Luận văn thạc sĩ đa thức nguyên và định lý cơ bản của đại số - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ LIÊN

TỒ CHỨC TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT THOẠT KỲ
THỦY
CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

Ngưòi hướng dẫn khoa học:
TS. PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI - 2015


Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS. Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này.

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luận vãn học
và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Khóa luận được viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu, người viết đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhất
định, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các
bạn để khóa luận hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Liên

3.1.5. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trần thuật là một phương diện cơ bản của phương thức tự sự, gắn liền với
toàn bộ quá trình tổ chức nghệ thuật của tác phẩm. Trần thuật liên quan tới
mọi cấp độ trong tác phẩm, chi phối mạnh mẽ đến mạch vận động của tác
phẩm, cùng bố cục kết cấu, cho ta nhìn thấy diễn biến cốt truyện, tâm lý,
hành động nhân vật, giọng điệu trần thuật, điểm nhìn trần thuật nhất định
trong tác phẩm... Tìm hiểu một tác phẩm từ góc độ trần thuật là một biện
pháp tối ưu để khám phá hình thức tổ chức sinh động và phức tạp của nó
để từ đó tiếp cận phong cách nghệ thuật của nhà văn.
1.2. Nằm trong dòng chảy đổi mới văn học từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt
Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, minh chứng cho sức sống
mãnh liệt của thể loại. Người cầm bút phải đối diện với những yêu cầu bức
thiết của thời đại - “thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp): “Mỗi nhà
tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng.
Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây
dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong
của chúng” (Aỉain Robbe Grillet). Cũng từ đây, tiểu thuyết đã trở thành
nhân vật quan trọng bậc nhất trên sân khấu văn học Việt Nam hiện đại.
3.1.6. Từ sau năm 1986, tiểu thuyết Việt Nam đã dung nạp vào bản thân nó
những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái huyền
bí siêu nhiên với đời thường; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời sống;
những kiểu cấu trúc mới: mảnh vỡ tự sự, liên văn bản, gián cách, không gian, thời
gian huyền ảo,... Các yếu tố này đã được các nhà tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp
nhận và sáng tạo, góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng một diện mạo mới cho nền
văn học nước nhà.
3.1.7. Cũng như các cây bút văn xuôi khác trên văn đàn đương đại Việt Nam
như: Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Dương Thu Hương, Nguyễn Việt Hà, Bảo Ninh,...

4

phần tạo nên vị trí và những đánh giá cao của giới nghiên cứu, của bạn đọc dành cho

5


Nguyễn Bình Phương. Đây là một tiểu thuyết có dung lượng ngắn nhưng đằng sau số
lượng câu chữ không nhiều ấy chất chứa bao bí ẩn, huyễn hoặc, thậm chí khó hiểu đối
với bạn đọc. Nhà phê bình Thụy Khuê trong bài viết: “Thoạt kỳ thủy trong vùng đất
3.1.10. Cậm Cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương” đã nhận xét: “Thoạt kỳ thủy là
một cuốn tiểu thuyết khác thường, khó đọc, bởi lối hành vãn và cẩu trúc truyện rất lạ,
một thứ “thoạt kỳ thủy” trong vãn chương mang dấu ẩn sáng tạo”. Quả vậy, trong
tiểu thuyết này, Nguyễn Bình Phương đã thể hiện tài năng của một nét bút đầy biến
hóa, đào sâu vào miền vô thức của con người bằng một nghệ thuật trần thuật linh hoạt
và sáng tạo.
1.4. Khẳng định vai trò quan trọng của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết,
tác giả khóa luận sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề này qua việc lựa chọn đề tài:
“Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình
Phương”. Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận muốn cập nhât thông tin
trong nhà trường ĐHSP về một hiện tượng văn xuôi đang được đông đảo
bạn đọc quan tâm và qua đó góp phần khắc phục một phần sự chia cắt giữa
văn học nhà trường với đời sống văn học đương đại phức tạp luôn đặt ra
nhiều thách thức mới cho người nghiên cứu. Đồng thời, thực hiện đề tài
này cũng là dịp để người viết học tập, rèn luyện, trau dồi kĩ năng nghiên
cứu cả về thao tác lẫn thư duy trong phân tích tác phẩm văn học, từ đó, góp
phần phục vụ đắc lực cho công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu văn
học sau này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1.11. Nguyễn Bình Phương xuất hiện trên văn đàn với tư cách không chỉ là
một nhà thơ, mà ông còn là một nhà văn tài năng ở các thể loại như: truyện ngắn, tản
văn,... và đặc biệt đáng chú ý ở lĩnh vực tiểu thuyết. Chính ở địa hạt tiểu thuyết mà tên

giả

Trương

Thị

Ngọc

Hân

được

đăng

tải

trên

webside

. Bài viết đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất trong sáng
tác của Nguyễn Bình Phương: cách lựa chọn hiện thực là những mảng tự sự phân
mảnh, sử dụng kết cấu xoắn ghép nhiều mạch truyện song song, sử dụng đan cài các
yếu tố kỳ ảo... Đánh giá của tác giả bài viết sẽ là những gợi ý quan trọng cho người
nghiên cứu sau này. Hay có thể kể đến bài báo của tác giả Phạm Xuân Thạch đăng
trên báo Vãn nghệ số ra ngày 25/11/2006 cho rằng Ngồi “là một tiểu thuyết bắt người
ta suy nghĩ và làm điều ấy, nó xứng đáng là một tiểu thuyết và là một tiểu thuyết xuất
sắc”.
3.1.15. Đoàn Minh Tâm trên báo Vãn nghệ trẻ số ra ngày 14/1/2007 với bài:
“Những đặc trưng của bút pháp huyền ảo trong tiểu thuyết Ngồi ” đã khái quát bút

tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”. Ngoài ra có thể kể đến tác giả Hoàng Nguyên Vũ
với bài: “Một lối đi riêng của Nguyễn Bình PhươngĐoàn cầm Thi với “Người đàn bà
nằm: từ “Thiếu nữ ngủ ngày ”, đọc “Người đi vẳng” của Nguyễn Bình Phương“',
“Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương” của Hoàng Thùy Linh;
“Tiểu thuyết hiện đại - Sự hội ngộ các tư duy tiểu thuyết hiện đại trong tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương” của Nguyễn Phước Bảo Nhân;...
3.1.19. Là một cây bút trẻ trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại nhưng
Nguyễn Bình Phương đã sớm tạo ra một sức hút đối với các sinh viên chuyên ngành,
những bạn đọc chuyên nghiệp, những nhà nghiên cứu,... Có thể kể đến luận văn thạc
sĩ của Hồ Thị Bích Ngọc với đề tài “Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm
năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết”, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm
2008. Hay các luận văn như: “Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết
Nguyên Bình Phương” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền khoa Văn học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn; “Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của

8


Nguyễn Bình Phương” của Vũ Thị Phương; Nguyễn Thị Phương Diệp với khóa luận
tốt nghiệp “Yeu tổ kì ảo trong tiểu thuyết Nguyên Bình Phương” và luận văn thạc sĩ
“Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”... tất cả đều đi sâu khai thác những đổi
mới, cách tân sáng tạo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
3.1.20. Ngoài ra, có rất nhiều công trình khoa học không lấy tiểu thuyết của
Nguyễn Bình Phương làm đối tượng nghiên cứu duy nhất nhưng nhìn chung, đa số các
công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn từ cuối những năm 90 của
thế kỉ truớc đến những năm đầu thế kỉ XXI đều ít nhiều khảo sát các tiểu thuyết của
nhà văn này. Chẳng hạn, Hoàng cẩm Giang trong luận văn thạc sĩ (Đại học Quốc gia
Hà Nội): ‘‘Cẩu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI” đã phát hiện ra kiểu
nhân vật ký hiệu - biểu tuợng, nhân vật biến mất trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phuơng; Phùng Phuơng Nga với ‘‘Nhận diện thỉ pháp thể loại tiếu thuyết mới ở Việt

truyền thong vì vậy cần cách đọc không truyền thong. Những yếu to vừa kịch, vừa phi
kịch, vừa thơ, vừa phi thơ là những mẩu chốt cẩu trúc tiểu thuyết”. Với Thoạt kỳ thủy,
Thụy Khuê cho rằng cần tập trung khám phá sự giao thoa của các thể loại kịch, thơ,
tiểu thuyết trong tác phẩm này.
3.1.23. Đoàn Cầm Thi trong bài “Sáng tạo vãn học: giữa mơ và điên (Đọc
Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương) ” đã đua ra những bình luận sâu sắc về đời
sống bản năng vô thức trong tiểu thuyết của nhà văn. Bà cho rằng: "Vô thức chiếm vị
trí trọng tâm trong Thoạt kỳ thủy, được diễn tả trong một vãn phong chậm, ngẳn,
chính xác, phản ánh một tư duy đang khảo sát, chiêm nghiệm. Đặc biệt, nó được xem
xét trong moi quan hệ với điên và mộng, là hai trạng thái trong đó vô thức hoạt động
tích cực nhất, và lại khá gần nhau".
3.1.24. Nguyễn Chí Hoan trong bài viết "Cấp độ hiện thực và sự hão huyền
của ý thức trong Thoạt kỳ thủy’’ đã khẳng định "Nguyễn Bình Phương là nhà vãn Việt
Nam đã đẩy cuộc thăm dò vô thức đi xa nhất’’. Trên tạp chí Nghiên cứu vãn học, tác
giả Đoàn Ánh Dương có bài: "Nguyễn Bình Phương - Lục đầu giang tiểu thuyết’’, tác
giả đã đánh giá cao Thoạt kỳ thủy và xem tác phẩm "xứng đáng được coi là đỉnh cao
nhất, sự hội tụ trọn vẹn và sung mãn của bút lực tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương’’.
Bài viết có khen có chê và có những đánh giá khá khách quan về tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương. Tác giả Hoàng Đăng Khoa có bài "Cõi nhân sinh nhàu nát trong Thoạt
kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương’’ đã nhận định: “Thoạt kỳ thủy là thể giới của
những con người vô trách nhiệm, u toi bản năng với những dục vọng không được
kiềm chế, bung phát thành những hành động phỉ lí trí, phỉ nhăn tính... ’’. Hay trong
bài tiểu luận "Thử khai mở kiến trúc hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của
Nguyễn Bình Phương’’, Hoàng Đăng Khoa cũng đã đưa ra phát hiện: "Với Thoạt kì
thủy, bằng lối viết "đa thanh’’, Nguyễn Bình Phương còn để cho nhân vật của mình
hồn nhiên giải thiêng, hạ bệ những gì mà nhiều người nhầm tưởng là thiêng liêng, cao
quỷ’’. Tạp chí Sông Hương - số 307 (T.09-14) cũng đăng tải bài viết của Phạm Tấn

1
0

thuật kể chuyện của tác phẩm. Đồng thời thấy được những tìm tòi, cách tân sáng tạo
trong lối viết của Nguyễn Bình Phương và khẳng định những đóng góp quan trọng của
nhà văn trên con đường cách tân tiểu thuyết Việt Nam.

1
1


3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1.

Tìm hiểu những lí luận cơ bản về tổ chức trần thuật trong tác

phẩm tự sự nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng.
3.2.2.

Chỉ ra những nét độc đáo trong nghệ thuật trần thuật và hiệu

quả nghệ thuật của những sáng tạo đó đối với việc biểu đạt nội dung
của tác phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cửu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

3.1.28. Tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình
Phương.
4.2.

kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương.
3.1.36. NỘI DUNG
3.1.37. Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẦN THUẬT HỌC
1.1.

Khái niệm trần thuật
3.1.38. Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của loại tác phẩm

tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết. Trần thuật là một trong những yếu tố đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn, tạo ra cái “ma lực” của tác phẩm ngôn từ vừa ở
chiều sâu, vừa ở mặt cụ thể cảm tính. Xét về mặt thuật ngữ, trần thuật là yếu tố được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra những cách hiểu khác nhau. Có thể kể đến
một số ý kiến tiêu biểu:
3.1.39. Theo Từ điển thuật ngữ vãn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên): Trần thuật là “Phương diện cơ bản của phương
thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đổi với nhân vật, sự kiện,
hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định. Vai trò của trần
thuật rất lớn’’ [7, tr. 364].
3.1.40. GS. Trần Đình Sử trong cuốn giáo trình Lí uận vãn học, tập 2 cũng đưa
ra khái niệm trần thuật: “Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện,
nhân vật theo một thứ tự nhất định’’ [19, tr. 59].
3.1.41. Lại Nguyên Ân trong bài “về việc mở ra môn trần thuật học trong
ngành nghiên cứu vãn học ở Việt Nam’’ cho rằng: “Trần thuật (narration) chi
phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm thuộc loại vãn học tự sự (tương
tự trầm tư/ méditation/ đặc trưng cho vãn học trữ tình, đoi thoại đặc trưng cho vãn
học kịch) (...) Thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật, là cái được kể, được
thuật, trong tác phẩm vãn học là chuyện” [2, tr. 146 - 147],

1
3



1
4


3.1.49. Bên cạnh đó, thực tiễn văn học cũng cho thấy, nghệ thuật trần thuật là
một trong những yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Đối với người
nghệ sĩ tài năng, nghệ thuật trần thuật ở mỗi tác phẩm luôn có sự tìm tòi và biến hóa
linh hoạt. Sáng tạo văn học luôn đồng hành với sự sáng tạo “khơi những nguồn chưa
ai khơi và sáng tạo những gì chưa có’’ (Nam Cao). Sự thành công về phương diện
trần thuật là yếu tố kết đọng tài nghệ của mỗi người cầm bút. Bởi vậy, tìm hiểu các
phương diện trần thuật sẽ giúp người đọc tiếp cận được với những giá trị văn chương
đích thực cũng như khẳng định được tài năng và những đóng góp của nhà văn vào tiến
trình văn chương.
1.2.

Các yếu tố cơ bản của trần thuật

3.1.50. Bàn về các yếu tố cơ bản của tổ chức trần thuật, GS. Trần Đình Sử cho
rằng trần thuật gồm sáu yếu tố cơ bản: người kể chuyện, ngôi trần thuật và vai trần
thuật; điểm nhìn trần thuật; lược thuật; miêu tả chân dung và dựng cảnh; phân tích;
bình luận; giọng điệu.
3.1.51. Theo chúng tôi, trần thuật, trước hết đòi hỏi phải có người kể. Chủ thể
của hoạt động kể phải xử lí tốt mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi các sự kiện và
nhân vật. Như vậy, có hai nhân tố quy định tới trần thuật là: người kể chuyện và chuỗi
ngôn từ.Từ người kể chuyện ta có ngôi trần thuật; điểm nhìn trần thuật. Từ chuỗi ngôn
từ ta có ngôn ngữ trần thuật; giọng điệu trần thuật; không gian, thời gian trần thuật...
Sau đây, khóa luận sẽ đi tìm hiểu một số yếu tố tiêu biểu thuộc nghệ thuật trần thuật
trong tác phẩm của Nguyễ Bình Phương.
1.2.1.

chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của
chính tác giả (ví dụ: “tôi’’ trong Đôi mắt), dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn
với tác giả ngoài đời; có thể là một nhăn vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (ví dụ:
người điên trong Nhật kỉ người điên của Lỗ Tẩn); có thể là một người biết một câu
chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện... [7, tr. 221].
3.1.58. Qua một số ý kiến bàn về người kể chuyện ở trên, chúng tôi nhận thấy,
người kể chuyện, hiểu một cách đơn giản, là một người được nhà văn sáng tạo ra để
thực hiện hành vi trần thuật. Khi sáng tạo, nhà văn giống như người chép hộ lời lẽ của
người trần thuật do mình tạo ra và “Người đó chẳng bao giờ hoàn toàn là chính bản
thăn tác giả’’ (M. Buy-tô).
3.1.59. Trong tác phẩm tự sự, nhà văn trình bày, tái hiện một cách sáng tạo thế
giới hiện thực thông qua lời kể, lời miêu tả,... của một người trần thuật nào đó.

về

mặt bản chất, người kể chuyện chính là hình tượng do nhà văn sáng tạo nên, mang
nhiệm vụ trần thuật và chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng. Người kể chuyện có thể

1
6


mang tư tưởng của nhà văn, thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá của người nghệ sĩ về
thế giới khách quan nhưng tuyệt đối không bao giờ được đồng nhất hai khái niệm này.
3.1.60. Người kể chuyện trong tác phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó
không chỉ môi giới, dẫn dắt bạn đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật mà còn có chức năng
tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Bởi vậy, người kể chuyện là sản phẩm
của quá trình hư cấu của nhà văn, nó khác hoàn toàn với người kể chuyện thực tế
trong đời sống. Khi nhà văn lựa chọn dạng thức xuất hiện của người kể chuyện trong
tác phẩm tự sự cũng là cách để nhà văn thể hiện ý đồ sáng tác. Có khá nhiều nhà lí



của trần thuật. Điểm nhìn được hiểu là vị trí, chỗ đứng của người kể chuyện để xem
xét, bình luận, miêu tả các sự việc, hiện tượng trong tác phẩm. Có nhiều người đề xuất
cách gọi điểm nhìn là nhãn quan (vision), điểm quan sát (post of observation), tiêu cự
trần thuật (focus of narrative),... nhưng theo chúng tôi, dùng khái niệm điểm nhìn là là
phù hợp hơn cả vì điểm nhìn còn thể hiện lập trường tư tưởng của nhà văn. Điểm nhìn
nghệ thuật được xem như một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung của văn bản
ngôn từ. Truyện bao giờ cũng được kể từ một điểm nhìn nhất định và bởi một người
kể chuyện nào đó.
3.1.63. Điểm nhìn có mối quan hệ chặt chẽ với người kể chuyện, vì vậy nó
cũng thể hiện thái độ, cách đánh giá cũng như phong cách, cá tính sáng tạo của nhà
văn. Theo Iu. Lotman ‘‘hiếm có yếu tổ nào lại liên quan trực tiếp đến việc xây dựng
bức tranh thể giới như ‘‘điểm nhìn nghệ thuật””. Manfred Jahn khẳng định: “về mặt
chức năng, điểm nhìn mang ỷ nghĩa của sự lựa chọn và giới hạn thông tin trần thuật,
của việc nhìn các sự kiện và cẩu trúc của các sự kiện từ điểm nhìn của một người nào
đó và của việc tạo ra cái nhìn đồng cảm hoặc mỉa mai ở người quan sát” [9, tr. 41].
Các tác giả của công trình Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên
cứu vãn học ở Tây Ầu và Hoa Kì thế kỉ XX thì cho rằng: điểm nhìn là một khái niệm
để ‘‘mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vỉ mang tính bản thể hoặc
một cấu trúc hoàn chinh tự trị đoi với thực tại và đoi với cá nhân nhà vãn”. Còn
Henry James trong Nghệ thuật vãn xuôi (1884) lại cho rằng: ‘‘Điểm nhìn trần thuật là
sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự
kiện được miêu tả và cho phép vãn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sổng
hơn” [12, tr. 14].
3.1.64. Như vậy, theo quan điểm của các học giả nước ngoài thì điểm nhìn
được hiểu như một phạm trù hình thức độc lập, không phụ thuộc vào thực tại lịch sử
cũng như chủ thể sáng tạo văn bản.
3.1.65. Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra những cách hiểu về điểm
nhìn nghệ thuật. Theo Nguyễn Thái Hòa thì: “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất phát

Nguời kể chuyện mang sức mạnh toàn năng, thông suốt, tuờng tận hết mọi chuyện
không chỉ ở hiện tại mà còn có khả năng tái hiện lại quá khứ và dự báo truớc tuơng
lai. Độ bao quát hiện thực của nguời kể chuyện bao giờ cũng lớn hơn hết thảy mọi
nhân vật. Con mắt của nguời trần thuật có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, xoáy sâu vào từng
chi tiết nhỏ của đời sống để kể lại cho độc giả. Nhờ vậy mà mọi hiện thực đều đuợc

1
9


phơi bày một cách rõ nét. Điều này duờng nhu đang trở thành một hạn chế lớn của
kiểu nguời kể chuyện toàn tri và điểm nhìn zero. Ngày nay, dạng nguời kể chuyện này
không đuợc nhiều nhà văn sử dụng vì nó tạo ra tâm lí nhàm chán cho độc giả. Con
nguời hiện đại luôn đuợc xem là một thực thể phức tạp và khó hiểu. Bởi vậy, mọi câu
chuyện đuợc viết ra đều phải tạo cho nguời đọc hứng thú khám phá, một thái độ biết
hoài nghi, phủ nhận. Nhưng kiểu người kể chuyện toàn tri với điểm nhìn zero lại
không thể thực hiện được điều đó khi mọi khoảng trống đều được lấp đầy, mọi hiện
thực đều được phơi bày khiến độc giả rơi vào cảm giác tẻ nhạt, thiếu hứng thú, nó tạo
ra lớp độc giả lười biếng.
3.1.69. Người kể chuyện bên trong gắn với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn của
nhân vật. ở đây nhà văn thôi không nói nữa mà xây dựng lên kiểu nhân vật tự nhìn,
nhân vật tự nói và tự chiêm nghiệm, tự đánh giá. Bởi vậy nó mang tính chân thực và
gần gũi hơn. Tầm bao quát hiện thực, sự hiểu biết của người kể chuyện tương ứng với
nhân vật trong truyện, ở kiểu người kể chuyện bên trong này có thể chia là ba dạng
nhỏ hơn, ứng với ba điểm nhìn bên trong của nhân vật.
3.1.70. Điểm nhìn bên trong cố định là một nhân vật cảm nhận, đánh giá và kể
lại các sự việc từ đầu đến cuối. Thông thường, ở dạng này, người kể chuyện thường
xưng hô theo ngôi thứ nhất để kể lại sự việc. Độc giả qua đó cũng chỉ biết sự việc qua
cái nhìn của một nhân vật - những sự việc mà nhân vật tham gia hoặc được chứng
kiến. Tuy nhiên, hạn chế của điểm nhìn bên trong cố định này là lượng sự việc được

sự việc bằng nhiều điểm nhìn khác nhau. Có thể mở đầu, người kể chuyện giấu mình
để kể, sau đó, chức năng trần thuật có thể được chuyển cho một hay nhiều nhân vật
trong truyện, từ điểm nhìn bên ngoài chuyển tiếp sang điểm nhìn bên trong,... Với lối
viết phân mảnh như vậy sẽ tạo lên cái nhìn đa diện, đa chiều cho tác phẩm, và đặc biệt
là nó không gây cảm giác nhàm chán cho độc giả mà luôn luôn là sự hào hứng muốn
khám phá tiếp câu chuyện.
1.2.3.

Ngôn ngữ trần thuật

3.1.75. Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Nhà văn sử dụng ngôn ngữ làm phương
tiện, chất liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật, thể hiện ý đồ tư tưởng của mình.
Những tư tưởng, tình cảm, ý đồ nghệ thuật của nhà văn chỉ có thể được vật chất hóa
thông qua ngôn ngữ. Nó là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng
tạo, phong cách, tài năng của nhà văn. Bởi thế, ngôn ngữ được coi “là câng cụ, là
chất liệu cơ bản của văn học”, nó được xem là “yếu tố thứ nhất của vãn học” (M.

2
1


Gorki).
3.1.76. Trong trần thuật, ngôn ngữ bao giờ cũng là sự song hành giữa ngôn
ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện (người trần thuật). Trong đó ngôn ngữ
nhân vật được hiếu là “lời nói của các nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tự sự
và kịch” [7, tr. 214], Đây là một trong những công cụ hiệu quả được nhà văn sử dụng
để cá tính hóa, đặc trưng hóa tính cách của nhân vật. Bao giờ nó cũng phải đảm bảo sự
kết hợp sinh động giữa tính cá thể và tính khái quát. Một mặt, mỗi nhân vật có một
đặc điểm ngôn ngữ riêng được tác giả thể hiện bằng cách nhấn mạnh, cách đặt câu,
ghép từ, những lời nói đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những từ, những câu

đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của người sáng tác. Phản ánh
quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ của nhà văn, giọng điệu có vai trò quan trọng trong việc
thể hiện cá tính sáng tạo của tác giả thông qua hình tượng người kể chuyện.
3.1.82. Nói một cách khác thì giọng điệu chính là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết ra
nhà văn bởi mỗi người sáng tác đều chọn lựa cho mình một kiểu giọng điệu phù hợp
với cách nhìn nhận và đánh giá cuộc sống. Đã có rất nhiều những công trình nghiên
cứu về giọng điệu trần thuật trong văn chương.
3.1.83. Theo Từ điển thuật ngữ vãn học, giọng điệu là ‘‘thái độ, tình cảm, lập
trường tư tưởng, đạo đức của nhà vãn đổi với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong
lời vãn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa
gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,... ” [7, tr. 134].
3.1.84. Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu trần thuật có vị trí quan trọng. M. B.
Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà vãn và sự phát triển của vãn học, đã
khẳng định: ‘‘cái quan trọng trong tài năng vãn học (...) là tiếng nói của mình (...) là
cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một
người nào khác” [11, tr. 190]. Giọng điệu trần thuật góp phần tạo nên phong cách nhà
văn và có tác dụng truyền cảm cho người đọc. Nhà văn Tsêkhôp đã nhận định rằng:
“Neu tác giả nào đó không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là
nhà vãn cả ”.
3.1.85. Trong bài nghiên cứu Giọng và giọng điệu vãn xuôi hiện đại, Lê Huy
Bắc đã cho rằng: tlGiọng điệu là ăm thanh xét ở góc độ tăm lý, biểu hiện thái độ buồn,
vui, giận hờn, hờ hững,... ” để phân biệt với ‘‘giọng là âm thanh xét ở góc độ vật lý”
[3, tr. 67]. ở đây, tác giả đã phân biệt giọng điệu vốn có ở mỗi con người với giọng
điệu văn chương. Như vậy, có thể khẳng định rằng giọng điệu trong văn chương là sự
thể hiện thái độ, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ, sở trường, ngôn ngữ của tác giả, nó gắn
chặt với đối tượng giao tiếp và cách thức tổ chức lời lẽ diễn đạt.
3.1.86. Trong văn chương nói chung, giọng điệu là một yếu tố không thể thiếu

2
3

và thế giới của truyện (nhân vật, sự kiện, quan hệ,..), mối quan hệ giữa người kể -

2
4


ngôn ngữ nhân vật, mối quan hệ giữa người kể - ngôn ngữ của chính mình. Nói đến
không gian trần thuật là nói đến khoảng cách giữa người kể và không gian được chiếm
lĩnh.
3.1.90. Thời gian trần thuật là thời gian tác giả kể lại câu chuyện trong tác
phẩm của mình. Nói cách khác, thời gian trần thuật chính là thời gian của người kể,
của sự kể.
3.1.91. Theo G. Genette, thời gian trần thuật gồm bốn hình thức: tỉnh lược, lược thuật,
cảnh tượng và dừng lại.
3.1.92. Trên đây là các yếu tố cơ bản của trần thuật. Chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
cùng hỗ trợ nhau trong việc tạo ra cho người đọc một căn cứ
để qua đó người đọc hiểu về nhân vật, đề tài, chủ đề của tác
phẩm, thấy được tài nghệ của mỗi nhà văn. Dựa trên những cơ
sở lí luận đó, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể những đặc sắc
của tổ chức trần thuật trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy của
Nguyễn Bình Phương.

2
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status