BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
VỆ SINH NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP
CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG CHO VÙNG
NÔNG THÔN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
4. Các yêu cầu chủ yếu:
Tìm hiểu điều kiện vệ sinh môi trường của nông thôn nói chung và của huyện
Cần Giuộc.
Tổng hợp tài liệu, số liệu về hiện trạng môi trường,về nguồn gốc phát sinh các
chất ô nhiễm.
5. Kết quả tối thiểu phải có:
Đánh giá hiện trạng môi trường không khí, nước, chất thải rắn, vệ sinh nông
thôn của huyện.
Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng môi trường phù hợp với vùng nông
thôn huyện.
Ngày giao đề tài: 8/4/2013 Ngày nộp báo cáo: 17/7/2013
Chủ nhiệm ngành
(Ký và ghi rõ họ tên)
TP. HCM, ngày 15 tháng 4 năm 2013.
Giảng viên hướng dẫn chính
(Ký và ghi rõ họ tên)
ThS. Lê Thị Vu Lan
Cảm ơn tất cả các bạn đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành bài đồ án.
Lời cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành tới Ba Mẹ và những
người thân trong gia đình, đã luôn động viên, tạo điều kiện tốt nhất để con học tập
và hoàn thành tốt bài đồ án này.
Kính chúc quý Thầy Cô và các bạn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành
công trong công việc và cuộc sống.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2013.
Sinh viên Phùng Thị Quyên
Đồ án tốt nghiệp
1
CHƯƠNG: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cần Giuộc là một huyện thuộc tỉnh Long An, nằm về phía Đông của tỉnh,
diện tích tự nhiên 210.198 km
2
, dân số trung bình 170.670 người (2011), mật độ
trung bình: 812 người/km
2
.
Cùng với quá trình phát triển chung của toàn tỉnh, các vùng nông thôn có
nhiều bước phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện.
Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái là một trong những mối quan
tâm hàng đầu có tính chất sống còn của nhân loại ngày nay. Làm thế nào để kết hợp
đây.
4. Ý nghĩa của đề tài
Nêu lên mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế xã hội và mơi trường và định
hướng cho việc phát triển bền vững trên địa bàn huyện Cần Giuộc.
Đồ án hồn thành sẽ cung cấp đầy đủ một hệ thống cơ sở dữ liệu tin cậy về
điều kiện tự nhiên, tài ngun thiên nhiên và hiện trạng mơi trường nơng thơn
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đây là những thơng tin quan trọng để địa phương
xây dựng các chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế cho vùng đồng thời là tiêu chí
quan trọng để quản lý và bảo vệ mơi trường.
Tìm ra những hạn chế trong cơng tác quản lý mơi trường, xử lý ơ nhiễm, để
đề xuất các hướng giải pháp khắc phục kịp thời. Giúp các nhà quản lý làm việc hiệu
quả, dễ dàng hơn.
Đồ án tốt nghiệp
3
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa vào hiện trạng diễn biến môi trường, các dữ liệu môi trường cơ sở phải
được nghiên cứu, thu thập chính xác, khách quan. Từ đó, đánh giá phương án thực
hiện cần thiết nhằm đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý môi trường.
Trong những năm gần đây, với sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, tăng
trưởng kinh tế diễn ra mạnh mẽ tại huyện Cần Giuộc tiền đề cho nguồn phát sinh
các vấn đề về môi trường. Do đó cần có các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình phát
triển về kinh tế được hạn chế mức tối đa ảnh hưởng đến môi trường.
5.2. Phương pháp cụ thể
Phương pháp khảo sát thực tế, điều tra, thống kê: khảo sát thực tế, sử
dụng phiếu điều tra hiện trạng môi trường tại huyện Cần Giuộc.
Mục đích: điều tra nhận thức của người dân nông thôn về việc bảo vệ môi
trường thông qua việc dùng phiếu điều tra lấy thông tin trực tiếp từ người dân.
Thông qua việc điều tra có được cái nhìn tổng quan về điều kiện môi trường nông
phương, đưa ra giải pháp cải thiện môi trường.
Tham khảo ý kiến chuyên gia.
Tham vấn ý kiến của giáo viên hướng dẫn về nội dung của đề tài.
Tham khảo ý kiến của cán bộ môi trường trong quá trình tiếp xúc thực
tế, lấy thông tin, số liệu cho đề tài.
Các tài liệu, báo cáo chuyên đề của các chuyên gia trong ngành.
Phương pháp tổng hợp và xử lý các tài liệu liên quan đến đề tài: tài
liệu về hiện trạng môi trường nông thôn huyện Cần Giuộc; tài liệu về tình hình quản
lý môi trường tại các cơ quan quản lý môi trường trên địa bàn huyện; tài liệu về tình
hình đầu tư xử lý môi trường tại địa bàn huyện; tài liệu về nguồn gốc phát sinh các
chất ô nhiễm, thành phần, tính chất, và các tác động đến môi trường của các nguồn
Tổng số phiếu 200
Xã Trường Bình
50 phiếu
Xã Mỹ Lộc
50 phiếu
Xã Phước Lại
50 phiếu
Xã Tân Tập
50 phiếu
Đồ án tốt nghiệp
5
thải. Sau đó xác định những chênh lệch và so sánh với các quy định của nhà nước
ban hành.
Thu thập tài liệu tại UBND huyện Cần Giuộc, phòng Tài nguyên môi trường
huyện Cần Giuộc, các phòng ban có liên quan và thông qua khảo sát người dân.
6. Kết cấu đề tài
Chương mở đầu
Chương 1: Tổng quan về môi trường và vệ sinh môi trường nông thôn.
Theo từ điển tiếng Việt thì nông thôn được định nghĩa là khu vực của dân cư
sống tập trung, hoạt động chủ yếu để sinh sống bằng nghề nông, bằng sản xuất nông
nghiệp, hay nói cách khác là đơn vị hợp thành trải qua nhiều đời khai thác để làm
nông nghiệp, họ sống thành những cụm quần cư nông thôn, xây dựng nhà ở và công
trình công cộng như đường làng, chợ làng, đê làng, ao làng, lũy tre làng, đình
làng,… tạo ra quang cảnh môi trường nông thôn.
Trên thế giới bất kì nước nào cũng có vùng nông thôn hoặc từ nông thôn đô
thị hóa. Tùy theo điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán lối sống của mỗi nước, mỗi
vùng,… đã tạo nên cảnh quan môi trường nông thôn mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa
phương có nét đặc thù riêng và cũng tùy theo trình độ phát triển của mỗi nước, mỗi
vùng mà sinh thái môi trường nông thôn, bộ mặt nông thôn có sự phát triển khác
nhau cả về hình thức và nội dung.
1.1.2. Môi trường nông thôn
Qua khái niệm trên môi trường nông thôn được hiểu như sau: “ Một thành
phần của môi trường tự nhiên, trong đó được cấu thành bởi những yếu tố cơ sở vật
chất hạ tầng (nhà ở, vườn tược, ruộng đồng, đường giao thông,…) trong đó trọng
tâm vẫn là người nông dân với những hoạt động sản xuất nông nghệp, cảnh quan
nông thôn, các yếu tố được quan tâm bằng dây chuyền thực phẩm và dòng năng
lượng. Ngoài hoạt động sản xuất còn có những hoạt động về văn hóa xã hội, tập
quán, tình cảm của những người nông dân.”
Đồ án tốt nghiệp
7
1.2. Hệ sinh thái môi trường nông thôn
1.2.1. Phân loại nông thôn
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có loại hình sinh thái môi trường nông
thôn, từ khi xuất hiện trên địa cầu con người cần phải có nơi ở với những điều kiện
sống nhất định mới có thể tồn tại được. Lúc đầu từ những địa điểm cư trú, chủ yếu
dựa vào điều kiện thiên nhiên sẵn có và thuận lợi cho việc làm của con người như
hang động… dần dần do nhu cầu cuộc sống phát triển, con người có sự hiểu biết
hoạt sản xuất khó khăn do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, diện tích canh tác lương
thực rất ít, thường xen vào trồng cây lâm nghiệp và công nghiệp dân cư phân bố rời
rạc, phân tán.
Nông thôn miền trung du
Thường dựa vào các sườn đồi để canh tác cây trồng và các thung lũng để
trồng lúa nước, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi hơn miền núi, có thế mạnh
trong chăn nuôi, dân cư tương đối tập trung, điều kiện giao thông đi lại cũng rất khó
khăn, ở nước ta nông thôn miền trung du chủ yếu tập trung ở cấc tỉnh phía Bắc hay
miền Đông Nam Bộ.
Nông thôn ven biển
Cũng có đất canh tác nông nghiệp với diện tích rất nhỏ, thường kết hợp với
hoạt động đánh bắt cá với sơ chế hải sản. Đây là vùng sinh thái nhạy cảm, tập trung
khá đông dân.
Nông thôn vùng đồng bằng
Là nơi có điều kiện hoạt động thuận lợi về nông nghiệp, diện tích đất nông
nghiệp lớn, giao thông đi lại dễ dàng, các làng mạc nông thôn có quy mô lớn, thể
hiện ở số dân và diện tích canh tác. Trồng trọt chủ yếu là lúa nước, trồng các cây
lương thực. Thí dụ một số nông thôn, các làng thuộc đồng bằng sông Hồng có mật
độ dân số cao không kém gì mật độ dân số của thành phố.
Đồ án tốt nghiệp
9
Sự phân chia trên thường dựa vào các yếu tố tự nhiên, chủ yếu là địa hình.
Tuy các vùng nông thôn rất đa dạng phức tạp, nhưng sinh thái môi trường nông thôn
đều có những điểm chung.
Căn cứ vào phân loại trên để nhận diện cấu trúc và hoạt động của môi trường
nông thôn để từ đó tìm thấy những nét đặc thù riêng của cảnh quan và sinh thái môi
trường nông thôn của từng nước, từng vùng, từng miền. Do đó không thể căn cứ vào
địa giới hành chính làm ranh giới của môi trường nông thôn, mà phải lấy yếu tố môi
trường làm cốt lõi. Thí dụ, trong một tỉnh, một huyện, thậm chí một xã cũng có thể
miền Bắc, miền Trung các làng thôn thường được sắp xếp như sau.
Khu quần cư là khu vực ăn ở sinh hoạt, khi bước vào một làng thường thấy:
Cổng làng, lũy tre, con đê đầu làng,…
Cây đa đầu làng (do tập quán).
Đường làng chỉ có đường chính, đường phụ.
Giếng nước để sử dụng chung thường ở đầu làng.
Đình làng là nơi thờ cúng thần linh, tổ tiên, cũng là nơi hội hợp sinh hoạt văn
hóa, tổ chức vui chơi lễ hội.
Trường làng: các làng mạc xa xưa thì chưa có trường làng, lớp học được tổ
chức tại nhà thầy đồ, đến nay các làng thôn đều có trường làng phục vụ nhu cầu học
tập.
Trạm y tế.
Trong khu vực ăn thì các ngôi nhà của từng hộ gia đình là những nét kiến trúc
độc đáo, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và tập quán, lối sống của từng nơi, từng
miền mà có những kiểu dáng khác nhau, thường bố trí theo kiểu ba gian, năm gian
và thường sử dụng những nguyên vật liệu sẵn có của địa phương để làm nhà. Quanh
nhà thường có vườn, ao, chuồng.
Khu sản xuất trao đổi.
Cánh đồng làng.
Đồ án tốt nghiệp
11
Chợ làng: Thời xưa các chợ làng thường rất nhỏ, họp không thường xuyên,
họp theo phiên, hiện nay đã phát triển thành nơi trao đổi dịch vụ.
Sông làng thường chảy qua khu vực ruộng đồng, trước hoặc sau làng.
Bãi tha ma.
Miếu, chùa, nhà thờ xứ đạo,…
Các làng thôn thường được bao bọc bởi các lũy tre làng, đây là các hàng rào
bảo vệ tự nhiên.
Cấu trúc sinh thái môi trường nông thôn thể hiện qua các thành phần của nó
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Bờ ruộng là nơi nuôi dưỡng mầm bệnh, là
môi trường sống lí tưởng của chuột, côn trùng và cỏ dại.
Vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn hiện đang là vấn đề nổi cộm: chuồng
trại, hố xí không hợp vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt nhất là khu vực vùng sâu vùng
xa, hành động vứt rác bừa bãi là mầm móng của nhiều dịch bệnh và làm mất mỹ
quan môi trường nông thôn.
Bảng 1.1. Sự thay đổi môi trường xưa và nay
Môi trường nông thôn xưa
Môi trường nông thôn ngày nay
Về sản xuất và sinh thái
- Các hoạt động nông nghiệp cổ truyền.
- Dựa vào các điều kiện tự nhiên và lợi
dụng các ĐKTN để tránh thiên tai.
- Sử dụng hệ thống cây trồng phức tạp,
nhiều giống cây trồng năng suất thấp
nhưng phong phú về di truyền.
- Lao động trên diện tích cao, chủ yếu
là lao động thủ công.
Về sản xuất và sinh thái
- Các hoạt động sản xuất nông nghiệp
tiên tiến hơn, hiện đại hơn nhờ áp dụng
KHKT.
- Khắc phục được khó khăn của tự nhiên,
cải tạo chúng bằng KHKT.
- Sử dụng hệ thống cây trồng đơn giản,
giống cây năng suất cao nhưng nghèo về
di truyền.
Đồ án tốt nghiệp
13
dụng cho xe cộ, máy móc sản xuất nông
nghiệp lưu thông.
- Hệ thống thủy lợi quy mô lớn, cung cấp
đủ nước cho sản xuất nông nghiệp.
- Xóa bỏ được nhiều luật lệ, hủ tục nông
thôn phong kiến, các lễ hội được tổ chức
đơn giản, có ý nghĩa.
- Nhu cầu giải trí, sinh hoạt tốt hơn.
- Lượng thông tin nhận được nhiều và
nhanh chóng hơn.
(Nguồn: [1])
1.4. Vệ sinh môi trường nông thôn
1.4.1. Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật
Cuối những năm 1960, chỉ có khoảng 0,48% diện tích đất canh tác sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật thì hiện nay là 100% với trên 1.000 chủng loại thuốc,
trong đó nhiều loại thuốc có độc tính cao.
Đồ án tốt nghiệp
14
Hằng năm, nước ta sử dụng trung bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo
vệ thực vật. Bình quân 1 ha gieo trồng sử dụng đến 0,4 - 0,5 kg thuốc bảo vệ thực
vật. Sử dụng không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định nghiêm ngặt
về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính người sử
dụng thuốc và người tiêu dùng nông sản và thực phẩm có chứa dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sống.
Báo cáo tổng hợp của Tổng cục Môi trường, Bộ tài nguyên và môi
trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông
nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, trong đó không ít loại thuốc có
độ độc cao đã bị cấm sử dụng mà vẫn đem ra sử dụng đã gây ra những ảnh hưởng
không tốt đến môi trường và con người.
1.3.2. Vấn đề rác thải sinh hoạt nông thôn
Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của đô thị
hay các thành phố lớn. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất, đóng gói bao bì, nhiều loại giấy, hộp đóng gói
chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc…rất tiện lợi góp phần làm thay đổi phong cách và
tập quán sống của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị.
Về nông thôn, chúng ta dễ dàng nhận thấy ven làng, các bờ sông, con ngòi,
các túi rác, có khi là cả một tải rác hay đống rác “tự do nhảy dù” chẳng có người nào
thu gom, mới đầu còn là một túi rác nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành đống lớn dần
lên qua từng ngày tạo nên cảnh quan “lạ mắt” ven đường làng, mương máng, có khi
còn làm tắc dòng chảy. Bên cạnh đó rác thải ở các chợ quê đã đến hồi báo động, các
đống rác được chất đống lưu cữu rất nhiều ngày, ngay gần khu dân cư, bốc mùi ô uế.
Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục tấn rác thải sinh thải sinh hoạt phát
sinh và theo dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng
trong thập kỷ tới. Theo ông Trương Đình Bắc - Trưởng phòng Sức khoẻ và môi
trường, cho biết nếu ở các đô thị lớn, trung bình một người thải ra 1kg rác/ngày thì
vùng nông thôn cũng từ 0,5 - 0,6 kg rác/ngày. Bình quân mỗi người thải ra 0,7 kg
Đồ án tốt nghiệp
16
rác/ngày. Như vậy, với khoảng 50 triệu dân vùng nông thôn, mỗi ngày có gần 50
triệu tấn rác cần được thu gom. Tuy nhiên trên thực tế chỉ thu được khoảng 50%.
Tình trạng vứt rác bừa bãi của một bộ phận người dân nông thôn không chỉ
làm ảnh hưởng đến cảnh quan nông thôn tác động xấu đến môi trường sống của
người dân mà còn huỷ hoại môi trường trong lành của làng quê. Do đó, đã nảy sinh
nhiều vấn đề về môi trường nông thôn.
Nguyên nhân:
Do quá trình xây dựng, quy hoạch và đầu tư xây dựng khu dân cư chưa chú
trọng vấn đề xử lý môi trường.
Do ý thức trách nhiệm của người dân trong việc thu gom và xử lý rác
Hiện nay việc đáng lo ngại nhất là dù chăn nuôi ở quy mô nhỏ hay lớn
các loại chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý. Chất thải trong chăn
nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí bao gồm
CO
2
, NH
3
… đều là những loại khí chính gây hiệu ứng nhà kính.
Hầu hết do tập quán hay do điều kiện sản xuất mà chất thải chăn nuôi
ngày càng gây ô nhiễm đang ở mức báo động, các chất thải chăn nuôi không những
gây ra mùi khó chịu ảnh hưởng nặng nề đến không khí mà còn ngấm vào đất gây
ảnh hưởng đến nguồn nước và từ đó ảnh hưởng đến con người.
Ngoài ra việc xử lý xác động vật chết do bị dịch bệnh vẫn chưa được
người dân xử lý một cách có hiệu quả, một số nơi còn không chôn lấp xác động vật
chết mà còn đem ra thả trôi ngoài sông, suối hay vứt ở nơi ít người qua lại.
Bên cạnh đó trong sản xuất nông nghiệp còn thải ra các chất thải nông
nghiệp như rơm, rạ, các loại phế phẩm từ thu hoạch nông sản. Trước kia thì rơm rạ
dùng làm chất đốt hay sử dụng cho mục đích nào đó của người dân thì bây giờ rơm,
rạ sau khi thu hoạch xong sản phẩm thì không xử lý các chất thải còn lại mà để cho
chúng tự phân hủy ngoài trời, và đó cũng là tác nhân gây ra sự ô nhiễm.
1.3.4. Ảnh hưởng của công nghiệp hóa
Phần lớn các khu công nghiệp, khu chế xuất, liên doanh đặt tại khu
vực nông thôn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Một số các
Đồ án tốt nghiệp
18
khu công nghiệp, chế xuất, liên doanh không có công nghệ xử lý môi trường hoặc
không quan tâm nhiều đến việc xử lý rác thải của doanh nghiệp mình, và nếu có
cũng chỉ là đối phó, hoạt động không thực sự hiệu quả từ đó đã góp phần làm ảnh
hưởng đến môi trường nông thôn ngày thêm tồi tệ hơn.
Ô nhiễm nguồn nước các làng nghề cũng đáng báo động. Trong đó, ô nhiễm
chất thải hữu cơ do chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ gia súc,
gia cầm… gây ra. Riêng tại làng nghề tinh bột Dưỡng Liễu (Hà Nội), để mỗi năm
sản xuất ra 52.000 tấn sản phẩm sẽ phải thải ra 3.050 tấn COD, 934,4 tấn BOD và
2.133 tấn SS. Các làng nghề dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ và mây tre đan, tái chế
giấy tạo ra nước thải có hàm lượng cặn lớn và chứa nhiều chất ô nhiễm như dung
môi, dư lượng các hóa chất. Tại các làng nghề tái chế, trong nước thải mạ và tái chế
kim loại có hàm lượng kim loại nặng độc hại vượt quy định hàng chục lần.
1.3.6. Hiện trạng môi trường nước
Khoảng 40% người dân nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch.
Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2010 - 2011
(MICS 4), dân số Việt Nam đang được sử dụng nguồn nước ăn đã được cải thiện (có
thể coi là sạch) gồm: Nước máy, nước từ vòi công cộng, nước giếng khoan, giếng có
bảo vệ, nước suối có bảo vệ, nước mưa và nước đóng chai. Tuy các nguồn nước đã
được cải thiện có thể an toàn hơn các nguồn chưa được cải thiện, nhưng không có
nghĩa là nước từ các nguồn này đều an toàn theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Trong lĩnh
vực nước sạch và vệ sinh môi trường, các phát hiện của Điều tra MICS 2010-2011
cho thấy, hơn bảy trong số 10 người ở Việt Nam được tiếp cận nước uống và công
trình vệ sinh được cải thiện. Ở khu vực nông thôn, tỷ lệ người dân nông thôn được
sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỷ lệ 75%, trong đó có khoảng 40% nước đạt tiêu
chuẩn của Bộ Y tế.
Điều tra mới nhất của Bộ Y tế cho biết, nguồn nước giếng khoan, giếng khơi
chiếm tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu nguồn nước ăn uống và sinh hoạt của nông thôn
Việt Nam (33,1% và 31,2%), nước máy chỉ chiếm 11,7%, suối đầu nguồn 7,5%,
nước mưa 2% và sông, hồ, ao chiếm 11%. (nguồn www.monre.com.vn)
Đồ án tốt nghiệp
20
Ông Đồng Ngọc Hải Anh – Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF
Việt Nam) cho biết, hiện nay, các biện pháp xử lý nước được các hộ gia đình sử
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Cần Giuộc
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cần Giuộc cách thị xã Tân An khoảng 30 km theo đường chim bay và
có vị trí tương đối như sau:
106
o
33’ đến 106
o
44’ kinh độ Đông.
10
o
30’ đến 10
o
40’ vĩ độ Bắc.
Phía Tây giáp huyện Bến Lức và Cần Đước.
Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Cần Đước.
Phía Đông giáp với huyện Nhà Bè và Cần Giờ - Tp. HCM.
Phía Bắc giáp với huyện Bình Chánh - Tp. Hồ Chí Minh.