HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN
Khoa Báo Chí
***
TIỂU LUẬN
Đề tài: Cơ chế tác động của báo chí
Hà Nội - 2012
MỞ ĐẦU
Báo chí là một trong những hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng
ngày và chi phối và tác động đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nếu hình
dung xã hội là một cơ thể sống, có lúc tiềm ẩn hoặc bộc phát những hiện
tượng “bệnh lý” làm chậm, thậm chí kéo lùi sự phát triển thì báo chí và truyền
thông người loan báo, chung tay vạch ra phác đồ điều trị, định hướng dư luận
góp phần quan trọng trong việc điều trị, bóc tách những khối u nhọt đang bộc
phát của xã hội. Và tất nhiên, để đạt được sự hiệu quả cao, cũng như bất kỳ
hiện tượng xã hội nào, báo chí cũng phải hoạt động theo quy trình, cách thức
nhất định. Hay nói một cách khác, báo chí luôn có một cơ chế tác động riêng
biệt đối với đời sống xã hội.
Nghiên cứu về cơ chế tác động của báo chí là một trong những vấn đề
có ý nghĩa thực tiễn đối với báo chí hiện đại. Nếu được nghiên cứu, lý giải
một cách thỏa đáng và chi tiết sẽ giúp thành lập nên những hệ thống lý luận
cơ bản có ý nghĩa thực tiễn cao. Và đó sẽ là cơ sở hữu ích giúp chủ thể bảo
chí truyền thông nhận thức rõ hơn những vấn đề đặt ra của từng khâu, từng
công đoạn trọng hoạt động nghề nghiệp. Từ việc lựa chọn sự kiện và vấn đề
thông tin, sáng tạo tác phẩm... đến thời điểm tác động vào dư luận xã hội
nhằm tạo ra hiệu lực mạnh mẽ nhất và đạt hiệu quả tốt nhất.
Đã có nhiều ý kiến “giải mã” cơ chế tác động của báo chí và truyền
thông đại chúng thế nhưng phần lớn những ý kiến đó mới dừng lại ở mức phổ
Cơ chế tác động của báo chí có thể hiểu là một quá trình và cách thức
tác động của báo chí vào ý thức quần chúng nhằm tập hợp, thuyết phục động
viên và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia bàn bạc, giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội nào đó thông qua việc góp phần thay đổi nhận thức, thái độ và
điều chỉnh hành vi. Tất nhiên, quá trình và cách thức tác động của báo chí
gồm nhiều công đoạn và giữa các công đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ,
theo trật tự logic.
Cơ chế tác động của báo chí được cấu thành nhờ sự vận hành của các
yếu tố sau: thực tiễn xã hội, chủ thể ( nhà báo), sản phẩm (báo chí), kênh (loại
hình báo chí); công chúng (ý thức đại chúng), thái độ hành vi, hiệu lực và
hiệu quả.
3
II.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ chế tác động báo chí
Đây là một trong những vấn đề cơ bản và bức thiết của lý luận và thực
tiễn báo chí hiện đại. Vấn đề này nếu được nghiên cứu thỏa đáng và nhận
thức đầy đủ sẽ có ý nghĩa lý luận cơ bản và đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn thiết
thực giúp cho chủ thể báo chí – truyền thông nhận thức rõ hơn những vấn đề
đặt ra của từng khâu, từng công đoạn trong hoạt động nghề nghiệp, từ việc lựa
chọn sự kiện và vấn đề thông tin, sáng tạo tác phẩm... đến thời diểm và cách
thức tác động và dư luận xã hội nhằm tạo ra hiệu lực mạng mẽ nhất và đạt
được hiệu quả - mong đợi tốt nhất có thể.
4
CHƯƠNG II: CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ VÀO ĐỜI SỐNG
phẩm
báo
chí
Kênh
truyền
thông
Ý thức
quần
chúng
Hiệu lực
Hiểu
biết tri
thức
tổng
hợp
Thái
độ
hành
vi
Hiệu quả tác động
Xuất phát từ những sự kiện vấn đề của cuộc sống, từ nhu cầu, nguyện
vọng của công chúng và mục đích truyền thông – tức là xuất phát từ việc nhận
thức sâu sắc thực trạng và xu hướng vận động của thực tiễn xã hội cũng như
cán bộ tham ô và làm thất thoát gần 3 tỷ đồng. Song song với việc điều tra
trên, cơ quan điều tra đã mở rộng điều tra việc phê duyệt dự án nhà máy sửa
6
chữa tải biển của Vinalines. Kết quả cho thấy, Tổng giám đốc của công ty này
đã ký khống dự án phê duyệt nhà máy mà chưa có sự phê duyệt của Thủ
tướng đồng thời tiêu tốn lãng phí hàng trăm tỷ đồng của nhà nước vào dự án
ko có tính hiệu quả và không có khả năng khai thác. Qua sự vụ này, báo chí
cũng đã khơi ra nhiều những sai phạm mang tính chất nghiêm trọng của
Vinalines ra trước công luận. Và đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm của
vấn đề tham nhũng, sai phạm trong việc sử dụng tiền của của Nhà nước.
Như vậy, bản thân sự kiện nói lên vấn đề. Do vậy, nhà báo cần phát hiện
các sự kiện, các con số' và đặt nó trong các mối quan hệ để có thể phân tích,
lý giải vấn đề một cách sáng rõ và thuyết phục nhất. Sự kiện là khởi đầu và
căn chứng nhưng mục đích của việc phản ánh, thông tin là phải cắt nghĩa, giải
quyết được vấn đề. Cái khó của nhà báo là ở chỗ không chỉ phát hiện được sự
kiện thông tin, mà quan trọng hơn là nhận thức, phán đoán năng lực và mối
quan hệ tác động của sự kiện ấy trong tình hình cụ thể. Hay nói cách khác,
giữa sự việc, sự kiện cụ thể với các vấn đề xã hội quan tâm có mối quan hệ
nhất định. Do đó, nhà báo vừa phải phát hiện sự việc, sự kiện nhưng quan
trọng hơn là phát hiện, phán đoán mối quan hệ ấy trong tình hình và bối cảnh
cụ thể. Sự kiện và mối quan hệ ấy tạo nên giá trị thông tin của tác phẩm báo
chí. Có thể nói rằng, mỗi sự kiện đều có tiềm năng thông tin, tiềm năng ấy có
được khơi thức hay không là tuỳ thuộc vào năng lực nhận thức và bàn tay
của nhà báo.
2. Về chủ thể (nhà báo)
Việc nhận thức thực tiễn của nhà báo, nói chung là phải được thể hiện
và thông qua phản ánh thực tiễn, tức là hoạt động thu thập, xử lý và chuyển
quan báo chí. Ý đồ ấy được hình thành từ tình hình cụ thể, trên quan điểm và
thái độ chính trị nhất định. Như vậy, ở đây không chỉ cần sự hiểu biết, lập
trường xã hội mà còn là sự tinh tế, nhạy cảm cũng như cách thức - văn hoá
ứng xử của nhà báo.
3. Thông điệp
Muốn tăng cường thông tin hữu ích, cần phải có được nhiều thông tin tiêp
nhận, muốn có được nhiều thông tin tiêp nhận lại cần phải cung câp nhiều
8
thông tin tiềm năng - tăng cường số lượng và chât lượng ân phẩm báo chí cho
các nhóm công chúng xã hội. Số lượng và chât lượng thông tin không chỉ
xuât phát từ chủ thể báo chí, mà trong báo chí hiện đại người ta quan tâm
nhiều đên việc "đa nguồn" thông tin, tức là tạo ra cơ chê hoạt động để chính
công chúng cung câp và chia sẻ thông tin. Người làm báo chú trọng vào những
vân đề trọng tâm, một số thể loại, một số mảng đề tài và tăng cường vai trò người
tổ chức, người biên tập. Cơ chê độc quyền và thao túng thông tin báo chí ngày
càng giảm và sẽ mât dần tác dụng trong xã hội dân chủ và dân trí ngày càng cao.
Cho dù trong hoàn cảnh nào thì việc nâng cao chât lượng ấn phẩm và giá trị thông
tin luôn được coi là phương hướng chính yêu nhât.
Do đó, người ta thường nói tới ba tiêu chí cho một tác phẩm báo chí hay,
hấp dẫn công chúng. Thứ nhất, tác phẩm đề cập được sự kiện, vấn đề bức
xúc, nóng hổi, nổi cộm trong dư luận xã hội, đang được công chúng đón đợi,
muốn biết và cần được giải thích giải đáp; thứ hai là tác phẩm được cấu
thành, được xây dựng từ những chi tiết sống động, những số' liệu xác thực, tin
cậy; thứ ba là cách thức diễn đạt, trình bày ngắn gọn, sáng rõ, cuốn hút.
Như vậy, để có được thông điệp - tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn công
chúng, đòi hỏi ở người viết quá trình lao động sáng tạo, công phu, nghiêm
túc, có tâm và nhiệt thành, không chỉ hỏi trình độ, năng lực mà còn năng
khiếu nghề nghiệp; không chỉ trình độ văn hoá và vốn sống mà quan trọng là
thành tố này có thể được mô tả bằng mô hình sau:
Mô phỏng mô hình YTQC)
Dư luận xã hội
Thế giới quan,
nhân sinh quan
Ý thức
lịch sử
văn hóa
10
Trong mô hình này, thế giới quan và nhân sinh quan là hai thành tố hạt
nhân của ý thức quần chúng. Hai yếu tố này ít biến động nhất.Đó là những
quan điểm với tư cách là hạt nhân tư tưởng của thế giới bên trong nhận thức:
kinh nghiệm tinh thần của cá nhân, hướng dẫn chi phối nhận thức và tự nhận
thức của con người, xác định mức độ tính tích cực xã hội. Nó được hình thành
thông qua nhận thức lý luận về cuộc sống, hoạt động thực tiễn và phụ thuộc
vào nền tảng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cá nhân. Nhân sinh quan trở
thành trung tâm điều khiển hành vi và biểu thị thái độ của con người. Con
người chỉ có khả năng nắm được những gì phù hợp với nhân sinh quan của
họ, với những định hướng quan trọng
Tri thức lịch sử - văn hóa là lớp trung gian truyền dẫn có vai trò thẩm định,
so sánh, đối chiếu trong quá trình tiếp nhận các sự kiện, hiện tượng vấn đề mới do
truyền thông đại chúng cung cấp với những dữ liệu được lưu giữ trong kho tàng
tri thức lịch sử - văn hóa của mỗi người, mỗi nhóm công chúng.
Dư luận xã hội là ý kiến của nhóm có đủ thông tin cũng có khi của một
nhóm chưa có thông tin đầy đủ. Trường hợp đầu là có sự đánh giá chính xác,
cường tinh thần sẵn sàng của những hành vi, phản ứng của con người tới đối
tượng có liên quan.
7. Hiệu lực
Khi sản phầm báo chí – truyền thông tác động vào dư luận xã hội, xuất
hiện thêm 1 khái niệm nữa: hiệu lực. Hiệu lực là hiệu ứng xã hội – tác động
thực tế do ấn phẩm báo chí tạo ra, là khả năng thu hút sự chú ý của công
chúng và dư luận xã hội có thể phù hộ hay không phù hợp với yêu cầu của
chủ thể. Ấn phẩm truyền thông một khi đã được xã hội hóa thì khó có thể
kiểm soát tầm ảnh hưởng cũng như năng lực gây chấn động xã hội. Chẳng
hạn như vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, Văn Giang (Hưng Yên) hay gần đây
nhất là vụ sai phạm của Vinalines... là những ví dụ điển hình cho hiệu lực tác
12
động của báo chí, tạo ra sự thu hút, chú ý của công chúng, khơi gợi, truyền
dẫn, định hướng và thậm chí điều hòa dư luận.
Sở dĩ những vụ việc trên có sức vang, gây chấn động lớn trong dư luận
cả nước hay nói cách khác hiệu lực tác động của báo chí cao là do tính chất,
quy mô và mối quan hệ tác động của sự kiện và vấn đề thông tin; do sức
thuyết phục và độ chính xác tin cậy của thông tin; do thời điểm thông tin và
do vị thế xã hội của sản phẩm báo chí.
8. Hiệu quả
Hiệu quả có thể được hiểu nôm na là “kết quả của việc làm mang lại”.
Hiệu quả thường cần có thời gian và thể hiện qua nhiều tầng nấc, nhiều dạng
thức, nhất là hiệu quả hoạt động xã hội. Nhưng quy về một cách cụ thể nhất,
hiệu quả tác động của báo chí – truyền thông được thể hiện qua nhận thức,
thái độ, hành vi của công chúng xá hội, của nhân dân nói chung về những vấn
đề cơ bản, bức xúc, thiết thực của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội cũng
như việc hình thành nhân cách và diện mạo văn hóa của mỗi cá nhân, và cuối
bảo vệ, niềm tin vào pháp luật phải được bảo vệ, sự thật phải được công bố,
uy tín và danh dự của chế độ, của đất nước phải được bảo vệ, lương tâm các
nhà báo đã thúc giục bước chân của họ, ngòi bút của họ, đưa nhanh sự thật tới
nhân dân.
Họ đã bước qua sự cám dỗ, bước qua lời mời mọc, bước qua sự gian
dối, đi thẳng tới sự thật, chỉ có sự thật mới làm sang trọng hai chữ nhà báo,
chỉ có sự thật mới làm nên thương hiệu của các tờ báo, chỉ có sự thật mới kéo
được bạn đọc về với tờ báo của mình.
Báo chí thành công vì các cơ quan quản lý báo chí ngay từ phút đầu đã
nhận ra ngay vụ Tiên Lãng là một vụ việc nghiêm trọng, dù tại thời điểm đó
đúng sai chưa rõ ràng, nhưng các cơ quan quản lý báo chí đã tạo thời cơ cho
các nhà báo tìm kiếm sự thật, sự mở đường đầy tính cách mạng đó của các cơ
quan báo chí đã tăng thêm ý chí, sức lực, niềm tin và lòng dũng cảm cho các
nhà báo xông pha vào thực tế, lôi ra ánh sáng những sai phạm, giúp cho các
14
cơ quan quản lý nhà nước nhận chân chính xác nguyên nhân vụ việc, khiến
các báo cáo của địa phương trở nên lạc lõng, thành phố phải 3 lần báo cáo
Thủ tướng mới tạm chấp nhận.
Có lẽ đây là một vụ việc điển hình cho báo chí phản ánh đúng thực tiễn
góp phần vạch trần sự việc, hướng dẫn, thúc đẩy dư luận quần chúng thể hiện
rõ tinh thần, thái độ, cũng như hành động ủng hộ nhiệt tình như vụ việc cưỡng
chế ao đầm của Đoàn Văn Vươn. Ngay cả ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban
Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh và Thứ trưởng phụ trách báo chí Đỗ
Quý Doãn cũng đã đánh giá cao báo chí tác nghiệp khá tốt vụ Tiên Lãng.
Sản phẩm: Trong hai tháng trời, báo chí dành cho Tiên lãng quá nhiều
bài viết, tin tức, phóng sự, phỏng vấn... Theo cục Thống kê Báo chí, đến
tháng 3/2012, số lượng bài đăng tải trên báo in và báo điện tử trong nước lên
thông đại chúng, dư luận biết được sự kiện và cũng chính bằng truyền thông,
dư luận cũng phản ảnh những ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của mình. Chẳng
thế mà hầu như dưới những bài viết về sự kiện nóng hổi này, dễ dàng nhận
thấy độc giả tích cực phản hồi, đăng đàn đưa ra những kiến nghị, biện pháp
giải quyết.
Hiệu lực và hiệu quả: Có thể nói, sự kiện Tiên Lãng chiếm giữ khá
nhiều kỷ lục, trong đó phải kể đến sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Trong
hơn một tháng qua, gần như hàng ngày người dân khắp cả nước đều chờ đợi,
dõi theo diễn biến sự việc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và
hy vọng các ban ngành chức năng vào cuộc một cách công tâm. Và sự kiện
này cũng thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các vị lãnh đạo lão thành, các
vị nguyên là tướng lĩnh và đại biểu Quốc hội cùng nhiều chuyên gia, lực
lượng trí thức. Với tri thức và kinh nghiệm của mình, nhiều người đã có
những phân tích, đánh giá sự việc một cách chính xác, sắc sảo dưới nhiều góc
độ. Đó chính là những gợi ý xác đáng để các cơ quan chức năng điều tra làm
rõ. Và kết quả đạt được đã làm nức lòng dân chúng, Thủ tướng kết luận: việc
ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất của ông Vươn cũng không đúng
quy định của pháp luật. Nội dung quyết định cưỡng chế có sai phạm, không
xác định ranh giới của diện tích thu hồi, không kiểm kê tài sản trên diện tích
16
thu hồi, thời điểm cưỡng chế không phù hợp khi giáp Tết cổ truyền. Đặc biệt
việc tổ chức thực hiện cưỡng chế càng có nhiều sai sót, gây hậu quả như báo
chí nêu. Tuyên bố về sự kiện Tiên Lãng của Thủ Tương đã củng cố niềm tin
chính trị trong đông đảo quần chúng nhân dân cả nước.
2. Sự kiện Vinalines
Việc cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng trong việc mua ụ nổi tại
Vinalines, trái với sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và có các
dấu hiệu vi phạm pháp luật về đầu tư đã được cơ quan điều tra khởi tố bị can
nhân, khả năng thuyết phục tập hợp công chúng tham gia vào giải quyết các
vấn đề cả xã hội.
Nhìn nhận một cách sâu sắc, khi nghiên cứu vấn đề tác động của báo
chí cần phải chú ý tầm quan trọng của vai trò của công chúng đối với sản
phẩm báo chí cũng như những tác động của báo chí đến việc hình thành tư
tưởng, điều chỉnh hành vi của công chúng. Thông tin báo chí khi chưa được
công chúng tiếp nhận mới chỉ là thông tin khả năng; công chúng không tiếp
nhận các văn bản thông báo, không mua và đọc báo, không nghe phát thanh,
không xem truyền hình, không tiếp nhận thông tin trên mạng internet sẽ phá
vỡ mối quan hệ nhà báo – tác phẩm – công chúng; khi đó, thành quả lao động
báo chí của toàn thể cơ quan báo chí nói chung và từng phóng viên, nhà báo
nói riêng chưa được đón nhận và thưởng thức. Như thế, báo chí mới thực hiện
được một nửa chức năng của mình. Việc đánh giá các tác phẩm báo chí đúng
hay sai, có ý nghĩa hay chưa có ý nghĩa,... cũng là một điều không thể thiếu.
Do đó, công chúng cũng chính là người tham gia vào việc góp ý, đồng tình
hay không đồng tình, biểu dương hay phê bình khi họ đã thẩm định được
những giá trị đích thực của thông tin báo chí.
Vấn đề cần lưu ý ở đây là, mục đích, yêu cầu của chủ thể hoạt động
báo chí phải phục tùng và vì lợi ích chân chính của công chúng mình, nhân
dân mình, vì sự phát triển bền vững của đất nước và chấn hưng dân tộc, chứ
không phải vì lợi ích ích kỷ của một số cá nhân hay một nhóm người - nhất là
cá nhân hay nhóm người nhân danh quyền lực.
18
Nghiên cứu cơ chế tác động của báo chí luôn đặt trong môi trường kinh
tế - xã hội cụ thể, trong môi trương pháp lý và văn hoá của cộng đồng. Hiệu
quả tác động của báo chí cũng do đó, chịu sự chi phối, phụ thuộc của nhiều
yếu tố, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; từ chủ quan đến khách quan, từ
trong nước, trong khu vực và thế giới... Xét trên tổng thể, mỗi loại hình báo