Luận văn thạc sĩ thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu (TT) - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN
THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Ma ngành: 62620301

VÕ THÀNH TOÀN

THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ ELEOTRIDAE
VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA’ MỘT SỐ LOÀI
CÁ BỐNG PHÂN BỐ TREN TUYẾN SÔNG HẬU

Cần Thơ, 2016


Người hướng dẫn chính: PGS.TS. Trần Đắc Định Người hướng dẫn
phụ: TS. Hà Phước Hùng

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại:........................................................................................
Vào lúc.........giờ............ngày............tháng............năm.............

Phản biện 1
Phản biện 2
Phản biện 3

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần

thành phần loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá
bống có giá trị kinh tế là rất cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nhằm xác định thành phần loài, mức độ phong phú của họ cá bống Eleotridae
và đặc điểm sinh học của một số loài có giá trị kinh tế phân bố trên tuyến Sông
Hậu, góp phần làm cơ sở cho công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, cũng như làm
cơ sở cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài cá bống kinh tế trong tương
lai.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm bổ sung dẫn liệu khoa học về thành phần
loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống kinh
tế phân bố trên tuyến Sông Hậu. Kết quả này là nguồn tư liệu phục vụ cho việc
giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, phục hồi và tái tạo nguồn lợi
3


thuỷ sản nói chung và nhóm cá bống nói riêng.
1.4 Những điểm mới của luận án
i) Kết quả khảo sát các yếu tố sinh thái cho thấy độ mặn có liên quan
đến sự phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae, đặc biệt là cá bống
trứng (E. melanosoma) và bống trân (B. butis). Mức độ phong phú
tương đối (CPUE) của hai loài cá này biến động theo mùa và phụ
thuộc vào sự đa dạng các loài thuỷ sinh vật, tốc độ dòng chảy và độ
sâu của nước.
ii) Có 5 loài cá bống thuộc họ Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu,
trong đó cá bống trứng (E. melanosoma), bống dừa (O. urophthalmus)
và bống tượng (O. marmorata) xuất hiện nhiều ở đầu nguồn và giữa
nguồn, trong khi đó cá bống trân (B. butis) ở giữa nguồn và cuối
nguồn, đặc biệt là loài Butis humeralis chỉ phát hiện ở cuối nguồn. Khi
khai thác bằng lưới kéo cho thấy cá bống trứng (E. melanosoma) xuất

(Hình 2.1).

Hình 2.1: Sơ đồ khu vực thu mẫu dọc theo tuyến Sông Hậu (www.maps.google.com. cập
nhật ngày 05/06/2012)

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1
Xác định một số chỉ tiêu sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn,
dòng chảy, độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du, động vật
đáy) trên Sông Hậu
Xác định một số yếu tố sinh thái trong vùng nghiên cứu được thực hiện từ
tháng 8 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013 cùng thời gian và địa điểm với việc
thu mẫu cá bống bằng lưới kéo tại đầu nguồn. giữa nguồn và cuối nguồn Sông
Hậu. mỗi khu vực thu 5 điểm. chu kỳ thu mẫu 2 tháng/lần. Trong đó:
a) Chỉ tiêu pH. nhiệt độ và độ mặn của nước được xác định bằng dụng cụ
chuyên dùng: pH kế. nhiệt kế và khúc xạ kế tại hiện trường (Hình 2.2).
b) Tốc độ dòng chảy được xác định bằng lưu tốc kế số (hiệu 23.090; Paul
and Sally, 1977): Tốc độ dòng chảy (km/giờ) = Khoảng cách đo
(km)/Thời gian đo (giờ); trong đó:
Khoảng cách đo = (Số vòng đã quay của rotor x Hệ số
rotor)/999999 Hệ số rotor cho lưu tốc kế (23.090) = 26873 (Paul
and Sally, 1977)
c) Độ sâu của nước ở các điểm khảo sát được đo đạc tại hiện trường bằng
thiết bị đo độ sâu (Hondex model PS-7FL) (Hình 2.2).

5


Thiết bị đo độ sâu



6


V Mật độ động vật phù du:
X (cá thể/m3) = (T*1.000*Vcđ*106)/(A*N*Vm)
T là số cá thể đếm được theo từng nhóm ngành Vcđ là thể tích mẫu cô đặc
(mL)
A là diện tích 1 ô đếm (mm2)
N là tổng số ô được đếm của buồng đếm Sedgewick rafter cell S50 Vm là
thể tích mẫu thu qua lưới lọc (mL)
V Mật độ động vật đáy: D (cá thể/m2) = X/(n*d)
X là số cá thể đếm được theo từng nhóm lớp n là số lượng
thu bằng gàu đáy Petersen d là diện tích miệng gàu đáy
Petersen (d=0,028 m2)
3.2.2
Xác định thành phần loài và mức độ phong phú (CPUE) của cá
bống họ Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu
Để xác định thành phần loài, mẫu cá bống được thu bằng nhiều loại ngư cụ khác
nhau như chài, vợt, lưới rê, lưới kéo và thu trực tiếp của ngư dân từ hoạt động đánh
bắt tại các địa điểm nghiên cứu gồm các loại nghề khai thác như lưới đáy, chài, đặt
dớn, giăng lưới, chất chà, lưới kéo. Mẫu cá sau khi thu được bảo quản lạnh và đưa
về phòng thí nghiệm phân tích nguồn lợi thủy sản Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
phân tích. Các chỉ tiêu phân tích gồm:
+ Tỉ lệ chiều dài chuẩn (cm) / chiều dài đầu (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài chuẩn (cm) / chiều cao thân (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài đầu (cm) / khoảng cách hai mắt (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài đầu (cm) / chiều dài mõm (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài cạnh đuôi (cm) / chiều cao cạnh đuôi (cm);
+ Tỉ lệ chiều cao thân (cm) / chiều cao cạnh đuôi (cm).

như: Cuvier and Valenciennes (18281848), Cantor (1848) (trích dẫn bởi Manilo and
Bogorodsky, 2003), Taki (1974), Vương Dĩ Khang (1962). Ba giống cá thuộc họ
Eleotridae được xác định theo khoá phân loại sau:

7


1.a- Cạnh sau xương nắp mang trước có 1 gai nhọn hướng về trước .... Eleotris2.aDa đầu mỏng. Phần trán giữa hai mắt, xương sọ nổi lên rõ ràng. Toàn thân
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Nguyễn Nhật Thi (2000), Trần Đắc
Định và ctv. (2013), Froese and Pauly (2014) để so sánh và định danh các loài
cá bống thu được.
phủ vẩy lược. Vẩy đường dọc 26-30
.....................................................Butis
2.b- Da đầu dày, phủ kín xương sọ. Đầu và
phần trước của thân phủ vẩy tròn,
phần sau phủ vẩy lược. Vẩy đường dọc 6090 .....................................Oxyeleotris
Trong nghiên cứu này có tham khảo tài liệu
của Mai Đình Yên (1992), Trương

A)
B)

Vây bụng tách biệt nhau
Không có đường bên
Hình 2.3: Một số đặc điểm hình thái chủ yếu của cá bống (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

C)
D)

Hai vây lưng tách biệt nhau, gồm có tia vây cứng và tia vi mềm

Sông nhánh (xã Bình Hoà, thành phố Long Xuyên)
ọ: 10o28,113'N X:105o20,531'E

8


Trong đó: ọ là vĩ độ (Latitive), X là kinh độ (Longitive), N là
Bắc bán cầu, E là Đông bán cầu
Địa điểm
Nhánh sông
Điểm 1
Sông chính (Phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt)

ọ:

Tọa độ
10o12,645' N X:105o35,591'E

Điểm 2

Sông chính (Phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt)

ọ:

10o11,971' N X:105o35,696'E

Điểm 3

Sông chính (Phường Cái Khế, Quận Ninh Kiều)



______________________________________________________________________________________
Địa điểm
Nhánh sông
Tọa độ
Điểm 1 Sông chính (Thị trấn Đại Ngãi, Huyện Long Phú)
Điểm 2 Sông chính (Thị trấn Đại Ngãi, Huyện Long Phú)
Điểm 3 Sông nhánh (Thị trấn Đại Ngãi, Huyện Long Phú)
Điểm 4
Sông nhánh (Thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề)
Điểm 5 Sông chính (Thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề)

3.2.3
Nghiên cứu đặc điếm dinh dưỡng của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)
Mẫu cá được thu từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014, chu kỳ thu mẫu 2
tháng/lần và được thu ở các nhóm kích cỡ khác nhau, mỗi nhóm thu ít nhất là ^ 30
cá thể/loài (Bảng 3.5).
Bảng 3.5: Số lượng mẫu phân tích tính ăn của cá bống trứng và cá bống dừa

9


Đơn vị tính: cá thể/loài/tháng
Luai Cá

Mùa mưa (2013)
Tháng
10


42 36

34

253

Mẫu cá
sau

khi thu được
cố

định trong dung dịch formaline 10%,

sau
đó

đem về phòng thí nghiệm nguồn lợi thuỷ sản của Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học
Cần Thơ phân tích. Xác định tính ăn của cá dựa vào hình thái cấu tạo của hệ thống
ống tiêu hóa (hình dạng răng, miệng, lược mang, chiều dài ruột và thành phần thức
ăn trong ống tiêu hóa). Thức ăn trong mỗi dạ dày của cá được pha loãng với nước
cất ở thể tích thích hợp (từ 5-10 mL) và lắc đều, sau đó lấy 1 ml cho vào buồng đếm
(Sedgewick rafter cell S50) và đưa lên kính hiển vi quan sát và phân tích theo
phương pháp tần số xuất hiện và phương pháp khối lượng (Pillary, 1952).
Phương pháp xác định hình thái cấu tạo ống tiêu hoá Các mẫu cá bống

trứng và
xác định
và chiều
xác định

1 tháng/lần. Các chỉ tiêu phân tích gồm:
(i) Giai đoạn thành thục sinh dục: dựa theo 6 bậc thang thành thục sinh dục
của Nikolsky (1963), kết hợp với phương pháp mô học của Drury &
Wallington (1980) và Kiernan (1990).
(ii) Tỉ lệ cá đực-cái: Quan sát đặc điểm hình thái kết hợp quan sát tuyến sinh
dục của cá để xác định giới tính.
(iii) Hệ số thành thục sinh dục (Gonadosomatic Index-GSI): xác định cho
từng tháng, GSI (%)=(GW/BW)*100 (GW: khối lượng tuyến sinh dục
cá; BW: khối lượng toàn thân cá).
(iv) Hệ số tích luỹ năng lượng (Hepatosomatic Index-HSI): cũng được xác
định cho từng tháng. HSI (%)=(LW/(BW)*100 (LW: khối lượng gan cá;
BW: khối lượng toàn thân cá).
(v) Tương quan chiều dài-khối lượng, hệ số điều kiện (CF): Xác định
phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá dựa theo
Huxley (1924): W=a*Lb (W: khối lượng toàn than cá; L: chiều dài than
cá; a và b: hệ số). Hệ số điều kiện (CF) được xác định: CF=W/L b (W:
khối lượng toàn thân cá qua các tháng; L: chiều dài thân trung bình của
cá theo tháng; b: hệ số được xác định dựa vào phương trình W=a*Lb).


(vi) Mùa vụ sinh sản: được xác định dựa vào kết quả xác định các giaiđoạn
thành thục sinh dục, hệ số thành thục sinh dục (GSI), hệ số tích lũy năng
lượng (HSI) và hệ số điều kiện (CF) của cá.
(vii)
Sức sinh sản: xác định dựa vào khối lượng buồng trứng, số
lượng 1 mẫu trứng đại diện và được lấy tại 3 vị trí (phần đầu, phần giữa
và phần cuối buồng trứng). Sức sinh sản tuyệt đối xác định: PF=(n*G)/g
(G: khối lượng buồng trứng (g); g: khối lượng thân cá (g); n: số lượng
mẫu trứng đại diện (trứng)). Sức sinh sản tương đối xác định:
RF=PF/BW (PF: sức sinh sản tuyệt đối; BW: khối lượng cơ thể)

Hình 4.1: Biến động pH, nhiệt độ và độ mặn của nước tại ba khu vực khảo sát

4.1.2

Tốc độ dòng chảy và độ sâu của thuỷ vực


Tốc độ dòng chảy có sự biến động lớn (0,1-1,3 km/giờ), các vị trí có tốc độdòng
chảy thấp tập trung ở giữa nguồn và cuối nguồn (0,1 km/giờ), cao nhất ở đầu
nguồn (1,3 km/giờ) (Hình 4.2).
Độ sâu thuỷ vực tại ba khu vực có biến động nhiều (4,3-14,4 m), trong đó các vị
trí khảo sát ở giữa nguồn có độ sâu cao nhất (8,7±2,7 m), thấp nhất ở thượng
nguồn (6,8±3,0 m) (Hình 4.2). Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv. (2002), phân bố
của sinh vật đáy phụ thuộc vào độ sâu của thủy vực, theo chiều thẳng đứng thủy
vực nước tĩnh ở vùng ven bờ có nền đáy mềm bùn cát, nhóm thân mềm và tôm
SB Mùa mưa

Đầu nguồn

Giữa nguồn

Mùa khô

Khu vực khảo sát

Cuối nguồn

Khu vực khảo sát

cua phát triển nhiều hơn so với vùng đáy sâu.

Sỉ
I
M
1
i 1 __li_ i sỉ
iỉlu ^ $« Si
ầ ỉ i SGiữa nguồn
Đầu nguồn
Cuối nguồn
Ü thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát theo mùa
Hình 4.4: Số lượng các loài
Mật độ thực vật phù du đầu nguồn và cuối nguồn cao hơn giữa nguồn
Tên ngành

Tên ngành

(Bảng 4.1). Đầu nguồn tảo khuê có mật độ cao nhất mùa khô (28.545±20.190 cá
thể/Lít), thấp nhất là tảo mắt (1.646±720 cá thể/Lít), giữa nguồn tảo lục cao nhất
(5.333±3.479 cá thể/Lít), thấp nhất là tảo mắt (1.633±809 cá thể/Lít), ở cuối
nguồn tảo khuê cao nhất (25.759±28.583 cá thể/Lít), thấp nhất là vi khuẩn lam
(86±33 cá thể/Lít). Qua đó cho thấy ngành tảo khuê chiếm ưu thế nhất so với các
ngành còn lại, mật độ xuất hiện cao nhất ở đầu nguồn và cuối nguồn, thấp nhất ở
Khu vực
Đầu
nguồn
Giữa
nguồn
Cuối
nguồn


2.730±3.030
86±33

Chlorophy
ta
4.471±2.2
60
7.026±9.6
85
5.333±3.4
79
5.324±3.4
520
0

giữa nguồn.

Bảng 4.1: Mật độ trung bình thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát trên tuyến Sông Hậu
Đơn vị tính: cá thể/Lít

4.1.3.2 Động vật phù du (Zooplankton) : cơ cấu giống loài động vật phù du xuất
hiện ở ba khu vực cũng khác nhau, trong đó Protozoa xuất hiện nhiều nhất với
51,4%, Rotifera chiếm 25,2%, Copepoda chiếm 18,9% và Cladocera chiếm 3,6%,
Veliger (ấu trùng lớp hai mảnh vỏ) xuất hiện rất ít (0,9%) ở đầu nguồn và giữa
nguồn (Hình 4.5). Kết
quả này tương tự với
Khác (0,9%)
Dương Trí Dũng và
Nguyễn Hoàng Oanh
(2011), thành phần động

(3,6%)

Copepoda
(18,9%)


25

Ể ầk iầ ,
Rotifera Cladocera Ccpepoda Ảu trùng

4.6:

Số

Đầu nguồn

lượng các

H

J,

sể dĩ

ỂÉ 11
....
Protozoa Rotifera Cladoceia Copepoda Ấu trùng

Hình

Mùa vụ
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa
Mùa khô
Mùa mưa

Protozoa
1.334±1.218
696±630
493±237
956±656
13.935±14.391
35.408±38.256

Rotifera
1.111±868
2.822±2.437
492±240
2.185±1.022
2.796±1.881
7.058±6204

Cladocera
3.259±3.532
3.793±3.760
1.137±376
637±342
178±308

U n
iUÌOÉss



"1 "I TĨ
II li ¡¡I:

18I8

Tên ngành

MHBS* ♦*S\ **VS

'Mùa mưa Mùa khô

il

Tên ngành

Đầu nguồn

14,
1 11 iĩi
Tên ngành

Giữa nguồn
Cuối nguồn
Hình 4.8: Số lượng các loài động vật đáy ở ba khu vực khảo sát theo mùa


Mùa mưa
82±57
23±4
7±1
11±10
16±20
8±5
Mùa khô
16±11
18±14
28±17
55±41
15±15
9±9
Giữa
nguồn
Mùa mưa
38±4
55±3
24±6
58±17
50±39
1±1
Mùa khô
0
30±22
12±15
60±85
8±6
0

t

Tên khoa học
Eleotris melanosoma Bleeker, 1853
Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)
Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
Butis butis (Hamilton, 1822)
Butis humeralis (Valenciennes, 1837)

Tên địa
phương
Cá bống trứng
Cá bống dừa
Cá bống
tượng

bống trân
Cá bống trân

Đầ
u
nguồn
++
+
+

Giữ
a
ngu
++

Theo Trịnh Liệt (2010), cá bống trứng và bống dừa con thường xuất hiện nhiều
vào đầu mùa mưa từ tháng 5-6, điều này phù hợp với nhận định của ngư dân khai
thác trong vùng.


'
1

1
I
I

20
16
18
14

Mùa mưa Mùa khô

12
10
8
6
4
2
0

Eleotrís
melanosoma


■ Mùa mưa K Mùa khô

300 250 200

• 300

150 100 50 0

■ Mùa mưa Mùa khô

250 200

250

= 150

200 ;

100 50

150

0



100 50

À


mảnh, xếp thưa và xếp thành hàng trên cung mang hướng vào xoang miệng hầu
và đây là nhóm cá ăn động vật (Nguyễn Bạch Loan, 2003). Thực quản nối tiếp
sau xoang miệng hầu và có dạng ống to, ngắn, vách khá dày, có thể co dãn do
mặt trong có nhiều nếp gấp. Dạ dày nằm tiếp sau thực quản có nhiệm vụ chứa
và lên men tiêu hóa thức ăn, có dạng túi ngắn vách dày, có nhiều nếp gấp có
khả năng giản nở, chúng thường có mối quan hệ với thức ăn và kích thước con
mồi. Ruột là phần cuối của ống tiêu hóa có nhiệm vụ tiết ra men tiêu hóa thức
ăn và tiếp nhận các men do các tuyến khác chuyển đến, đồng thời hấp thụ vật
chất dinh dưỡng đưa vào máu, ruột cá bống trứng có dạng gấp khúc và ngắn,
cho thấy cá ăn thiên về động vật. Ngoài ra, độ rộng miệng của cá bống trứng ở
ba nhóm kích cỡ có sự khác biệt nhau (Bảng 4.5), điều này cho thấy cá bống
trứng có sự chọn lựa kích cỡ thức ăn theo quá trình phát triển . Bảng 4.5: Độ rộng
miệng của cá bống trứng ở ba nhóm kích cỡ khác nhau_________________________________________
Nhóm kích cỡ cá

Chiều dài tổng (Lt, cm)

Độ rộng miệng (cm)

Cỡ mẫu

a

64

1

2,5-5,0

0,202±0,097

Chỉ tiêu
Lt=2,5-5,0
Lt=5,1-7,0
Lt

4,57±0,52

6,00±0,51

Lt=7,1-9,0
67,62±0,48

Li
3,10±0,62
4,29±0,60
5,39±0,58
Li/Lt (RLG)
0,439±0,171
0,614±0,134
0,666±0,137
Lt: chiều dài toàn thân trung bình của cá (cm); Li: chiều dài trung bình của ruột cá (cm)

Cá bống dừa có

miệng rộng, cận trên,
15

rạch miệng hướng xuống, xoang



từ 4-12 cm và chỉ số được xác định là nhỏ hơn 1, ở nhóm cá nhỏ nhất RLG là
0,63±0,12, trong khi ở nhóm cá lớn nhất là 0,74±0,15 (Bảng 4.8).
4

5___________________________________________________________________________________________________________________________________________

B
ảng 4.8: Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống dừa ở 3 nhóm kích cỡ___________________________________
6
Chiều dài toàn thân (Lt, cm)
7
Chỉ tiêu- - -----------------------------------------------------------4—--—14— --— -------- -----------------------------8_________________________________________________
______________________Lt=4,0-6,5___________Lt=6,6-9,0
_______________________________Lt=9,1-12,5
9
Lt
5,85±0,58
8,04±0,75
9,95±0,64
10
Li
3,65±0,67
5,24±1,05
7,29±1,40
11
Li/Lt (RLG)
0,63±0,12
0,65±0,11
0,74±0,15
12

(47,7%), kế đó là giáp xác (37,5%), cá con
(14,1%) và thức ăn khác (0,7%) (Hình 4.12). Theo
Watts (2004), thức ăn ưa thích của cá bống là cá

2
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status