tạ
o nguồn nhân lực 28
2.1.2.6 Xu thế phát triển ngành công nghiệp hóa dược 28
2.2 Kết quả điều tra thực trạng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, 40
trang thiết bị cơ sở hóa dược Việt Nam
2.2.5.2 Đánh giá chung 85
2.3 Đề xuất xây dựng Phòng thí nghiệm chuyên ngành Hóa dược 86
2.3.1 Cơ sở pháp lý để xây dựng PTN chuyên ngành Hóa dược 86
2.3.2 Tính cấp thiết và mục tiêu chung xây dựng Phòng thí nghiệm 86
chuyên ngành Hóa dược
2.3.2.1 Tính cấp thiết 86
2.3.2.2 Mục tiêu chung 89
2.3.3 Các hướng nghiên cứu - triển khai phục vụ phát triển 90
công nghiệp Hóa dược của các cơ sở nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.4 Đề xuất định hướng xây dựng Phòng thí nghiệm chuyên ngành 94
công nghiệp Hóa dược
2.3.4.1 Lĩnh vực nghiên cứu 94
2.3.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng thí nghiệ
m 94
2.3.4.3 Mô hình tổ chức nghiên cứu 96
2.3.4.4 Phác thảo nội dung đầu tư 97
2.3.4.5 Các phương án quản lý và hoạt động của Phòng thí nghiệm 102
2.3.4.6 Vai trò và vị trí của PTN chuyên ngành Hóa dược 106
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
ACA amino cefalosporanic acid
APA aminopenicilillanic acid
BYT Bộ Y tế
BTC Bộ Tài chính
CA cefalosporin acylate
TSKH Tiến sỹ khoa học
ThS Thạc sỹ
TYT Trạm y tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTLT Thông tư liên tịch
1
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Tại Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg, ngày 07 tháng 5 năm 2007, Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm
quốc gia phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2020” (gọi tắt là Chương trình
Hóa dược) với các nhiệm vụ chủ yếu:
1. Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai và sản
xuất thử nghiệm sản phẩm ở
quy mô pilot phục vụ phát triển ngành công
nghiệp hóa dược;
2. Xây dựng tiềm lực cho nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ phát triển
ngành công nghiệp hóa dược;
3. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp hóa dược;
4. Góp phần xây dựng và phát triển ngành công nghiệp hóa dược thông qua
ứng dụng kết quả nghiên cứu, tăng cường năng lực nghiên cứu, sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực.
Chương trình hóa dược đượ
c coi là một trong những giải pháp quyết liệt
nhằm đạt được các mục tiêu mà “Chiến lược phát triển ngành dược đến năm 2010”
do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 8 năm 2002 đã đặt ra: i) Đổi mới
(%)
2001 472.356 170.39 36,10 100,00
2002 525.807 200.29 38,10 117,55
2003 608.699 241.87 39,74 120,76
2004 707.535 305.95 43,24 126,48
2005 817.396 395.157 48,34 129,16
2006 956.353 475.403 49,71 120,31
2007 1.136.353 600.630 52,86 126,34
2008 1.425.657 715.435 50,18 125,00
2009 1.696.135 831.205 49.00 119.00
Nguồn: Cục Quản lý Dược Việt Nam
Về chi phí tiền thuốc tính bình quân đầu người năm 2009 đạt 19,77 USD,
tăng 19,6% (3,22 USD) so với năm 2008 và tăng 177% so với năm 2000 (11,15
USD) (hình 1.1). Hình 1.1. Tốc độ tăng trưởng tiền thuốc bình quân đầu người từ năm 2000 đến 2009
3
Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng năm 2009 đạt 1,697 triệu USD, tăng 19,4% so
với năm 2008, trong đó tổng trị giá tiền thuốc sản xuất trong nước đạt 831,205 triệu
USD, tăng 16,5% so với năm 2008 (hình 1.2).
+ Mức độ 3: Có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic, xuất khẩu được
một số dược phẩm.
+ Mức độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.
Căn cứ vào phân loại trên của WHO và từ thực t
ế Việt Nam vẫn thuộc một
trong hơn 80 nước trên thế giới có nền công nghiệp bào chế sản xuất thành phẩm
dựa chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu của nước ngoài thì có thể thấy Việt Nam
hiện đang ở mức cận 3.
Với mục tiêu nhằm từng bước giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn nguyên
liệu hóa dược nhập khẩu từ nước ngoài, Chính ph
ủ đã có chương trình trọng điểm
về công nghiệp hóa dược đến năm 2020 với một khoản đầu tư kinh phí đáng kể.
Chương trình hiện đã và đang được triển khai và đã thu hút được đông đảo các
chuyên gia hóa dược và các lĩnh vực liên quan tham gia.
Trong số hơn 2000 dược chất hiện đang được sử dụng để phòng và chữa bệnh
hiện nay, thì có khoảng 10 % (tức khoảng 200 dược ch
ất) còn đang trong thời hạn
bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ và đây là số dược chất mà đại đa số các quốc gia
phải hoàn toàn phụ thuộc. 90 % nguyên liệu hóa dược còn lại (tức khoảng 1800
dược chất) là những thuốc generic mà các nước, trong đó có nước ta, hoàn toàn có
thể lựa chọn để tự triển khai sản xuất phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc xuất
kh
ẩu và đây cũng là những đối tượng mà Chương trình hóa dược có thể khai thác.
Thực tế trong hơn một thập niên qua, nhiều nhóm nghiên cứu tổng hợp hóa dược đã
và đang nghiên cứu triển khai quy trình tổng hợp hoặc chiết xuất khá nhiều nguyên
liệu hóa dược ở quy mô phòng thí nghiệm trong nước như zidovudin, cisplatin,
glibenclamid, cyclophosphamid, v.v….(bảng 1.2).
Bảng 1.2. Một số hóa dược đã và đang được nghiên cứu triển khai điều chế
ở quy mô phòng thí nghiệm trong nước
STT Nhóm thuốc Tên thuốc
2. Một số hóa dược có nguồn gốc dược liệu: berberin, palmatin, rutin,
Mangiferin, rotundin, methol, artemisinin, artesunat, artemether, terpin
hydrat, v.v
Một trong các nguyên nhân là ta chưa nghiên cứu được các quy trình công
nghệ hóa dược tiên tiến dẫn đến hiệu suất và giá thành sản phẩm chưa thể cạnh
tranh được với các nguyên liệu nhập khẩu từ các nhà cung cấp của nước ngoài như
Trung Quốc, Ấn Độ, v.v… Qua khảo sát sơ bộ các nghiên cứu đã thực hiện cũng
cho thấy hầu h
ết các đề tài nghiên cứu triển khai tổng hợp nguyên liệu hóa dược
trong nước đều gặp không ít khó khăn dẫn đến phải kéo dài thời gian nghiên cứu do
các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan. Ngoài các nguyên nhân khách
quan như sự chậm trễ về kinh phí, nguyên liệu hóa chất thì các nguyên nhân chủ
quan cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và tiến độ các đề tài như thiếu về trang
thiết bị, số lượng cũng như trình
độ cán bộ nghiên cứu còn chưa đủ để đáp ứng yêu
cầu của các nghiên cứu có trình độ cao và phức tạp. Các đề tài đã được phê duyệt
thực hiện trong thời gian vừa qua thường có kinh phí tương đối hạn chế và được chủ
trì bởi nhiều tổ chức khác nhau tại các phòng thí nghiệm khác nhau. Việc trang bị
các thiết bị nghiên cứu vì thế cũng không đồng bộ, đầy đủ và không tập trung. Một
s
ố thiết bị sau khi đề tài nghiên cứu kết thúc không được tiếp tục khai thác sử dụng
tại tổ chức chủ trì đề tài, trong khi các tổ chức nghiên cứu khác cần lại khó tiếp cận
6
sử dụng gây lãng phí lớn. Việc kết hợp phối hợp giữa các nhà khoa học, các cơ
quan nghiên cứu với các Doanh nghiệp chưa được đồng bộ và thiếu cơ chế. Chính
vì vậy mà trong những năm vừa qua mặc dù tổng ngân sách nhà nước đầu tư cho
nghiên cứu nói chung và nghiên cứu tạo nguyên liệu hóa dược trong nước nói riêng
không nhỏ song hiệu quả mang lại chưa được thực sự tương xứng.
Một
ng đi mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng trong các thập
niên vừa qua, điển hình là Hàn Quốc những năm 80 và Trung Quốc những năm 90
7
của thế kỷ trước, hai nước có nhiều điểm tương đồng với nước ta và đã trải qua các
giai đoạn phát triển về khoa học công nghệ tương tự như ta đang trải qua hiện nay.
Phòng thí nghiệm chuyên ngành về công nghệ hóa dược cùng các phòng thí nghiệm
hiện tại liên quan tại các cơ sở nghiên cứu đào tạo trong nước sẽ là nơi được trang
bị đầy đủ và tập trung các trang thi
ết bị đặc thù và hiện đại phục vụ cho các nghiên
cứu triển khai sản xuất các nguyên liệu hóa dược trong nước và từng bước hướng
tới nghiên cứu tạo các nguyên liệu hóa dược mới với các labo chuyên sâu về tổng
hợp hóa dược, chiết xuất và tổng hợp bằng công nghệ sinh học.
Nhằm mục đích định hướng cho việc đầu tư trang thiết bị hiện đại cũng như
đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trình độ cao cho công nghiệp hóa dược,
việc rà soát đánh giá thực trạng nhân lực, trang thiết bị và trình độ công nghệ của
các cơ sở nghiên cứu cũng như hoạt động trong lĩnh vực hóa dược trong nước và
tham khảo một số cơ sở nghiên cứu triển khai hóa dược của nước ngoài là việc làm
hết sức cần thiết.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Trong nghiên cứu này, mô hình hoạt động, các trang bị cần thiết và nhân lực
cho Phòng thí nghiệm chuyên ngành Hóa dược sẽ được xây dựng và đề xuất dựa
trên cơ sở: Các Kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng nhân lực, trang
thiết bị, trình độ khoa học công nghệ của các cơ sở hóa dược toàn quốc; kết hợp với
việc tham khảo các mô hình hoạt động, trang bị và nhân lực của một số phòng thí
nghiệm hóa dượ
c và cơ sở sản xuất hóa dược nước ngoài.
Mục tiêu của đề tài:
+ Tổng quan được thực trạng nguồn nhân lực, công nghệ, thiết bị thí nghiệm
số nước và Việt Nam
Đáp ứng được mục tiêu của đề tài
2 Báo cáo về nguồn nhân lực, công nghệ
và trang thiết bị phòng thí nghiệm của
Việt Nam
Nội dung phản ánh được hiện trạng nguồn nhân
lực, công nghệ và trang thiết bị phòng thí
nghiệm của Việt Nam và đáp ứng được mục tiêu
đề tài;
3 Báo cáo nội dung nhân lực, công nghệ
và trang thiết bị một cơ sở hóa dược tại
Hàn Quốc
Nội dung phản ánh được hiện trạng nguồn nhân
lực, công nghệ và trang thiết bị phòng thí
nghiệm của 1 số cơ sở hóa dược tại Hàn Quốc;
4 Bản đề xuất xây dựng mô hình phòng
thí nghiệm chuyên ngành Hóa dược
Đề xuất đáp ứng được mục tiêu đề tài và phù
hợp với ngành hóa dược Việt Nam
5 Báo cáo tổng kết đề tài Báo cáo phản ánh đúng quá trình thực hiện đề
tài; nội dung đáp ứng được các mục tiêu cụ thể
mà đề tài đã đặt ra;
9
1.6 Phương pháp thực hiện đề tài
Phương pháp kế thừa
Thu thập các tài liệu, các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án, đề
tài khoa học, các đề án quốc tế… liên quan đến lĩnh vực Hóa dược trong thời gian
qua;
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án trước đây thuộc Chương
nghệ gen v.v Tất cả những nguyên liệu thuốc bao gồm: nhóm nguyên liệu kháng
sinh, vitamin, hormon, sulfamid, gây mê, giảm đau, cảm sốt, chống sốt rét, chống
lao, hủi, alcaloid, glucosid, tá dược và phụ gia v.v. đều là sản phẩm của công nghiệp
hóa dược.
Công nghi
ệp hóa dược chỉ thực sự có tốc độ phát triển cao từ sau khi xuất
hiện phương pháp điều trị bệnh bằng hóa học trị liệu của Erhlich. Sau chiến tranh
thế giới II, công nghiệp hóa dược có những bước phát triển mạnh, trong vòng 20
năm, ngành công nghiệp hóa dược ở Mỹ tăng 9 lần; Liên Xô cũ tăng 4,8 lần; Nhật
Bản tăng 21 lần; Đức, Ý, Anh, Pháp và nhiều nước khác đều tă
ng nhanh.
Sự phát triển của công nghiệp hóa dầu đã tạo ra hơn 300 loại hóa chất cơ bản
và trung gian với giá rẻ, điều này đã giúp cho công nghiệp hóa dược có thể sản xuất
ra các sản phẩm hóa dược với sản lượng lớn và giá thành rẻ hơn nhiều lần.
Những tiến bộ trong công nghệ sinh học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ
gen và sinh học phân tử đã giúp cho việc sả
n xuất ra các chất hóa dược với sản
lượng lớn hơn và giá rẻ hơn so với việc tách chiết từ thực vật và động vật trước đây.
Ngoài ra những tiến bộ về khoa học và công nghệ mới đã cho phép con người tách
chiết và phân lập các hợp chất tự nhiên làm thuốc với giá ngày càng rẻ hơn và chất
lượng ngày càng tốt hơn.
11
Ở các nước phát triển, công nghiệp Dược là một ngành công nghiệp chủ đạo
và mũi nhọn. Thứ hạng của công nghiệp dược thường được xếp ở vị trí 5, 6 sau các
ngành tin học, công nghệ dầu mỏ, công nghệ chế tạo và trong công nghệ sinh học
thì công nghệ sản xuất dược phẩm được ưu tiên hàng đầu. Việc nghiên cứu, sản
xuất thuốc và nguyên liệu thuốc nằm trong hệ thố
ng công nghiệp mà chủ yếu là
nằm trong tay các tập đoàn tư bản siêu quốc gia.
12
Bảng 2.1: Thị phần dược phẩm khu vực Asia – Pacific
Thị phần
Doanh số (Tỷ USD)
Tăng trưởng tính theo
giá trị (%)
Trung Quốc 18.8 22
Hàn Quốc 9.5 12
Australia 9.3 8
India 7.6 13
Đài Loan 3.5 5
Indonesia 2.6 11
Thái Lan 2.4 17
Phillipin 2.3 10
Pakistan 1.2 12
New Zealand 0.8 5
Việt Nam 0.8 24
Hồng Kông 0.7 15
Malaysia 0.5 12
Bangladesh 0.5 12
Singapore 0.4 12
Tổng thị trường 60.9 16
13
Nguồn: IMS Health MIDAS 2008
Các thuốc được tiêu thụ nhiều nhất là các nhóm thuốc dùng cho điều trị các
bệnh đặc thù theo mô hình bệnh tật của các nước phát triển như: thuốc tim mạch,
huyết áp, tiểu đường… Bảng 2.2 trình bày cơ cấu thị phần theo nhóm bệnh của các
nước ASEAN:
- Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng là 1,914 tỷ USD tăng 11,3 % so vớ
i năm
2009.
- Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2009 đạt mức 19,77 USD, tăng 3,32
USD (20,18%) so với năm 2008, tăng 13,77 USD so với năm 2001.
- Tổng giá trị xuất khẩu thuốc: 919,04 triệu USD. Năm 2010 là năm các
doanh nghiệp dược đều gặp khó khăn trong xuất khẩu thuốc do ảnh hưởng
của khủng hoảng kinh tế thế giới, tuy nhiên xuất khẩu vẫn tăng 10,57% so
với năm 2009, sản phẩm xuấ
t khẩu bao gồm cả thuốc tân dược và thuốc từ
dược liệu.
Hệ thống cung ứng thuốc
Bộ Y tế tích cực và cương quyết triển khai Chính sách quản lý chất lượng
toàn diện, đảm bảo chất lượng thuốc từ sản xuất đến tận tay người tiêu dùng, đảm
bảo sử dụng thuốc hợp lý an toàn. Do đó từ năm 1996 đến năm 2007 Bộ Y tế đ
ã ban
hành 5 GPs (GMP, GSP, GLP, GDP, GPP).
Bảng 2.3: Tình hình thực hiện GPs tính đến hết 31/12/2010
GMP GSP GLP
101 137 104
Thực hiện chủ trương của Bộ Y tế, các doanh nghiệp dược đã đầu tư nâng
cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ kỹ thuật để nâng cao chất lượng
thuốc sản xuất, cung ứng. Trong ngành Dược, tính xã hội hóa cao với sự tham gia
của các thành phần kinh tế, mạng lưới phân phối thuốc phát triển mạnh mẽ trên toàn
quốc, đảm bảo
đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, người dân có thể dễ dàng tiếp cận cơ
sở bán lẻ thuốc.
15
Bảng 2.4: Mạng lưới phân phối thuốc
ệp sản xuất thuốc
tân dược và 80 doanh nghiệp chỉ sản xuất thuốc từ dược liệu. Sản xuất trong nước
đáp ứng gần 50% nhu cầu thuốc sử dụng.
16
Năm 2010, cả nước có 101 nhà máy đạt GMP trong đó có 28 nhà máy được
thành lập theo Luật Doanh nghiệp (vốn đầu tư của tư nhân trong nước) chiếm tỷ lệ
28,6%, 23 nhà máy có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ lệ 24,5% còn
lại là các doanh nghiệp cổ phần hóa (CPH).
Trong giai đoạn 2001-2010, công nghiệp bào chế thuốc trong nước đã liên
tục tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng của sả
n xuất thuốc trong nước khá cao, trị giá
thuốc sản xuất trong nước ngày càng tăng đảm bảo khoảng 50% lượng thuốc tiêu
thụ, cho dù gần 90% nguyên liệu hoá-dược phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là các nhóm hạ nhiệt giảm đau, kháng
sinh, kháng viêm. Một số nhóm thuốc trong nước hầu như chưa sản xuất được, bao
gồm: nhóm thuốc gây mê; nhóm thuốc giải độ
c đặc hiệu; nhóm thuốc chống ung
thư và tác động vào hệ thống miễn dịch; thuốc chống Parkinson; nhóm thuốc tác
động lên quá trình đông máu; chế phẩm máu; thuốc dùng chẩn đoán.
Bảng 2.5: Các nhóm thuốc có nhiều số đăng ký trong nước
STT Nhóm Dược lý
1 Các loại khác
2 Chống nhiễm khuẩn - ký sinh trùng
3 Hạ nhiệt - giảm đau - chống viêm phi steroid
4 Vitamin và thuốc bổ
5 Thuốc đường hô hấp
6 Thuốc tác dụng trên dạ dày, ruột
7 Thuốc tim mạch
8 Thuốc ngoài da ( ngứa, nhiễm khuẩn, viêm ngứa )
dược sản xuất ra tất cả các loại nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp bào chế thuốc
như các hoạt chất (các chất có tác dụng trị bệnh), các loại tá dược và các loại phụ
gia (phụ gia trơn, phụ gia đính).
Ở những nước có nền kinh tế phát triển, có ngành công nghiệp dược phát
triển cân đối thì hai lĩnh vực nêu trên của công nghiệp dược luôn luôn gắn kết vớ
i
18
nhau thành một khối thống nhất. Trong đó, công nghiệp hóa dược là xương sống
của sự phát triển, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và uy tín của một công ty, an
ninh thuốc cho một quốc gia. Còn công nghiệp bào chế có nhiệm vụ nâng cao hiệu
quả tác dụng của thuốc trong cơ thể con người, trực tiếp chuyển sản phẩm hóa dược
thành thuốc chữa bệnh và tăng nhanh hiệu quả tài chính.
Do phát tri
ển chưa cân đối, chỉ chú trọng tới mảng bào chế, không chú trọng
đầu tư phát triển sản xuất nguyên liệu, vì vậy, ngành dược Việt Nam chưa tự chủ
được nguyên liệu sản xuất thuốc. Hiện tại hơn 90% nguyên liệu hóa dược dùng
trong ngành dược phải nhập khẩu bao gồm: các hoạt chất, tá dược, phụ gia và cả
bao bì cao cấp nữa. Theo "Quy hoạch phát triển ngành Dược đến năm 2010" thì
vi
ệc nhập khẩu nguyên liệu đã chiếm tới 32% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm
của ngành dược. Chủng loại nhập khẩu chủ yếu là: Kháng sinh, giảm đau, Vitamin.
Theo số liệu của Cục quản lý Dược Việt Nam thì tính đến hết năm 2009 có 503 hoạt
chất được đăng ký để sản xuất thuốc trong nước.
Có hai nguồn nguyên liệu chính sử dụng trong công nghiệp hóa dược, gồm:
Ngu
ồn hóa chất và nguồn dược liệu.
Hóa chất:
Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng với trữ lượng đáng kể, như:
Dầu mỏ, apatit, serpentin, than đá, bauxit, quặng đồng, quặng niken Ngoài ra, còn