ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ THỊ QUỲNH TRANG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KÉT QUẢ CÔNG TÁC CHUYỂN QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TÂN LONG
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa Khóa
học
: Chính quy : Quản
lý đất đai : Quản lý
tài nguyên : 2011 2015
Thái Nguyên - năm 2015
HÀ THỊ QUỲNH TRANG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KÉT QUẢ CÔNG TÁC CHUYỂN QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TÂN LONG
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Hà Thị Quỳnh Trang
4
Kí hiệu viết tắt
Nguyên nghĩa
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
SDĐ
Sử dụng đất
GCN
Giấy chứng nhận
QSDĐ
LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
vil
9
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trải qua hàng triệu năm cùng với những biến động của tự nhiên, đất đai đã trở
thành thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là sản phẩm của tự nhiên ban tặng
cho con người, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình văn hóa, kinh tế - xã hội,
an ninh - quốc phòng.
Đất đã tạo ra con người và con người cùng với sức lao động, cộng với trí thông
minh tuyệt vời của mình đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của trái đất. Cũng từ đó, đất đai trở
thành điều kiện sinh tồn, thành cơ sở để thực hiện quá trình sản xuất, tạo ra của cải vật chất
cho sản xuất. Mọi quá trình sản xuất và các hoạt động của con người đều cần đến một mặt
bằng và khoảng không gian lãnh thổ nhất định. Nếu không có đất đai thì không có một
ngành nào, một xí nghiệp nào có thể hoạt động được. Như vậy, nếu không có đất thì sẽ
không có sản xuất, không có sự tồn tại của con người.
Đất là bất động sản nhưng luôn “động” QSDĐ được người dân trao đổi trên thị
trường khiến cho thị trường đất đai trở thành một thị trường nóng và sôi động rất khó quản
lý. Các hình thức chuyển quyền diễn ra mạnh, người dân ngày càng có nhiều nhu cầu SDĐ
cho ở, kinh doanh,... để đảm bảo cho mọi hoạt động chuyển quyền diễn ra hợp lý theo pháp
luật thì công tác quản lý hoạt động này cần phải thường xuyên hơn.
Đánh giá được tình hình sử dụng đất trên địa bàn phường Tân Long.
-
Đánh giá được kết quả công tác chuyển quyền sử dụng đất giai đoạn từ năm 2012
đến năm 2014 của phường Tân Long.
-
Đánh giá được sự hiểu biết của người dân địa phương về công tác chuyển quyền sử
dụng đất và đánh giá sự hiểu biết đó theo nhóm đối tượng.
-
Tìm hiểu và xác định được các nguyên nhân và những tồn tại trong công tác chuyển
quyền sử dụng đất tại phường Tân Long từ đó đề xuất giải pháp nhằm khắc phục
những tồn tại trong công tác chuyển quyền sử dụng đất tại địa phường.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1.
-
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung hoàn thiện kiến thức đã được học trong nhà trường cho bản thân đồng thời
tiếp cận và thấy được những thuận lợi, khó khăn của chuyển quyền sử dụng đất tại
địa phương
-
Cơ sở khoa học của đề tài
Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về các chính sách pháp luật
đất đai, đặc biệt là chính sách chuyển quyền sử dụng đất, tìm hiểu, đánh giá sự hiểu biết của
cán bộ quản lý và người dân trên địa bàn phường Tân Long thành phố Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên và đề xuất giải pháp thực hiện.
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần quản lý nhà nước và các giao dịch về
đất đai trên địa bàn, đồng thời cũng góp phần hoàn thiện một số chính sách, thủ tục về việc
thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đối với phường Tân Long thành phố Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên, góp phần hạn chế, giải tỏa bức xúc, khiếu kiện của nhân dân khi thực hiện
các thủ tục về chuyển quyền sử dụng đất.
Việc chuyển QSDĐ là cơ sở cho việc thay đổi quan hệ pháp luật đất đai. Trong quá
trình sử dụng đất đai từ trước tới nay luôn luôn có sự biến động do chuyển QSDĐ. Mặc dù,
trong Luật Đất đai 1987, Nhà nước chỉ quy định một phạm vi hạn hẹp trong việc chuyển
QSDĐ như chỉ quy định cho phép chuyển quyền sử dụng đối với đất nông nghiệp, còn khả
năng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế các loại đất khác hầu như
bị cấm đoán, nhưng thực tế các quyền này diễn ra rất sôi động và trốn tránh sự kiểm soát
của Nhà nước.
Đến Luật Đất đai 1993, Nhà nước đã ghi nhận sự thay đổi mối quan hệ đất đai rất
toàn diện. Nhà nước đã thừa nhận đất đai có giá trị sử dụng và coi nó là một loại hàng hoá
đặc biệt, cho phép người sử dụng được quyền chuyển quyền khá rộng rãi theo quy định của
pháp luật dưới các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế
QSDĐ. Các quyền này được nêu tại Điều 73 Luật Đất đai 1993. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện Luật đất đai năm 1993 còn bộc lộ nhiều điểm còn chưa phù hợp với sự đổi mới và
phát triển của đất nước. Để khắc phục những tồn tại của Luật Đất đai 1993, đồng thời tạo
hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ về đất đai, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI
thông qua Luật đất đai 2003.
Đến Luật Đất đai 2003, Nhà nước vẫn tiếp tục mở rộng quyền được chuyển QSDĐ
một loại hàng hóa đặc biệt, được xác định giá trị và được tham gia vào thị trường nhà đất.
Việc đất đai được công nhận là một loại hàng hóa và được tham gia vào thị trường đã có tác
dụng rất lớn tạo ra một bước tiến mới trong việc phát triển của kinh tế - xã hội và công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
Luật Đất đai 1993 được ban hành vào ngày 15/10/1993 (Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Đất đai 1988) chỉ có 5 hình thức chuyển quyền sử dụng đất gồm: Chuyển
đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, được quy định cụ thể trong các điều 73,
74, 75, 76, 77 và điều 78. Tuy nhiên, do mới được chính thức thừa nhận nên các hình thức
chuyển quyền sử dụng đất còn đơn giản, chưa thực sự nắm hết được các hoạt động, vì vậy
trong thực tế vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình quản lý (Luật Đất đai 1993)
[6].
Để giải quyết các vướng mắc trong các Luật Đất đai ban hành cho phù hợp với thực
tế phát triển của xã hội, Luật Đất đai 2003 được ban hành là một bước tiến mới tạo ra
hướng đi cho quá trình phát triển và công tác quản lý nói chung. Các hình thức chuyển
quyền sử dụng đất đai đã đa dạng hơn, có thêm 3 hình thức mới bao gồm: chuyển đổi,
chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, đồng thời là các quy định cụ thể chặt chẽ và
chi tiết hơn về việc hướng dẫn các hình thức trên được quy định trong Luật đất đai tại các
điều 106, 110, 113, 115, 119 và trình tự, thủ tục quy định tại các điều 126, 127, 128, 129,
130 và điều 131 (Luật Đất đai 2003) [7].
Hiện nay gần đây nhất Luật 2013 đã được ban hành nhằm sửa đổi bổ sung nhiều
quy định mới cụ thể hơn và phù hợp hơn với yêu cầu của công tác quản lý, dụng đất đai
hiện nay, khắc phục được những bất cập cũng như thiếu sót của Luật Đất đai cũ. Về các
hình thức chuyển QSDĐ gồm 7 hình thức bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
cho thuê, cho thuê lại, tặng cho QSDĐ, thế chấp, góp vốn bằng giá trị QSDĐ, bỏ hình thức
bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ được quy định trong Luật đất đai tại các điều 167, 174, 179,
183, 186, 188 (Luật Đất đai 2013 ) [8].
Một số các văn bản được Nhà nước ban hành trong vài năm gần đây liên quan tới
việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính [1].
-
Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 của Bộ tư pháp
và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng giá
trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
-
Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 về sửa đổi, bổ
sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP- BTNMT ngày
16 tháng 06 năm 2005 của Bộ tư pháp và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn
việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với
đất [2].
-
Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/06/2006 của Bộ tư pháp
và Bộ tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng,
văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất.
-
Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về việc ban hành quy
định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
-
1.1.3.
Cơ sở thực tiễn của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, thị trường đất đai ngày càng sôi động vì vậy nhu cầu
chuyển QSDĐ của người sử dụng cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là
một tất yếu khách quan nhằm đạt tới một sự phát triển cao hơn, phù hợp hơn nhằm đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng cũng như của toàn xã hội.
Phường Tân Long là một phường thuộc thành phố Thái Nguyên, trong quá trình đổi
mới nền kinh tế, đất đai đã trở thành một yếu tố quan trọng phục vụ cho việc phát triển. Vì
vậy mà đất đai ngày càng có giá trị hơn, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích phát triển
cũng tăng lên nhanh chóng. Công tác quản lý đất đai cũng gặp nhiều khó khăn, phải nhanh
chóng cập nhập các thông tư nghị định mới của thành phố. Đa phần người dân chưa bắt kịp
với những thay đổi, những hiểu biết về đất đai còn hạn chế, các hộ chưa thấy được tầm
quan trọng của tính pháp lý đối với đất đai mà các hộ đang có. Còn rất nhiều hộ tự ý chuyển
quyền sử dụng cho nhau mà không thông qua pháp luật, chính vì vậy công tác quản lý nhà
nước về đất đai còn khó khăn.
Thực tế cho thấy trong thời gian qua, kể từ khi Luật Đất đai 2003 ra đời và gần đây
nhất có luật 2013 sửa đổi, bổ sung đã tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc quản lý và sử
dụng đất. Cùng với sự nỗ lực trong công tác tuyên truyền pháp luật đến từng người dân thì
công tác quản lý đất đai có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn. Người dân ý thức hơn
về vấn đề QSDĐ và việc thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý về chuyển QSDĐ. Các cấp
lãnh đạo cũng như UBND phường Tân Long cùng các ngành liên quan đã xây dựng nhiều
kế hoạch cho các hoạt động trong lĩnh vực đất đai nhằm đẩy mạnh hoạt động chuyển QSDĐ
tại địa phương. Đây là một trong những nội dung cần phát huy hơn nữa nhằm tạo tiền đề
cho người dân tích cực tham gia sản xuất phát triển kinh tế nói riêng và cho phường nói
chung trong việc thu hút các nguồn đầu tư từ bên ngoài để xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng
cao đời sống cho nhân dân, thay đổi bộ mặt của phường trong tương lai.
-
Hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp theo chủ trương chung về
“Dồn điền đổi thửa” thì không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển QSDĐ, lệ phí
trước bạ, lệ phí địa chính (Điều 102 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP) [3].
1.2.1.2.
Quyền chuyển nhượng QSDĐ
Chuyển nhượng QSDĐ là hình thức phổ thông nhất của việc chuyển QSDĐ, đó là
việc chuyển QSDĐ cho người khác trên cơ sở có giá trị. Trong trường hợp này người được
nhận đất phải trả cho người chuyển quyền sử dụng một khoản tiền hoặc hiện vật ứng với
mọi chi phí mà họ đã bỏ ra để có được QSDĐ và tất cả chi phí đầu tư làm tăng giá trị của
đất đó.
Hiện nay, Luật Đất đai 2003 cho phép chuyển nhượng QSDĐ rộng rãi khi đất có đủ
4 điều kiện đã nêu ở Điều 106 trên đây, cụ thể:
-
Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng QSDĐ trừ các
trường hợp quy định tại Điều 103 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP như sau:
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
QSDĐ đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho QSDĐ.
+ Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng QSDĐ chuyên trồng lúa nước,
đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển
mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.
+ Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho QSDĐ chuyên trồng lúa nước.
người sử dụng được chuyển QSDĐ rộng rãi theo quy định của pháp luật. Từ đó, QSDĐ
được coi như một tài sản dân sự đặc biệt nên người sử dụng đất có quyền để thừa kế. Vì
vậy, quyền này chủ yếu tuân theo quy định của bộ Luật Dân sự về vấn đề thừa kế. Dưới đây
là một vài quy định cơ bản về thừa kế.
-
Nếu những người được hưởng thừa kế QSDĐ của người đã mất mà không tự thoả
thuận được thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào di chúc mà chia.
-
Nếu toàn bộ di chúc hợp pháp hoặc phần nào của di chúc hợp pháp thì chia theo di
chúc.
-
Nếu không có di chúc thì hoặc toàn bộ di chúc không hợp pháp hoặc phần nào
không hợp pháp thì chỉ chia những phần không hợp pháp theo pháp luật.
-
Chia theo pháp luật là chia theo 3 hàng thừa kế, người trong cùng một hàng được
hưởng như nhau, chỉ khi không còn người nào hàng trước thì những người ở hàng
sau mới được hưởng.
-
Hàng 1 gồm: Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người
vậy, người ta còn gọi thế chấp là chuyển quyền nửa vời.
Thế chấp QSDĐ trong quan hệ tín dụng là một quy định đã giải quyết được một số
vấn đề cơ bản sau:
-
Tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và cá nhân được vay vốn để phát triển
sản xuất, đáp ứng nhu cầu cấp thiết chính đáng của người lao động.
-
Tạo cơ sở pháp lí và cơ sở thực tế cho ngân hàng và tổ chức tín dụng cũng như
những người cho vay khác thực hiện được chức năng và quyền lợi của họ [11].
1.2.1.7.
Quyền bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ
Tương tự như quyền thế chấp QSDĐ, quyền bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ là quyền
mà người sử dụng đất sử dụng giá trị QSDĐ của mình để bảo lãnh cho một người khác vay
vốn hay mua chịu hàng hoá khi chưa có tiền trả ngay. Do đó, những quy định về quyền bảo
lãnh tương tự như quyền thế chấp.
1.2.1.8.
Quyền góp vốn bằng giá trị QSDĐ
Góp vốn bằng giá trị QSDĐ là việc người SDĐ có quyền coi giá trị QSDĐ của
mình như một loại tài sản dân sự đặc biệt để góp với người khác cùng hợp tác sản xuất kinh
doanh. Việc góp vốn này có thể xảy ra giữa hai hay nhiều đối tác và rất linh động.
đất, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng phải nộp tiền sử dụng đất được
quy định như sau:
-
Trường hợp người sử dụng đất không được phép chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính
hoặc không được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì chỉ được thực hiện các quyền của
người sử dụng đất kể từ khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của
pháp luật.
-
Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
cho chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc cho ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì được
thực hiện các quyền của người sử dụng đất kể từ khi có quyết định đó.
- Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được
ghi nợ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật thì được thực hiện các quyền của
người sử dụng đất kể từ khi có quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,
ký hợp đồng thuê đất.
2- Thời điểm hộ gia đình, cá nhân được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho QSDĐ, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất nông nghiệp do Nhà nước
giao không thu tiền sử dụng đất được xác định từ khi quyết định giao đất có hiệu lực
thi hành.
3- Thời điểm người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê,
thừa kế, tặng cho QSDĐ, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ theo quy định
của pháp luật về đất đai đối với đất chuyển hình thức thuê đất sang hình thức giao
đất được xác định từ khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp
luật.
tặng cho QSDĐ theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 101 và khoản 6 điều 113 của
Luật Đất đai năm 2003 trừ trường hợp hợp được quy định tại điều 103 của Nghị
định này.
d) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận QSDĐ thông qua nhận
thừa kế QSDĐ.
e) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại Điều 121 của
Luật Đất đai năm 2003 được nhận QSDĐ thông qua mua nhà ở, nhận thừa kế nhà ở,
được tặng cho nhà ở gắn liền với QSDĐ ở.
f) Tổ chức kinh tế là pháp nhân mới được hình thành thông qua góp vốn bằng giá trị
QSDĐ được nhận QSDĐ từ người tham gia góp vốn.
g) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài nhận QSDĐ thông qua việc Nhà nước giao đất.
h) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài được nhận QSDĐ thông qua việc nhà nước
cho thuê đất.
i) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, được nhận QSDĐ
thông qua việc Nhà nước công nhận QSDĐ đối với đất đang được sử dụng ổn định.
k) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài được nhận QSDĐ theo
kết quả hoà giải về tranh chấp đất đai được UBND cấp có thẩm quyền công nhận, thoả
thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh để xử lý nợ, quyết định hành chính của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết
định hoặc bản án của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn
bản công nhận kết quả đấu giá QSDĐ phù hợp với pháp luật, văn bản về chia tách QSDĐ
phù hợp với pháp luật đối với hộ gia đình hoặc nhóm người có chung QSDĐ.
l) Tổ chức là pháp nhân mới được hình thành thông qua việc chia tách hoặc sáp nhập
theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc văn bản về việc chia tách
hoặc sáp nhập tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật được nhận QSDĐ từ các tổ
Hồ sơ gồm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và GCN QSDĐ hoặc một trong các
loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật đất đai 2003 (nếu có).
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phải có chứng nhận của công chức Nhà nước,
trường hợp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn
hình thức chứng nhận của công chức nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị
trấn nơi có đất.
Hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ nộp tại văn phòng đăng ký QSDĐ, trường hợp hộ gia
đình, cá nhân SDĐ tại nông thôn thì nộp tại UBND xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng
đăng ký QSDĐ.
1.2.3.3.
Hồ sơ thực hiện quyền cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất
Hồ sơ gồm hợp đồng cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và GCN QSDĐ hoặc một trong
các loại giấy tờ về QSDĐ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật đất đai 2003 (nếu
có).
Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại QSDĐ phải có chứng nhận của công chức Nhà
nước, trường hợp hợp đồng cho thuê, cho thuê lại QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân thì được
lựa chọn hình thức chứng nhận của công chức nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã,
phường, thị trấn nơi có đất.
Hồ sơ được nộp tại văn phòng đăng ký QSDĐ, trường hợp hộ gia đình, cá nhân SDĐ tại
nông thôn thì nộp tại UBND xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng
1.2.3.4.
Hồ sơ thực hiện quyền thừa kế QSDĐ
Hồ sơ gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế hoặc bản án, quyết định giả