MỤC LỤC
A. Lời nói đầu:
1. Lý do chọn đề tài
2. Tài liệu tham khảo
B. Nội dung
I. Khái quát về tiền đề ra đời và đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
1.1. Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.
1.2. Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
II. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của I.kant.
2.1. Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên.
2.2. Thời kỳ phê phán và những quan điểm triết học cơ bản.
2.2.1. Bước ngoặt trong quan điểm triết học và thế giới quan.
2.2.2. Bản chất, nhiệm vụ, chức năng của triết học
III. Nội dung cơ bản của triết học cantơ
3.1. Triết học nhận thức:
3.1.1. Thuyết hai thế giới và quan niệm về nhận thức.
Trang
2
2
3
4
4
4
7
9
10
12
12
13
A. LỜI NÓI ĐẦU
Vào thời mình, F.Engen đã từng nói: “ Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao của
khoa học thì không thể có tư duy lý luận”, nhưng tu duy lý luận ấy “ cần phải được
hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là
nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước ” vì “ triết học là sự tổng kết lịch sử tư duy ”
(Hêghen). Mặt khác vì lịch sử phát triển của tư duy được tổng kết trong lịch sử triết
học, nên chính lịch sử triết học là cơ sở để hình thành phép biện chứng.
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng
Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết
học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại triết học
cổ điển Đức vì vậy, trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác –
nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không
tưởng Pháp) Triết học Cantơ khởi xướng một phong trào lưu triết học mới – triết học
duy tâm phê phán tiên nghiệm để tiếp đó, Phíchtơ Seu – ing tiếp tục tìm tòi mở rộng,
đến Hêghen nó phát triển thành một hệ thống triết học duy tâm biện chứng và Phoiơ
bắc đã kết thúc triết học cổ điển Đức với chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình. Triết
học Cantơ là một hiện tượng hết sức phức tạp. Cantơ là người đầu tiên có ý đồ và đã
được thực hiện ý đồ tổng kết toàn bộ tri thức Triết học trong lịch sử tư tưởng loài người.
Trên tinh thần phê phán, Cantơ đã phê phán các hệ thống triết học trước đó, gạn lọc kế
thừa và phát triển những yếu tố mà ông cho là đúng giá trị, từ đó xây dựng một hệ
thống triết học riêng theo một mẫu mực mới – Triết học vạn năng.
1. Lý do chọn đề tài:
Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trong những nhà triết học vĩ đại của lịch
sử tư duy phương Tây trước Mác. Triết học Cantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của
triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công
lao đó của triết học triết học Cantơ”
Triết học Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học cổ điển Đức. Cantơ có vị trí
quan trọng trong triết học trong triết học cổ điển Đức. Triết học Cantơ đi vào rất nhiều
vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những lý tưởng mới lạ, trừu tượng và hết sức khó hiểu.
ở các nước châu Âu chống chủ nghĩa phong kiến, phát triển hệ tư tưởng tư sản - hệ tư
tưởng mới và tiến bộ trong lịch sử. Các nhà tư tưởng tư sản đòi hỏi phải trả lại cho con
người những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận. Quyền tự do, bình đẳng,
quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc. Hệ tư tưởng tư sản
tuyên bố: con người là thực thể tối cao, con người phải vươn tới trí tuệ và tự do, phải
thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho con người.
Tuy nhiên về mặt chính trị, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu vong hoàn toàn. Ở
những nước mà kinh tế TBCN chưa thể thực hiện việc cải tạo cách mạng tư sản, lực
lượng phong kiến vẫn nắm chính quyền và không chịu phân quyền cho giai cấp còn non
yếu. Sự phục hồi chế độ quân chủ nửa phong kiến Buốcbông ở Pháp, Hội nghị viên ở
Áo thống nhất các lực lượng quân chủ - phong kiến toàn châu Âu. Chứng tỏ lực lượng
phong kiến vẫn đang còn mạnh và đang chuẩn bị phản công lại giai cấp tư sản.
Giai cấp tư sản cảm nhận được khả năng thất bại của mình không chỉ từ sự phản
công của thế lực phong kiến mà cả từ phía quần chúng bị áp bức, những người mà sự
khẳng định của CNTB cang làm cho đời sống của họ tồi tệ hơn. Ngay từ những cuộc
cách mạng tư sản trước đó trong “đẳng cấp thứ ba” này xuất hiện những mâu thuẫn và
giờ đây chúng trở thành mâu thuẫn đối kháng.
Tình hình đó dẫn đến trong hệ tư tưởng tư sản khuynh hướng thoả hiệp với các
lực lượng phong kiến lại tăng lên, các thể chế phong kiến đến lượt mình lại thích nghi
với trật tự tư sản và trong phạm vi đáng kể được tưu sản hoá. Những mâu thuẫn và thoả
4
hiệp có biểu hiện rõ nhất ở nước Đức, nơi mà có sự phát triển của CNTB bị cản trở bởi
điều kiện kinh tế và chính trị của nó.
Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công
nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, và ở Pháp nhờ kết quả của cách
mạng tư sản Pháp 1789, giai cấp tư sản đã tiêu diệt chủ nghĩa phong kiến, tiến nhanh
trên con đường tư bản chủ nghĩa thì ở nước Đức hãy còn là một nước nửa phong kiến bị
Học thuyết của các nhà triết học Đức về sự phát triển đã gián tiếp hoặc trực tiếp
chống lại các lực lượng phong kiến phản động. V.I.Lênin viết: “lòng tin của Hêghen
vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người và nguyên lý cơ bản của triết
học. Hêghen cho rằng trong thế giới luôn diễn ra một quá trình liên tiếp biến hoá và
phát triển..., ngay cả cuộc đấu tranh chống hiện trạng, cuộc đấu tranh chống bất công
đang tồn tại và chống điều ác tung hoành cũng bắt rễ từ quy luật phổ biến là sự phát
triển không ngừng”.
Song các học thuyết đó không biến thành cách mạng được, nó duy tâm và yếu
hèn. Tính chất duy tâm và tinh thần yếu hèn đó đã dẫn đến những hạn chế trong triết
học cổ điển Đức.
Hạn chế của nnó là ở chỗ, các nhà triết học Đức hiểu sự phát triển như một quá
trình tinh thần, một quá trình tự thức tỉnh và sự phát triển của lý tính. Cách hiểu đó đã
xóa nhoà bản chất vật chất của sự cải tạo xã hội hiện thực và về lý thuyết nó biện hộ
cho sự thoả hiệp chính trị với các thế lực phong kiến của giai cấp tư sản.
Vấn đề dặt ra là tại sao các nhà duy tâm tư sản yếu hèn trong điều kiện kinh tế xã hội thấp kém của nước Đức lại làm nên những thành tựu vĩ đại trong triết học.
Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thể nảy
sinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu biết tiếp thu thành tựu
mọi mặt của các nước tiến bộ khác.
Ở Pháp vào thế kỷ XVIII nền kinh tế kém phát triển hơn ở Anh, song lại hình
thành chủ nghĩa duy vật: Hônbach, R.Điđro... Chính vì chủ nghĩa duy vật Pháp dựa trên
những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII. ở Đức tình hình cũng tương
tự. Triết học cổ điển Đức dựa trên những thành tựu triết học của các nước phát triển
châu Âu, nó tiếp thu được tư tưởng giải phóng tư tưởng cách mạng của các nhà duy vật
cách mạng Pháp.
Những tiền đề cho sự phát triển thế giới quan biện chứng đối với lịch sử nhân
loại và sự khái quát lý thuyết phép biện chứng của các nhà duy tâm Đức là: bước ngoặt
kinh tế - xã hội có tính chất thời đại của Anh, bước ngoặt tư tưởng xã hội có tính lịch sử
thế giới của cách mạng tư sản Pháp, sự kế thừa truyền thống triết học biện chứng Đức
và đặc biệt là những thành tựu của khoa học tự nhiên.
mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận. Hêghen phát triển thêm tư tưởng
này và coi bản thân lịch sử phươn thức tồn tại của con người, mỗi cá nhân hoàn tàon
làm chủ vận mệnh của mình. Ông khẳng định: con người là sản phẩm của một thời đại
lịch sử nhất là định vì vậy nó mang bản chất xã hội.
7
Trước những thành tựu khổng lồ của kinh tế - xã hội, khoa học - văn hoá. Các
nhà triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen đều đề cao sức mạnh trí tuệ và khả năng
hoạt động cảu con người. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh sức mạnh của con người họ đã rơi
vào cực đoan, họ đã thần thánh hoá con người, coi con người là chúa tể tự nhiên, bản
thân giới tự nhiên nhiều chỗ cũng được họ luận giải như kết quả hoạt động của con
người.
Tuy vậy phải thấy một trong những thành tựu to lớn của triết học cổ điển Đức là
nó khẳng định rằng tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừng mực con người
nhận thức và cải tạo thế giới. Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của toàn bộ nền
văn minh do chính mình tạo ra, nghiên cứu tiến trình lịch sử nhân loại cũng như toàn bộ
mối quan hệ con người - tự nhiên như một quá trình phát triển biện chứng.
Tuy từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các hệ
thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, lôgic biện chứng, học thuyết
về các quá trình phát triển, mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả cá tìm tòi của họ đó là phép
biện chứng.
Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển
Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được. Tiếp
thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVIII trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ
thống hoá toàn bộ tri thức loài người, Cantơ và Hêghen có ý đồ xây dựng một hệ thống
triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quan của con người, khôi phục lại các quan
niệm coi triết học là khoa học của các khoa học.
Phải nói rằng: triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch
II. VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA IMANUEN CANTO.
I.kant là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức. Ông sinh ngày 22 - 04 - 1724
và lớn lên trong một gia đình trung lưu gốc Scốtlen tại Kenítbec, một thành phố cổ
vùng Đông - Bắc nước Phổ trước đây. Mùa thu năm 1740 ông vào học khoa triết học
trường đại học Kenítbec. Ở đây ông được trang bị không chỉ triết học mà cả khoa học tự
nhiên. Ngay từ những năm trong trường đại học ông đã rất quan tâm và có năng khiếu
về các môn toán học và vật lý học và cơ học, vũ trụ học...
Năm 1770, ông trở thành giáo sư và là Giám đốc trường Đại học Kennitbéc.
Năm 1775, ông nhận học viện Tiến sỹ triết học với luận văn: “Lịch sử tự nhiên và lý
thuyết về thiên hà”.
Cantơ không hề ra khỏi thành phố quê hương quá 60 dặm và suốt đời độc thân.
ông mất ngày 12 tháng 4 năm 1804.
Ở trường đại học Kenitbéc, Cantơ giảng một loạt các môn học: Siêu hình học
(triết học) và lôgíc học, toán học và cơ học, vật lý học và địa chất học, nhân loại học và
lịch sử tự nhiên đại cương. Ông còn giảng cả vũ trụ học, địa vật lý, nhân chủng học.
Cũng ở đây, Cantơ đã tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm vụ mà
9
cả cuộc đời ông đã dặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết học mới. Nhiều công
trình khao học tự nhiên và triết học của ông đã ra đời, nâng ông lên vị trí một trong
những học giả uyên bác nhất thời đó. Những học thuyết của ông thống trị tư tưởng khao
học và triết học tư sản TK XIX. Ông đã để lại cho nhân loại một trong những hệ thống
triết học độc đáo và sâu sắc nhất.
Quá trình phát triển triết học của Cantơ diễn ra qua hai thời kỳ.
Thời kỳ 1: Từ năm 1770 trở về trước.
Thời kỳ 2: Từ năm 1770 đến cuối đời.
Bởi nhiệm vụ triết học trong thời kỳ 2 do Cantơ đặt ra là phê phán (các hệ thống
triết học trước đó) nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ phê phán. Còn thời kỳ 1, tư
thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới thì bây giờ ông lại cho rằng con
người không nhận thức được thế giới, trước đây ông là người đề cao trí tuệ thì nay ông
lại đề cao tín ngưỡng.
Về nhận thức luận,Cantơ luôn luôn bác lại những nhà duy vật kinh nghiệm chủ
nghĩa, những nhà cho rằng trí tuệ của chúng ta có được là nhờ kinh nghiệm, nhờ kinh
nghiệm mà ta nhận thức đuợc thế giới.Ngược lại,Cantơ cho rằng, trí tuệ là một cơ quan
năng động có sẵn khả năng hiểu biết -trí tuệ tiên nghiệm, chúng ta nhận thức thế giới có
hiệu quả chính là bằng trí tuệ tiên nghiệm đó
Từ năm 1770 về sau, Cantơ đã đặt ra nhiệm vụ cho bản thân mình là phải xây
dựng một hệ thống triết học theo quan điểm duy tâm phê phán tiên nghiệm,Hệ thống
triết học đó được Cantơ trình bày chủ yếu trong bộ ba tác phẩm :
Phê phán lý tính thuần tuý (1781)
Phê phán lý tính thực tiễn (1788)
Phê phán năng lực phán đoán (1790)
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CANTƠ
3.1. Triết học lý luận:
Triết học lý luận của Cantơ đề cập đến những vấn đề nhận thức luận và logíc
học với mục đích xây dựng một nền tảngthế giới quan mới cho con người,xác định giới
hạn và đối tượng của tri thức con người,hay theo cách đặt vấn đè của cantơ là giải đáp
vấn đề tôi có thể biết được cái gì?
Triết học nhận thức chủ yếu là xây dựng lý thuyết tiên nghiệm; tri thức và khả
năng (giới hạn) của các loại tri thức.
3.1.1. Thuyết hai thế giới và quan niệm về nhận thức.
11
Tiền đề cho bộ ba tác phẩm “triết học phê phán ” của Cantơ là thuyết hai thế
giới : Thế giới vật tự nó (Ding and Sich) và thế giới hiện tượng (fonomen).
3.1.1.1. Thuyết hai thế giới:
12
Thế giới hiện tượng
Thế giới hiện thực trong lĩnh vực muôn màu muôn vẻ của nó như đất nước,
sông núi, cỏ cây,…và những quy luật dẫn dắt mọi quá trình của thế giới đó,…theo
Cantơ, là những cái đang tộn tại dưới dạng hình thức (hiện tượng) của thể giới vật tự
nó. Thế giới đó biểu hiện ra như chúng ta thấy là do “tác động”thế giới vật tự nó đến
khả năng cảm giác tiên nghiệm của chúng ta, gây nên những biểu tượng, những biểu
tượng đó qua kinh nghiệm của chủ thể nhận thức mà xây dựng nên những hình dạng
như chúng đang tồn tại trong hiện thực. Cantơ viết rằng, “giác tính, bằng khả năng tổng
hợp của mình, thông qua các khái niệm hay các phạm trù mà sáng tạo ra giới tự nhiên
với các hiện tượng đa dạng, phong phú như nó đang tồn tại. Mọi hiện tượng của giới tự
nhiên phải chịu sự chi phối của các phạm trù lý tính”. Nói cách khác, thế giới hiện
tượng này chính là thế giới bề ngoài của thế giới vật tự nó, là phần biểu hiện “ vật chất”
của thế giới tinh thần.
Lý do vật tự nó là không thể nhận thức được.
a) Vào thời đại của Cantơ, nhiều nhà tư tưởng thừa nhận sự tồn tại của Thượng
Đế, song họ không xác định được một cách thống nhất bản chất và vai trò của Thượng
Đế trong thế giới hiện thực. Đó là chổ yếu của cả thần học và triết học duy tâm nói
chung để các nhà vô thầm phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế. Để cứu vãn tinh thần
duy tâm, Cantơ đã coi Thượng Đế không phải cái gì khác mà, đó là cái tự do, là linh
hồn bất tử, là vật tự nó - nghĩa là Thượng Đế cái tự nó tồn tại, con người không giải
thích được và cũng không thể biết được.
b) Cantơ đòi hỏi ở tri thức khoa học và triết học sự hoàn thiện tuyệt đôí: coi đó
là tri thức lý tưởng của con người. Song, cũg như Hium và Lépnhít, một mặt Camtơ cho
rằng, để khoa thực sự ;là khoa học thì nó phải dựa trên tri thức tiến nghiệm., nghĩa là tri
thức mang tính phổ quát và tất yếu (chân lý). Mặt khác, do chua thoát khỏi quan niệm
siêu hình -sự nhìn nhận thế giới một cách tách rời- Cantơ cho rằng mọi sự vận động
trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ là sự tồn tại dưới dạng đơn giản nhất, ngẫu
thức với tư cách là” cơ quan năng động có sẵn khẳ năng nhận thức” –tức là ở đó đã có
sẵn yếu tố tiên nghiệm. Như vậy, đây làkinh nghiệm tiên nghiệm; nó là công cụđể phát
hiện cái tiên nghiệm mới.
Tiên nghiệm có hai mức độ:
a) Cái có trước kinh nghiệm-ap rio ri
b) Cái siêu nghiệm-tứclà tiên nghiệm đích thực, tiên nghiệm bậc cao. Trong
siêu nghiệm có tiên nghiệm và hậu nghiệm vứi tư cách là phán đoán tiên nghiệm.
Đối tượng của triết học không phải là nghiên cứu bản thân kinh nghiệm mà
chủ yếu là nghiên cứu cái tiên nghiệm và hậu nghiệm – siêu nghiệm,( tức nghiên cứu
cái có truớc và có sau kinh nghiệm).
14
Siêu nghiệm xuất phát từ kinh nghiệm nhưng không phải là kinh nghiệm. Nó
là sự vượt qua kinh nghiệm thông thường, vượt qua những hiện tượng mà con người
nhận biết được bằng các giác quan. Những hình ảnh mà giác quan thu được chỉ là
những kinh nghiệm thông thường, ít có ý nghĩa trong nhận thức, chúng chỉ có ý sau khi
có được yếu tố tiên thiên.
Tiên thiên là cái vốn có của tự nhiên mà thực chất, đó là cái tự do, cái bản chất
của thế giới.ở con người ( vì con người là một bộ phận của tự nhiên) thì tiên thiên
chính là các yếu tố bẩm sinh.
Cái tiên nghiệm, siêu nghiệm, tiên thiên như đã phân tích, do còn là kết quả
của sự chuyển hoá trong chủ thể nhận thức, cho nên nó có tính xã hội.Tuy nhiên về
nguồn gốc, về bản chất, nó thuộc tự nhiên.Bản tính thiện, bản tính sáng tạo, bản tính
vươn tới.Tự do của con người là những cái thuộc tiên thiên, chúng không phải đợi đến
lúc cá nhân có đầy đủ kinh nghiệm mới xuất hiện.Những tư chất ở mỗi cá nhân, năng
khiếu, thiên chức mỗi người, nòi giống đều là những cái thuộc tự nhiên, chúng được
phát huy ngay cả khi cá nhân chưa có nhiều kinh nghiệm.Các cảm giác, các hoài cảm,
các dục vọng,…cũng không cần chờ có kinh nghiệm rồi mới có.
nhất không phải là ý thức mà là “ vật tự nó”. Song vật tự nó là bản tính tinh thần, cho
nên ông lại là nhà duy tâm. Khi nghiên cứu các hình thức và giới hạn của nhận thức,
ông cho rằng vật tự nó là siêu nghiệm, không nhận thức được cảm giác là cơ sở của tri
thức, nhưng không một loại tri thức nào, dù cao nhất, có thể tiếp cận tới vật tự nó, ông
là nhà bất khả tri.
3.1.2. Học thuyết về tri thức
Học thuyết về tri thức được Cantơ xây dựng trên cơ sở lý thuyết phán đoán.
Theo Cantơ, tri thức bao giờ cũng được thể hiện và sinh ra dưới các hình thức phán
đoán. Phán đoán luôn luôn diễn ra trong một quan hệ nào đó giữa hai khái niệm đóng
vai trò của chủ ngữ và tân ngữ. Có hai loại quan hệ phán đoán phân tích và phán đoán
tổng hợp.
Phán đoán phân tích : Trong một số phán đoán, tân ngữ chưa đưa ra được một tri
thức mới nào về đối tượng so với tri thức đựoc chứa đựng ở chủ ngữ. Thí dụ: “ Chó là
động vật có 4 chân”. Đây là mệnh đề phân tích. Vì theo Cantơ, bản thân khái niệm “
chó” đã bao hàm đặc tính của một động vật có 4 chân rồi. ở đây, tân ngữ “4 chân” chỉ
có tác dụng làm rõ nghĩa cho chủ ngữ “ chó ’’. Phán đoán có tính kinh nghiệm và có
tính giải thích.
Phán đoán tổng hợp là loại phán đoán mà tân ngữ đã gia tăng cho chủ ngữ một
nội dung mới. Thí dụ : “ mọi vật đều có quảng tính’’. Phán đoán này là kết quả của sự
khái quát tư duy lý luận. Tân ngữ “ quảng tính ’’ là kết quả được khái quát tổng hợp, rút
ra từ thực tế của chủ ngữ “ vật’’. Nó chứng minh rằng mọi vật đều nằm trong không
16
gian. Phán đoán này đúng đối với mọi thời điểm, nó có tính tiên nghiệm. Cantơ còn gọi
loại phán đoán naỳ là phán đoán này là phán đoán mở rộng, vì tân ngữ gia tăng cho chủ
ngữ một nội dung mới mà trước đó bản thân chủ ngữ chưa có.
Cantơ quan niệm phán đoán tổng hợp tiên nghiệm là loại phán đoán cao nhất
của sự nhận thức. Và, vì là loại phán đoán cao nhất, cho nên phán đoán tổng hợp tiên
3.1.3 Trực giác cảm tính. Khả năng phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong
toán học.
Cấp độ đầu tiên của quá trình nhận thức, theo Cantơ, gắn liền với lý thuyết về
không gian và thời gian.
Không phải là sự vật hiện tượng tồn tại một các khách qua trong không gian và
thời gian, khái niệm không gian và thời gian được hình thành nhờ cảm tính chủ quan
xác định khi có sự vật tồn tại và được lĩnh hội.
Như vậy – thời gian xuất hiện là do cảm giác chủ quan. Nhưng cái gây nên cảm
giác chủ quan và chính cảm giác đó lại ở bên ngoài, cho nên không gian và là cái có
trước kinh nghiệm, là điều kiện cho mọi kinh nghiệm có thể xảy ra chúng là những khái
niệm tiên thiên. Không gian là hình thức bên ngoài của kinh nghiệm cảm tính tiên
nghiệm.
Hình thức nhận thức cảm tính theo Cantơ chính là cấp độ phán đoán tổng hợp
tiên nghiệm trong toán học, không gian thời gian là nền tảng cho toán học. Theo Cantơ,
các biểu tuợng không gian là cơ sở của tri thức hình học : Thời gian là biểu tượng của
tri thức số học và đại số.
3.1.4 Giác tính phân tích (hay phân tích tiên nghiệm). Khả năng nhận thức
của khoa học tự nhiên lý thuyết.
Trong cấp độ thứ nhất của nhận thức, theo Cantơ, do những sự vật khách quan
tác động đến giác quan của chúng ta mà xuất hiện những cảm giác lộn xộn. Những cảm
giác lộn xộn đó được trực giác cảm tính đưa vào trật tự không gian thời gian, trở thành
các tri giác. Những tri giác đó còn mang tính chủ quan của cá thể. Để chúng trở thành
kinh nghiệm tức trở thành một cái gì đó khách quan hơn thì nhận thức phải bước lên
hình thức cao hơn – giác tính.
Tư duy sử dụng khái niệm phạm trù là tư duy của giác tính phân tích. Đây là loại
hoạt động tư duy khoa học, nó có nhiệm vụ quy tụ các tri giác đa dạng biến các tri giác
cảm tính thành những tri thức khách quan được mọi người thừa nhận
Để làm được điều đó, trước hết giác tính phải xây dựng một hệ thống các phạm
trù.
chính tri thức của chúng ta. Chúng ta chỉ nhận thức thế giới đó. Nhận thức của khoa
học tự nhiên lý thuyết cũng chỉ nằm trong khuôn khổ tri thức đó mà thôi.
3.1.5 Lý tính ( hay biện chứng tiên nghiệm ). Về khả năng của siêu hình học.
Vấn đề cơ bản thứ ba trong triết học phê phán của Cantơ là vấn đề khả năng
phán đoán tổng hợp tiên nghiệm trong siêu hình học, tức là trong triết học tự biện. Đây
cũng chính là vấn đề về năng lực biện chứng tiên nghiệm.
Luật tương phản ( antinomi)
19
Lý tính con người luôn khao khát vươn tới lĩnh vực vật tự nó để đạt tới tri thức
tuyệt đối. Song quá trình vươn tới tri thức đó luôn luôn nẩy sinh những mâu thuẫn,
những nghịch lý( antinomi).
Cantơ khẳng định có 4 antinomi cơ bản của lý tính. Mỗi antinomi đuợc kết cấu
từ 2 luận đề đối lập : Dĩ nhiên, học thuyết antinomi của Cantơ có nhiều hạn chế. Ông
chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng của con người, chưa thấy mâu thuẫn luôn luôn
tồn tại trong thế giới tự nhiên. Các atinomi đó chưa hoàn toàn là những mâu thuẫn biện
chứng, vì giữa các chính đề và phản đề của chúng chưa có sự thống nhất và chuyển hoá
lẫ nhau. Giải quyết mâu thuẫn cũng không phải chỉ dừng lại ở việc phân tích từng mặt
đối lập rồi kết luận đúng sai như ông đã làm. Trên thực tế, quá trình nẩy sinh và giả
quyết mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự vật phát triển.
Tuy nhiên, học thuyết biện chứng tiên nghiệm bao hàm nhiều tư tưởng tích cực.
Ông thấy antinomi là bản chất của lý tính con nguời chứ không phải những lỗi lôgic
thông thường. Cantơ là người đầu tiên tìm cách bao quat toàn bộ những nguyên lý tư
duy đối lập nhau của thời đại trên quan niệm thống nhất, vạch ra những vấn đề còn bỏ
ngỏ trong các vấn đề về bản chất của tư duy. Hêghen đánh giá rằng “ việc tìm ra các
antinnomi cần đươc xem như một thành tựu rất quan trọng của nhận thức, bởi bằng việc
đó..vận động biện chứng của tư duy đựơc đề cao’’.
3.2 Triết học thực tiễn.
pháp chế – phổ biến : Mỗi người hãy hành động tới mức tối đa sao cho điều đó được
đưa vào cơ sở pháp chế phổ biến’’.
Theo Cantơ, chỉ có hành động nào của con người phù hợp với mệnh lệnh tuyệt
đối nói trên mới được coi là hành động có đạo đức. Cụ thể,một mệnh lệnh tuyệt đối đòi
hỏi hoạt động của con người phải tuân theo các quy tắc sau:
-
Mỗi ngưòi đều có quyền và cần phải hành động theo điều kiện và ý muốn
sao cho ai cũng lam được như thế.
-
Mỗi người đều có quyền và cần cho phép người khác cũng có được quyền
như thế, đồng thời tạo điều kiện để họ thực hiện được quyền đó.
-
Mỗi người điều có quyền và cần phải ngăn chặn những người khác hành
động trái với mệnh lệnh tuyệt đối trong khả năng có thể làm được.
Phạm trù trung tâm của đạo đức học của Cantơ là Tự do. Hai mạt mâu thuẫn
trong con người của đạo đức theo quan niệm của Rútxô được Cantơ giải quyết bằng
cách ông chuyển cái đạo đức trong tình cảm, lương tâm thành mệnh lệnh của lý trí. Cái
lý trí mà ông hiểu là có sức mạnh từ bên ngoài. Thực chât, sự vươn tới đạo đức của cpn
người đối với Cantơ chính là khát vọng vươn tới Tự do – hiểu theo con người vươn tới
các ý niệm phổ quát và tất yếu cũng như theo nghĩa con người vươn tới lý tưởng cao
đẹp của mình.
21
lệnh tuyệt đối trong đạo đức học thành theo yêu cầu chung ở mọi lĩnh vực thực tiễn:
chính tri, xã hôi. Mỗi người hãy hành đông sao cho tự do của bạn phải tồn tại cùng với
tự do của tất cả mọi người.
22
Quan niệm về lịch sử, xã hội:Lịch sử, theo Cantơ là phương thức tồn tại của loài
người mà cụ thể là của từng cá nhân như một chủ thể. lịch sử chính vì vậy tập trung cao
ở lịch sử xã hội. Một mặt, lịch sử là quá trình mà ở đó, bằng hoạt động của chính mình,
con người ngay càng phát triển bản chấtvà khả năng của mình ; mặt khác, đây là lĩnh
vực để con người thể hiện mục đích và lý tang đạo đức. Cho nên, tiến trình lịch sử nhân
loại là sự tiếp tục cho quá trình phát triển của lịch sử tự nhiên, nó diễn ra theo
hướngngày càng tiến bộ và hoàn thiện, nó gạt bỏ dần những cản trở và đi ngược lại nó.
Cách mạng tư sản pháp là môt bằng chứng điển hình về điều đó : Nó tiêu diệt ché độ
chuyên chế bất công mở đường cho xã hội tiến lên một bước mới.
Quan niệm về nhà nước, pháp quyền: Theo Cantơ, nhà nước là công cụ liên kết
mọi thành viên của nó vào khuôn khổ pháp luật, nhằm giám sát và bảo đảm sự tự do và
bình đẳng cho mọi công dân. Sự hình thành nhà nước một mặt là do khế ước mặt khác
đó là sự hình thành có tính tất yếu, do yêu cầu xã hội yêu cầu – con người đòi hỏi. Theo
Cantơ nói đến nhà nước là nói đến nhà nước pháp quyền nhân dân tập hợp lại để thực
hiện tự do và bình đẳng Cantơ con cho rằng: Chế độ cộg hoà là chế độ phù hợp nhất với
nhu cầu phát triể của xã hội, nhằm mục đích vì hạnh phúc con người
Quan niệm về quyền sở hữu và bình đẳng: Phát triển quan điểm tư sản về xã hội,
Cantơ bảo vệ chế độ tư hữu và cố gắng củng cố nó bằng những lập luận theo kiểu tư sản
: Sự tồn tại của xã hội tư sản là có tính tiên thiên, tính tự nhiên và do đó nó có tính bất
khả xâm phạm. Ông chứng minh rằng, quyền tư hữu tài sản là có nguồn gốc tiên thiên
do đó nó là vĩnh cửu, phổ biến và tuyệt đối câng thiết.
Cantơ cũng nêu lên tư tưởng độc đáo và sâu sắc về quyền bình đẳng của con
người. Bình đẳng không phải là về tài năng mà là về cơ hội để phát triển và áp dụng tài
về timnhs tất yếu và tính phổ biến của phê phán thẩm mỹ – với xu hướng tương đối chủ
nghĩa của cảm giác luận duy tâm chủ quan. Với lý thuyết về cái đẹp nương tựa –cái cao
cả chứng tỏ trong chừng mực nào đó, Cantơ đã tiến sát tới quan niệm biện chứng và
những phạm trù thẩm mỹ và mối liên hệ lẫn nhau giữa những yếu tố khách quan và cgủ
quan trong những khái niệm thẩm mỹ.
Cũng như các nhà tư tưởng khác Cantơ muốn trả lời câu hỏi: Con người từ đâu
đến và nó sẽ đi về đâu? cái gì đang đợi nó?và nó sẽ đi tơi tương lai như nthế nào.
Đối với chúng ta khog ai chờ đón chỉ ở một cá nhân lại có thể trả lời được câu
hỏi lớn lao của cả loài người. Điều quan trọng là những vấn đề đã được nhà triết học
nêu lên Cantơ đã đi sâu vào các quan hệ con ngưòi không chỉ từ khía cạnh nhận thức
luận mà cả khiá cạnh bản thể luận, làm rã quan hệ tác động qua lại giữa cái sinh học và
cái xã hộ trong con người. Nếu Cantơ chưa giải quyết được những vấn đề đó tì chỉ là vì
ông chưa giải quyết được chúng trên cơ sở lý luận nhận thức duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử một cách triệt để.
24
Ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu con người của Cantơ là ở chỗ, Cantơ đã:
Thứ nhất, quan tâm đặc biệt tới những điều kiện tự nhiên – vật chất của sự nảy sinh và
sự phát triển xã hội ; Thứ hai, Xây dựng học thuyết về vai trò của tính mâu thuẫn xã
hộivà tính đối kháng như là động lực của tiến trình lịch sử;Thứ ba, tin vào tiến bộ xã
hội và thắng lợi của các yếu tố đạo đức trong con người; thứ tư, xem mục đích của lịch
sử là xây dựng một xã hội công bằng và con người phát triển hài hoà.
Các qua điểm của Cantơ về tiến trình lịch sử là một trong những bứoc tiến lớn
lao trên con đường loài người xây dựng lý thuyết duy vật –Biện chúng về sự phát triể
C. KẾT LUẬN
Giá trị lớn lao trước hết của triết học Cantơ là nó đã đặt ra một loạt vấn đề căn
bản của nhận thức luận, về phương pháp biện chứng,về nguồn gốc của những khái niện
và các phạm trù lôgíc chủ yếu và vị trí của chúng trong tư duy khoa học cũng như trong