TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
I. Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức:
1. Bối cảnh châu Âu cận đại
- Đến cuối thế kỷ 19, CNTB ra đời và phát triển
ở hang loạt các nước châu
Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, I-ta-li-a đem lại một nền sản xuất phát triển
chưa từng có cho nhân loại. PTSX TBCN đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn PTSX
PK bảo thủ, lạc hậu. Nó tạo ra 1 năng suất lao động cao, lượng của cải làm
ra = 19 thế kỷ trước cộng lại.
Cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 làm rung chuyển cả châu Âu tác động
-
mạnh mẽ đến đời sống, xã hội châu Âu. Mác nói: “triết học của Kant là lý
-
luận của người Đức về cuộc CMTS Pháp”.
Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh
-
công nghiệp trong lịch sử nhân loại.
Những thành tựu về kinh tế, văn hóa và khoa học do cuộc cách mạng công
nghiệp tạo ra càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và
cải tạo thế giới.
Tóm lại: cuối thế kỷ 18 đầu 19 PTSX TBCN đã trở thành 1 xu thế tất yếu
-
nhiều nhà tư tưởng lớn như: Gớt, Héc-tơ, Sit-lơ,..
Các nhà tư tưởng Đức đã nhận được sự cổ vũ to lớn của phong trào Khai
-
sáng Pháp. Đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp đã thức tỉnh
các nhà tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức
d. cải cách tôn giáo
Do những mâu thuẫn giữa quần chúng với giáo hội ở Đức phát triển
gay gắt phong trào chống giáo hội ở Đức nổ ra gay gắt. Đầu thế kỷ XVI,
sự căm ghét giáo hội của mọi tầng lớp nhân dân Đức đã trở thành phổ
biến và rộng lớn. Trong tình hình đó một mục sư có tên là Martin Luther
(1483 – 1546) đã tiến hành vận động cải cách tôn giáo.
Nhưng Luther vốn không phải là một nhà cải cách xã hội. Cải cách tôn
giáo còn nhiều hạn chế thể hiện sự yếu ớt của giai cấp tư sản Đức. Mặc dù nó
lan rộng trong nước Đức nhưng lại không đề rõ ràng cải cách hướng đến giải
quyết các yêu cầu xã hội nên mỗi tầng lớp, giai cấp hiểu và tham gia cải cách
theo quan điểm và mục đích khác nhau. Các lãnh chúa, thị dân giàu chỉ mong
đóng cửa các nhà thờ Ki-tô giáo, chiếm lấy ruộng đất và tài sản để tăng quyền
lực cát cứ. Ngược lại, thị dân thì muốn làm yếu lãnh chúa và quý tộc để nước
Đức thống nhất dưới một chính quyền tập trung. Chỉ có dân nghèo thành thị
thì không muốn dừng lại ở những đòi hỏi có tính chất ôn hòa của Luther. Họ
không chỉ muốn cải cách tôn giáo mà còn muốn cải cách toàn bộ chế độ xã
hội. Vì thế, toàn thể nông dân Đức chuyển động tập trung xung quanh Luther.
Cuối cùng Luther quay sang thỏa hiệp với lãnh chúa phong kiến và thị
dân giàu, đàn áp quần chúng một cách tàn bạo. Tuy nhiên phong trào cải cách
2|Page
tôn giáo này đã gợi mở cách nhìn mới về vấn đề con người cho các nhà tư
của con người. Triết học cổ điển Đức ra đời đáp ứng sứ mệnh lịch sử đó
không chỉ riêng với nước Đức mà còn cả châu Âu.
II.
Các triết gia tiêu biểu:
1. Immanuel Kant (1724 -1804)
1.1 Tiểu sử:
- Ông là người sang lập nền triết học cổ điển Đức
- Sinh ra ở thành phố Ken-ni-xbec trong một gia đình trung lưu ở đông bắc
nước Phổ. Mẹ ông là người thanh giáo Đức, là người rất mộ đạo.
3|Page
-
Kant suốt đời không ra khỏi thành phố quê hương.
Sự nghiệp của Kant được chia làm 2 thời kỳ:
+ Thời kỳ tiền phê phán: triết học của Kant có khuynh hướng duy vật
+ Thời kỳ phê phán: Ông chuyển từ triết học mô tả thế giới sang tìm hiểu
những băn khoăn trong đời sống con người, với bô 3 tác phẩm trứ danh:
Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực tiễn (thực hành) và Phê
phán năng lực phán đoán.
1.2 Nội dung triết học Kant
1.2.1 Thời kỳ tiền phê phán
- Về cơ bản thế giới quan của ông mang tính duy vật với luận điểm nổi
tiếng “hãy cho tôi vật chất tôi sẽ chỉ cho anh thấy thế giới phải ra đời từ
-
vật chất như thế nào”.
hình thành những hành tinh độc lập với nhau.
Lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với khối lượng nên hành tinh gần mặt trời nhất thì
-
nặng hơn so với các hành tinh xa.
Vũ trụ là một khối thống nhất nên nếu thế giới nào đó mất đi sẽ được bù
-
đắp bởi thế giới khác sinh ra.
? Em hãy rút ra ý nghĩa của học thuyết “tinh vân nguyên thủy”
Chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật và hoàn chỉnh hơn so với các học
-
thuyết về vũ trụ trước đó.
Nó mang đến một cách nhìn mới về tự nhiên trong sự vận động và phát
triển không ngừng của nó, vũ trụ của chúng ta là kết quả của toàn bộ quá
-
trình phát triển lâu dài của nó.
Học thuyết của ông đã gạt bỏ vĩnh viễn quan niệm siêu hình đang thống
trị, cho rằng thế giới của chúng ta đã, đang và sẽ tồn tại vĩnh viễn không
-
có gì thay đổi.
- Trước Kant chủ nghĩa duy lý (tuyệt đối hóa lý tính) và chủ nghĩa duy
cảm (tuyệt đối hóa kinh nghiệm) thống trị triết học làm cho nhận thức của
con người trở nên què quặt. Trước thực trạng ấy Kant tự đặt cho triết học
của mình nhiệm vụ phân tích có phê phán năng lực nhận thức của con
người, giải phóng nhận thức đang thống trị lúc bấy giờ, vì vậy ông chủ
trương xây dựng một nền triết học thông qua cách tiếp cận phê phán.
- Phê phán: phê phán không phải là đả kích hay lên án, phê phán là đặt câu
hỏi về mặt có hợp pháp hay không. Lý tính theo nghĩa rộng là bao gồm 2
lĩnh vực lý tính lý thuyết và lý tính thực hành (đạo đức và nhân sinh).
Kant nhận thấy cả mặt tích cực và hạn chế của chủ nghĩa duy lý và
duy cảm do đó để giải thoát nhận thức của con người khỏi ngõ cụt ấy,
Kant đặt ra cho triết học của mình nhiệm vụ phân tích có phê phán năng
lực nhận thức của con người. Lý tính như một toàn án thẩm định lại mọi
tri thức con người đã có được (đó là công cuộc nhận thức chính mình).
- Ông đặt ra cho triết học phê phán của mình ba câu hỏi lớn:
+ tôi có thể biết được cái gì? – triết học lý luận
+ tôi phải làm gì? – triết học thực tiễn
+ tôi có thể hy vọng gì? - thẩm mỹ học
Hỏi sv? Đây là 3 vấn đề như thế nào?
Đây là 3 của tất cả mọi người trong cuộc sống hàng ngày, nó đặt ra và yêu
cầu triết học phải giải đáp. 3 câu hỏi này phản ánh 3 khía cạnh quan hệ
giữa con người với thế giới: nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ (chân – thiện –
6|Page
mỹ). Trả lời được 3 câu hỏi lớn này sẽ trả lời được “con người là gì?”,
con người cần phải biết chân lý, làm điều thiện và hy vọng vào cái đẹp
Hỏi sv: em có nhận xét gì về quan niệm của Kant về triết học?
+ Có thể nói toàn bộ triết học Kant chứa đựng tinh thần nhân đạo với mục
mạng trong triết học mà ông gọi là cuộc cách mạng Cô-pec-nic: “các sự
-
vật phải phù hợp với nhận thức của con người”.
Hỏi sv: Em có nhận xét gì về cuộc cách mạng mà Kant thực hiện?
Duy tâm chủ quan.
Ông chuyển trọng tâm từ khách thể, từ đối tượng nhận thức sang bản thân
chủ thể nhận thức, qua đó ông làm rõ vai trò của chủ thể nhận thức trong quá
trình nhận thức. Kant coi bản chất của ý thức con người không phải sự phản
ánh thụ động khách thể, do vậy ông nhấn mạnh đến tính tích cực, sáng tạo và
-
sự hoạt động của ý thức con người.
Qua đây ông muốn thức tỉnh con người bằng trí tuệ.
Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong hiện thực và trí tri thức trong quá trình
-
nhận thức buộc Kant phải đi đến chỗ thừa nhận “vật tự nó” (ding an-sich).
Theo Kant con người chỉ nhận thức được thế giới hiện tượng, còn một thế
-
giới con người không thể nhận thức được đó chính là vật tự nó
Vật tự nó được hiểu là:
+ Đó là bản chất của mọi sự vật khách quan tồn tại bên ngoài chúng ta. Nó
giáo điều ngự trị thay cho tinh thần hoài nghi khoa học và phê phán khoa học.
1.1.2.2 Về nhận thức luận
Theo Kant nhận thức của con người trải quá 3 giai đoạn là: trực quan cảm
tính, giác tính, lý tính.
a.
Trực quan cảm tính
Đây là giai đoạn đầu tiên của nhận thức, công cụ nhận thức của giai đoạn
này là 5 giác quan . Các sự vật, hiện tượng tác động vào các giác quan của con
người nhờ đó con người thu nhận được tri thức về đối tượng.
9|Page
Có 2 dạng trực quan: là trực quan kinh nghiệm và trực quan thuần túy.
Trực quan kinh nghiệm là trực quan có quan hệ với các đối tượng thông qua cảm
giác, nó đưa lại cho ta những tri thức về tính vật chất của hiện tượng. Trực quan
thuần túy là dạng trực quan đã có sẵn trong ý thức con người dưới dạng tiên
nghiệm, đó là không gian và thời gian. Không gian và thời gian là những hình thức
chủ quan của ý thức con người và nó có tính chất tiên nghiệm.
+ Theo Kant, không gian không phải là một quan niệm thường nghiệm do kinh
nghiệm tạo ra, bởi vì bất cứ quan niệm nào của con người về sự vật đều giả thiết sự
vật đó nằm trong không gian.
+ Thời gian cũng vậy, thời gian là một cái gì tự thân, hiện hữu, nó là cảm giác
thuần túy có sẵn trước và đặt nền cho các hiện tượng của tâm linh. Thời gian được
biểu tượng bằng một đường thẳng vô hạn, các biến cố đều nằm trên những quãng
đường thẳng này.
Kant cho rằng, mọi đối tượng của trực quan cảm tính nằm trong không
gian và thời gian. Điều đó có nghĩa việc tri giác được các sự vật, hiện tượng trong
tính chỉ có khả năng đem đến cho con người những tri thức riêng có, ngẫu
nhiên. Nhận thức của con người cần chuyển lên giai đoạn cao hơn, đó là giác
-
tính thuần túy.
Giác tính là tư duy với hệ thống các khái niệm và các phạm trù của mình – đã
thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượng nhận thức. Đối tượng ko phải là
nguồn gốc của tri thức về nó dưới dạng các khái niệm, phạm trù. Mà ngược lại,
chính các hình thức của giác tính, tức là các khái niệm và các phạm trù đã kiến
-
tạo nên đối tượng của nhận thức.
Ví dụ : trong đầu óc chúng ta đã có sẵn các khái niệm, phạm trù về các sự vật,
hiện tượng trong cuộc sống (cái bàn, cái ghế,…) các khái niệm phạm trù này đã
-
kiến tạo nên hình hài, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Giác tính là nguồn gốc của tri thức tiên nghiệm có sẵn trong đầu óc con người,
-
ko phụ thuộc vào kinh nghiệm.
Với Kant các phạm trù ko phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà nó là kết
-
quả sáng tạo riêng của giác tính.
Kant chia 12 phạm trù thành 4 nhóm, 12 phạm trù có tính chất tiên thiên con
-
thức.
c. Giai đoạn lý tính
Các phạm trù giác tính chỉ có thẩm quyền trong giới hạn của thế giới hiện
tượng, mà không có khả năng thâm nhập vào thế giới “vật tự nó”. Vì thế giai
đoạn thứ 3 của quá trình nhận thức. Công cụ nhận thức của lý tính là các ý
niệm. Lý tính điều chỉnh tri giác của con người. trong suốt quá trình nhận thức,
đối tượng của lý yisnh là giác tính, dẫn dắt tri giác vào khuôn khổ của các hình
-
thức tất yếu và phổ quát của nhận thức.
Lý tính của con người có khát vọng nhận thức thế giới “vật tự nó” nhằm đạt tới
trí tuệ tuyệt đối lại xuất hiện những mâu thuẫn ko thể giải quyết được
(antinomi). Theo Kant đây ko phải là logic bình thường mà nó có sẵn trong
chính bản chất của con người. Ông đưa ra 4 mâu thuẫn như sau: mỗi mâu thuẫn
được cấu thành từ 2 luận đề: chính đề - phản đề. 4 mâu thuẫn này là 4 câu hỏi
chủ yếu về ý niệm vũ trụ.
12 | P a g e
Chính đề
Phản đề
thế giới có giới hạn trong không gian thế giới vô hạn trong không gian và thời
và thời gian
gian
thế giới như chỉnh thể phức tạp để thế giới ko phân chia được, ko có cái gì
13 | P a g e
- Với
Kant những antinomi là những mặt đối lập biện chứng vì thế phải căn cứ vào
từng trường hợp cụ thể để định đoạt, có thể xảy ra tình hình cả 2 mặt đối lập
cùng đúng hoặc cùng sai.
- Từ đây Kant kết luận: nhận thức lý tính ko thể đạt được tới thế giới “vật tự nó’ và
ông rơi vào bất khả tri. Tuy nhiên những yếu tố biện chứng có trong 4 antinomi
này đã có ảnh hưởng rất lớn trong sự phát triển của PBC sau này, đặc biệt là
Phích tơ và Hê ghen. Đó là việc vạch ra mâu thuẫn giữa vô hạn và hữu hạn, đơn
giản và phức tạp, tất yếu và tự do, tất nhiên – ngẫu nhiên.
- Hạn chế của các antinomi:
+ chưa thất được mâu thuẫn trong hiện thực khách quan mà chỉ thấy được mâu
thuẫn trong tư duy.
+ các antinomi này chưa phải là mâu thuẫn biện chứng vì ko thể tìm thấy sự
thống nhất và chuyển hóa giữa chúng.
+ giải quyết mâu thuẫn là động lực của sự phát triển thì Kant chỉ dừng lại owr
-
việc phân tích đúng sai.
Em có bình luận gì về quan điểm của Kant?
Kant duy tâm chủ quan, bất khả tri.
Theo Lênin phạm trù chỉ có thể có được khi năng lực tư duy của con người phát
triển cho phép họ có thể tách khỏi giới tự nhiên với nghĩa sáng tạo nên tự nhiên
thứ 2 bằng hình thức khái quát hiện thực, tự nhiên có thể lập nên 1 hệ thống
-
nơi mà mọi cái phải tuân theo quy luật tất định thì tự do của con người chỉ có giới
hạn trong khôn khổ của giác tính. Với thế giới vật tự nó con người hoàn toàn tự do.
- với triết học thực tiễn (đạo đức và thẩm mỹ) Kant đã khẳng định những điều sau
đây.
+ Con người là 1 thực thể tự do:
Kant khẳng định rằng con người sinh ra vốn là thực thể tự do bởi nó có ý
thức đạo đức và nhờ có ý thức đạo đức đó mà có được sự cá thế hóa con người. Tự
do là đối tượng tập trung nhất để con người vươn tới, đồng thời là cơ chế điều
chỉnh hành vi đạo đức của con người. So với nền triết học trước đây, triết học Kant
là nền triết học duy nhất khẳng định sự tự do của con người.
Trong biên giới của tự do, hành động và hành vi của con người không bị chi
phối bởi lý tính lý luận mà bị chi phối bởi lý tính thực tiễn. Lý tính được gọi là
thực tiễn, theo Kant, là lý tính mà ý nghĩa chủ yếu của nó là điều chỉnh hành vi con
người. Động lực của lý tính thực tiễn không phải là tư duy, mà là ý chí của con
người. Kant gọi ý chí của con người là vương quốc của sự tự trị. Ở đây, ý chí của
15 | P a g e
con người được quy định không phải bởi các nguyên nhân bên ngoài, tức là những
nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên hoặc những nguyên nhân thuộc
về thượng đế. Theo Kant, ý chí của con người được quy định bởi những quy luật,
luật lệ vốn có của riêng nó. Đó là những quy luật, luật lệ mà ý chí tự đặt ra cho bản
thân mình.
Kant kêu gọi phải kết hợp một cách hài hòa tri thức, lòng nhân ái và đạo
đức; mọi hoạt động của con người phải tuân theo quy tắc đạo đức. Theo ông con
người bắt đầu từ đạo đức, chính đạo đức đã thống nhất con người lại với nhau và
biến con người trở thành con người thực sự.
- Đạo đức học của Kant mang tính ko tưởng vì ông muốn xây dựng một nền đạo
đức chung, phi giai cấp, phi lịch sử. Tuy nhiên nó vẫn thấm đượm tinh thần nhân
đạo cao cả, phản ánh khát vọng của những lực lượng tiến bộ lúc bấy giờ là xóa bỏ
người).
- Quan điểm về lịch sử:
lịch sử là quá trình con người thông qua hoạt động của mình để phát triển khả
năng và bản chất và đó cũng là lĩnh vực để con người thực hiện mục đích, lý
tưởng, đạo đức, vì thế lịch sử là phương thức tồn tại của con người. Lịch sử là quá
trình thống nhất xa lạ với sự tái tạo của thiên chúa và các thế lực siêu nhiên. Lích
sử vận động theo quy luật nội tại và tất yếu của nó. Quan điểm này trong chừng
mực nào đó thể hiện quan điểm biện chứng về xã hội.
- Nhà nước ra đời là kết quả của mâu thuẫn nội tại trong sự phát triển của xã hội.
Nhà nước là sự liên kết mọi người trong khuôn khổ pháp luật nhằm đảm bảo sự
bình đẳng cho mọi công dân với mục đích là giải tỏa những đối kháng xã hội, đảm
17 | P a g e
bảo cho sự phát triển của xã hội theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện về lợi ích
của con người.
- Xã hội phát triển trong tính nghịch lý của nó, Kant xem xung đột xã hội là động
lực thúc đẩy lịch sử. Kant cho rằng chiến tranh là điều cao cả nếu được tiến hành
một cách đúng đắn, mặt khác nó cũng hủy hoại chuẩn mực đạo đức bởi vậy chúng
không nhát thiết phải có. Ông mơ hành tinh sẽ trở thành ngôi nhà bình yên , hữu
nghị của tất cả các quốc gia.
*Những hạn chế trong triết học Kant
- Triết học Kant xây dựng trên thế giới quan duy tâm: Do đứng trên lập
trường duy tâm, nên Kant cũng không nhận thấy bước chuyển biện chứng giữa các
giai đoạn nhận thức trong quá trình nhận thức của con người. Khi nhấn mạnh vai
trò của trực quan cảm tính đối với nhận thức, Kant nhầm tưởng rằng đã khắc phục
được tính phiến diện của chủ nghĩa duy cảm lẫn chủ nghĩa duy lý. Trên thực tế ông
chỉ liên kết một cách máy móc hai thứ chủ nghĩa đó với nhau. Chính vì vậy, các
phạm trù của Kant chỉ là cách nói khác đi của “ý niệm bẩm sinh” của Đề-các-tơ,
“chân lý vĩnh cửu” của Lép-nit mà thôi.
thực hành, như một tất yếu tư duy chủ quan của con người. Ý đồ tạo dựng một quy
luật đạo đức có giá trị tuyệt đối cho mọi thời đại là một sự ảo tưởng.
2. Giooc Vin hem Phri đrích Hê ghen (1770 - 1831)
2.1 Tiểu sử
Hê ghen là nhà biện chứng lỗi lạc, một trong những nhà triết học vĩ đại nhất
của nhân loại, bậc tiến bối của triết học Mác. Ăng ghen đã nhận xét: “Hê ghen
19 | P a g e
không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là 1 nhà bác học có tri thức bách khoa,
nên trong mọi lĩnh vực, ông xuất hiện ra là một người vạch thời đại”.
Hê ghen sinh ra ở thành phố Stut-ga thuộc Đức trong một gia đình quan
chức cao cấp.
2.2 Nội dung triết học Hegel
2.2.1 Hiện tượng học tinh thần - một số nguyên lý bước đầu xây dựng hệ
thống triết học Hegel.
2.2.1.1 Thế giới quan
- Điểm xuất phát, quan điểm nền tảng của hệ thống triết học Hegel là tinh
thần tuyệt đối, hay ý niệm tuyệt đối, ý thức thượng đế.
- Hegel cho rằng: tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra
giới tự nhiên, con người và cả lịch sử xã hội.
- Tinh thần tuyệt đối được coi là thực thể của mọi sự vật trong tự nhiên và xã
hội.
- con người là biểu hiện sự sáng tạo cao nhất của tinh thần tuyệt đối. Hoạt
động nhận thức và cải tạo thế giới của con người cũng chính là công cụ để ý niệm
tuyệt đối thể hiện mình.
Nhận xét?
Ngay từ thế giới quan, Hegel đã bộc lộ lập trường duy tâm khách quan, như
Mác đã nói: tinh thần tuyệt đối thực chất là ý thức xã hội được thần thánh hóa.
Do vậy hiện tượng học tinh thần thể hiện logic phát triển của nó qua 3 giai
đoạn:
+ Tinh thần chủ quan ( Tinh thần thuần túy, tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn
sơ khai của nó).
+ Tinh thần khách quan (là giới tự nhiên, giai đoạn tinh thần tuyệt đối tha
hóa bản thân nó, tồn tại dưới dạng sự vật tự nhiên).
+ Tinh thần tuyệt đối (là sự thống nhất giữa tinh thần chủ quan và tinh thần
khách quan).
Sự vận động của tinh thần tuyệt đối qua 3 giai đoạn cơ bản, thực chất là sự
giải thích một cách trừu tượng, thần bí hóa hoạt động nhận thức của con người.
Con người chỉ trở thành chủ thể trong chừng mực con người có năng lực tinh thần.
Thế giới tự nhiên, lịch sử chỉ có thể được hiện ra với tính cách là cái được
nhận thức, được sinh thành chỉ trong chừng mực phát triển của các năng lực tinh
thần của con người.
Mặt khác tư duy, ý thức của con người hình thành và phát triển trong chừng
mực con người nhận thức và cải tạo tự nhiên, tại tạo xã hội, biến tự nhiên từ cái đối
lập với mình, thành cái của mình và bằng cách đó con người làm chủ tự nhiên.
Trong “hiện tượng học tinh thần” mặc dù dưới hình thức duy tâm thần bí.
Song Hegel đã tiếp cận được với quan điểm coi nhân cách ý thức con người là sản
phẩm của lịch sử.
Nhiệm vụ của “Hiện tượng học tinh thần” là tái hiện lại toàn bộ tiến trình
lịch sử của nhân loại đã trải qua dưới dạng phát triển của ý thức nhân loại đã trải
22 | P a g e
trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới từ thời tiền sử đến thời đại
của ông.
Tha
hóa
Tha
hóa
-
Con người (là động vật xã hội có tư
duy , con người nhận thức được bản
chất của mình là YNTĐ - khi đó nó là
đối tượng nghiên cứu của triết học
tinh thần
Tha hóa
Giới tự nhiên (khi ấy nó là đối tượng
nghiên cứu của triết học TN. Giới tự
nhiên phát triển đến 1 mức độ nào
đó sẽ tha hóa thành con người)
2.2.2 Khoa học logic
Trên cơ sở phê phán và tiếp thu logic học trước đây Hegel đã xây dựng một
hệ thống logic riêng.
Theo Hegel, từ trước tới giờ, triết học vẫn chưa có một phương pháp luận
riêng của mình mà vẫn dựa vào các khoa học khác. Vì thế khoa học logic phải đem
lại cho triết học một phương pháp luận mới tức là phép biện chwunsg với tính cách
là học thuyết về sựu phát triển, làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan của con
người.
a. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học logic
thể phát triển biện chứng được là nhờ chúng mang trong lòng chúng sự phủ
định bản thân chúng. Hegel đề ra 2 yêu sách chủ yếu
1. Sự tất yếu của mối liên hệ
2. Sự xuất hiện nội tại của sự khác biệt
Nội dung hợp lý trong phương pháp của Hegel ở chỗ, ông cho rằng mọi sự vật
đều liên hệ với nhau làm trung giới cho nhau, rằng những mối liên hệ ấy có tính
biện chứng và tất yếu. Ông mô tả khái niệm này được 1 khái niệm khác “trung
giới” có nghĩa là các khái niệm không đứng cô lập mà bị ràng buộc trong mối
25 | P a g e