Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cảnh sát phòng cháy chữa cháy ở việt nam hiện nay - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Tộc người luôn là một nội dung chính trị nhạy cảm, phức tạp liên quan đến
tất cả các quốc gia trên thế giới. Các đảng, nhà nước muốn thực hiện tốt vai trò quản
lý xã hội, thực hiện quyền lực chính trị của mình đòi hỏi phải nắm vững đặc điểm
tộc người, giải quyết tốt quan hệ tộc người phù hợp với thực tiễn đất nước.
Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động lớn. Một trong những
biến động đó là toàn cầu hóa cuốn hút tất cả các nước của khắp các châu lục. Đây là
xu thế khách quan, hợp quy luật của thời đại mà không một quốc gia nào có thể
đứng ngoài nếu không muốn bị tụt hậu. Toàn cầu hóa, một mặt, đem lại cho các
nước, nhất là những nước đang phát triển những cơ hội lớn; mặt khác, cũng đặt ra
những thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức đó là sự bùng nổ mâu
thuẫn, xung đột tộc người. Mặc dù, các quốc gia và những tổ chức xã hội dành
nhiều nỗ lực để cải thiện vấn đề tộc người, nhưng tình trạng mâu thuẫn, xung đột
này vẫn đang diễn ra gay gắt, thậm chí, phức tạp hơn bởi sự pha tạp trong đó cả
những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo,… Điển hình cho các cuộc xung
đột tộc người – sắc tộc là ở: Liên Xô cũ, Liên bang Nam Tư, Kôsôvô,… và các
cuộc đấu tranh ly khai ở Chesnhia, xứ Bas của Tây Ban Nha hay tỉnh A xê ở
Indonexia,… Các cuộc xung đột này vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của sự tan
rã của không ít các nhà nước liên bang đa tộc người.
Bùng nổ vấn đề dân tộc trong lịch sử thường kéo theo những làn sóng ý
thức tộc người, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, do sự khác nhau về lối sống,
tâm lý, tập quán, trình độ phát triển kinh tế - xã hội,… Nó đặt ra cho bất cứ một
đảng chính trị, một nhà nước nào trong quốc gia đa tộc người, nếu không xuất
phát từ tình hình, đặc điểm tộc người thì cũng không có khả năng giải quyết
được những vấn đề mới nảy sinh trong quan hệ giữa các tộc người. Do vậy,
trong một quốc gia có nhiều thành phần tộc người, đặc điểm tộc người như là
một căn cứ quan trọng để xây dựng và thực hiện những chính sách phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội,… của đất nước.

1

những nhiệm vụ đặt ra của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

2


Đó là lý do mà tác giả chọn vấn đề: “Đặc điểm các tộc người ở Việt Nam
trong công cuộc đổi mới đất nước” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích làm rõ biểu hiện và ảnh hưởng
của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước, luận
án đề xuất một số giải pháp điều tiết những ảnh hưởng đó đáp ứng yêu cầu công
cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án hướng vào giải quyết những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Phân tích các công trình nghiên cứu cơ bản liên quan đến nội dung luận
án và chỉ ra một số khái niệm như: tộc người, đặc điểm tộc người, đặc điểm các
tộc người ở Việt Nam.
- Phân tích một số yếu tố quy định sự hình thành đặc điểm các tộc người ở
Việt Nam và những vấn đề đặt ra từ sự tác động của công cuộc đổi mới đất nước.
- Phân tích biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt
Nam trong công cuộc đổi mới đất nước.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm điều tiết những ảnh hưởng của
đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu biểu hiện và ảnh hưởng của
đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đặc điểm các tộc người ở Việt
Nam trong công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay).
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

ĐẾN LUẬN ÁN VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về khái niệm tộc người và đặc điểm
tộc người
Khái niệm tộc người có từ rất sớm trong lịch sử. Ở ngôn ngữ Hy Lạp cổ
đại đã xuất hiện thuật ngữ "ethnos", bao hàm nhiều nghĩa khác nhau như "bầy",
"đám đông", "một nhóm người", "bộ lạc", "bộ lạc ngoại bang", "tộc người",...
Phân tích nghĩa gốc của từ này, người ta thấy, nó dùng để "chỉ một tổng thể
người sống giống nhau, có những đặc điểm chung giống nhau như phong tục, tập
quán, thói quen hàng ngày,..." [40, 10].
Trong thời kỳ trung cổ ở châu Âu, từ "ethnos" thường được sử dụng ở dạng số
nhiều (chủ yếu trong Kinh thánh) để chỉ người. Ngoài ra, do quá trình Latinh hóa mà
từ "ethnos" đã ra đời và được sử dụng để chỉ những người đa thần giáo.
Đến thời kỳ cận đại, từ "ethnos" được sử dụng trong nhiều ngành khoa
học cùng với sự xuất hiện các thuật ngữ khác như "ethnography" (tộc người học
miêu tả), "ethnology" (tộc người học lý luận),... Tuy nhiên, thuật ngữ “ethnos”
vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Giai đoạn này, trong hoạt động thực tiễn, các
nhà khoa học chủ yếu sử dụng các thuật ngữ "chủng tộc", "bộ lạc", "tộc người".
Nửa sau thế kỷ XIX, thuật ngữ "ethnos" vẫn được dùng theo những nghĩa khác
nhau, như để chỉ giai đoạn tiền sử trong lịch sử loài người, hoặc để gọi các vùng
văn hóa hay các yếu tố văn hóa,...
Chỉ từ những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trở đi, khái niệm
"ethnos" với ý nghĩa là "tộc người" mới dần được xác lập trong khoa học. Sau
này, trong giới nghiên cứu, thuật ngữ “ethnie” được dùng phổ biến hơn để chỉ
các tộc người. Chẳng hạn, trong công trình "Chọn lọc xã hội" (1898), học giả
Pháp Vacher de Lapouge đã đưa ra thuật ngữ "ethnie" và được A.Fouillee tiếp tục
sử dụng trong công trình "Tâm lý tộc người học Pháp" (1914). Tuy nhiên, phải

5


định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam" (1975), "Các dân

6


tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc" (1978), cũng như Bảng danh mục
54 dân tộc ở Việt Nam do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam cùng Ủy ban
Dân tộc trung ương trình lên Chính phủ và được công nhận chính thức từ cuộc
Tổng điều tra dân số 1979 đến nay - trong tất cả các công trình và tài liệu
quan trọng này, thuật ngữ "dân tộc" được sử dụng một cách chính thức để chỉ
54 tộc người ở Việt Nam.
Từ thập niên 1980 trở lại đây, nhiều công trình của các nhà nghiên cứu
như Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Bế Viết Đẳng, Lê Sĩ Giáo, Khổng
Diễn,... khái niệm "tộc người" đã được sử dụng và xác định khá rõ ràng,
thuyết phục. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu dù đã phân biệt sự khác nhau giữa
hai thuật ngữ "dân tộc" và "tộc người", nhưng trong tình huống cụ thể, vẫn sử
dụng thuật ngữ "dân tộc" để chỉ các tộc người.
Trong công trình: "Cộng đồng Quốc gia dân tộc Việt Nam" (2002), Đặng
Nghiêm Vạn đã chỉ ra thế nào là một dân tộc và thế nào là một tộc người.
Trong công trình của mình, tác giả đặt vấn đề cần nhìn nhận lại định nghĩa dân
tộc của J.V.Xtalin, đồng thời chỉ ra bốn con đường hình thành cộng đồng quốc
gia dân tộc [xem 93, 28 - 32]. Tác giả khẳng định, không thể lẫn cộng đồng tộc
người với cộng đồng dân tộc, bởi lẽ dân tộc “phải có hai yếu tố cơ bản: (1) dựa
trên một lãnh thổ, có một biên giới được xác định, (2) phải thành lập một nhà
nước được thế giới công nhận” [93, 33]. Còn tộc người, “ngược lại là một cộng
đồng mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên cùng một lãnh thổ,
có chung nhà nước, dưới sự chỉ đạo của một chính phủ với những đạo luật
chung” [93, 33]. Qua đó, tác giả đưa ra định nghĩa về dân tộc và tộc người.
Phan Hữu Dật trong cuốn "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách
liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay" (2006), cũng tương đồng với

tâm đến việc xác định các tiêu chí cấu thành đặc điểm các tộc người. Trong thập
niên này, một số công trình viết về các tộc người Việt Nam và nhận diện đặc điểm
của các tộc người như: “Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam”
của Vương Hoàng Tuyên (1963), “Các dân tộc miền Bắc Trung Bộ” của Mạc
Đường (1964), “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt
Nam” của Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968),…
Năm 1973, sau một quá trình điều tra, nghiên cứu và chuẩn bị, tại Hà Nội đã
liên tiếp diễn ra hai hội thảo khoa học (trong tháng 6 và tháng 11) về tiêu chí xác định
đặc điểm các tộc người. Hội thảo đã đạt được sự nhất trí về các vấn đề trọng yếu là:

8


- Thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong việc xác
định thành phần các tộc người (tộc người) ở Việt Nam.
- Nhất trí về ba tiêu chí để xác định một dân tộc (tộc người) là:
1. Có tiếng nói chung (ngôn ngữ)
2. Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa
3.Có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc (tộc người) [xem 40,
33 - 34].
Tuy nhiên, từ năm 1979 đến nay, cả trong nghiên cứu lý luận cũng như
trong đời sống thực tiễn của các tộc người ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi.
Trong giáo trình: “Dân tộc người đại cương” xuất bản năm 1996 của Ngô
Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp đã đưa ra bốn tiêu chí cấu thành đặc điểm chủ yếu
của tộc người là: ngôn ngữ tộc người, lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế tộc người,
sinh hoạt văn hóa tộc người và ý thức tộc người.
Còn Phan Hữu Dật (2002) tại Hội thảo “Bàn về tiêu chí xác định lại thành
phần một số dân tộc Việt Nam” cho rằng, ba tiêu chí ngôn ngữ, văn hóa và ý
thức tự giác tộc người, thể hiện trong tên tự gọi cần tiếp tục được duy trì và áp
dụng trong việc xác định thành phần tộc người ở nước ta. Tuy nhiên, theo ông:

người là:
“1. Các tên gọi chung
2. Có ngôn ngữ chung
3. Có cùng nguồn gốc lịch sử và ý thức chung về nguồn gốc
4. Có bản sắc văn hóa riêng để phân biệt với tộc người khác
5. Có sự gắn kết với một vùng đất nhất định (trong lịch sử và trong hiện
tại” [81, 87].
Phân biệt dân tộc và tộc người, chỉ ra những tiêu chí để nhận diện đặc điểm
tộc người là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến. Những công trình nêu
trên đã đưa ra những nhận định hợp lý về sự khác nhau giữa dân tộc và tộc người và
được sự ủng hộ, thống nhất của giới nghiên cứu khoa học. Bàn về tiêu chí nhận diện
đặc điểm các tộc người, đặc biệt là tiêu chí nhận diện đặc điểm các tộc người ở Việt
Nam có khá nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều
nhận định, những tiêu chí cơ bản cấu thành đặc điểm các tộc người bao gồm: ngôn
ngữ, lịch sử tộc người, cơ sở kinh tế của tộc người, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự
giác tộc người. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để, tác giả đã kế thừa và vận dụng vào
luận án của mình .

10


1.1.2. Những công trình nghiên cứu biểu hiện và ảnh hưởng của đặc
điểm các tộc người ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
Từ những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, ở Việt Nam đã thu hút nhiều nhà
khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau (tộc người học, sử học, khảo cổ học,
triết học, văn hóa học, xã hội học,…) tham gia nghiên cứu về tộc người, đặc
điểm các tộc người ở Việt Nam,…
Hàng loạt công trình đã góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành và biểu
hiện, ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam đến công cuộc đổi mới
đất nước. Nhiều học giả như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ, Lê Ngọc Thắng,

mà còn trong những năm tháng hòa bình giúp đỡ, tương trợ nhau trong việc xây
dựng cuộc sống, trong việc tiếp biến nhuần nhuyễn những yếu tố văn hóa ngoại
sinh của các nền văn minh Ấn Độ, Trung Hoa và Tây phương để tạo nên bản sắc
và bản lĩnh văn hóa của từng tộc người và của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Trên cơ sở giải thích nguồn gốc hình thành các tộc người, tác giả cho rằng,
vấn đề phải lưu ý đến những đặc điểm của từng tộc người cũng như của các tộc
người trong đại gia đình Việt Nam, từ đó đặt ra được những chính sách, chủ
trương, biện pháp thích hợp với từng vùng, từng tộc người nhằm làm cho tất cả
các tộc người được đối xử bình đẳng, được tồn tại và phát triển ngang tầm với
thế giới văn minh trên bước đường tiến lên xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tác giả khái quát những đặc
điểm cơ bản của các tộc người ở Việt Nam [xem 93, 339 - 376]. Qua đó, khẳng
định, quá trình cùng chung sống trong một đại gia đình Việt Nam, các tộc người
đã có một vận mệnh chung, hòa bình sản xuất trong những thời gian vắng bóng
quân thù, sát cánh chiến đấu trong những giây phút chống ngoại xâm, cùng cư trú
trên một vùng của Tổ quốc, sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tương trợ, giúp đỡ nhau
giữa các tộc người ba miền đất nước quyện vào nhau thành một thể thống nhất
trong sinh hoạt kinh tế - xã hội. Do đó, trong suốt quá trình lịch sử, ở Việt Nam
không có xu thế tự trị, ly khai giữa các tộc người, hình thành một ý thức tự giác về
bản thân bên cạnh ý thức tự giác về cộng đồng quốc gia – dân tộc Việt Nam, góp
phần làm cho tính cách con người, lối sống và văn hóa Việt Nam được biểu lộ
dưới hình thức muôn màu muôn vẻ, rất đa dạng và hấp dẫn. Bên cạnh đó, tình
trạng cư trú xen kẽ, các cộng đồng tộc người nhỏ bé hơn, theo tác giả, đang có tình
trạng dễ bị thu hút vào các tộc người khác do hỗn hôn, do đồng hóa văn hóa.

12


Làm rõ hơn về ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người đến các mặt của đời
sống ở Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng, bởi nhiều lý do, cư trú xen kẽ, trình độ


Về đặc điểm cư trú của các tộc người, tác giả cho rằng, sự cư trú xen kẽ có
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình liên kết tộc người. Vì chính quá trình sống xen kẽ đã
dẫn đến quá trình tiếp xúc tộc người, dẫn đến giao lưu văn hóa giữa các tộc người,
làm cho xu hướng hòa nhập, liên kết, hình thành cộng đồng quốc gia – dân tộc.
Về đặc điểm văn hóa của tộc người, theo tác giả, văn hóa các tộc người Việt
Nam thể hiện tính thống nhất trong đa dạng. Các tộc người hiện nay sinh sống trên lãnh
thổ Việt Nam có nguồn gốc khác nhau, nhưng trải qua hàng ngàn năm cùng cộng cư
cùng tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước, đó là cơ sở để các tộc người cố
kết lại tạo nên một cộng đồng dân cư thống nhất, một nền văn hóa thống nhất.
Về đặc trưng xã hội của tộc người, tác giả nhận định, đặc điểm xã hội của
các tộc người thiểu số ở nước ta phản ánh một thực tế có tính chất bao trùm cả
nước là sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người. Sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945 và đặc biệt sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta có
những chính sách đối với từng vùng, từng tộc người, nhằm thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế, xã hội của các tộc người thiểu số. Cho đến nay, ở các vùng tộc
người thiểu số, tình hình đã có nhiều thay đổi, nhưng tình trạng phát triển không
đồng đều vẫn tồn tại cần phải có sự nỗ lực toàn diện mới có thể giảm đi sự chênh
lệch và sự cách biệt trong sự phát triển của các tộc người. Do đó, sự phát triển
chênh lệch giữa các tộc người sẽ ảnh hưởng không tốt đến quan hệ bình đẳng,
đoàn kết giữa các tộc người ở nước ta hiện nay. Tác giả cho rằng, trong một
quốc gia đa tộc người, nếu không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các tộc
người có thể dẫn đến làm suy yếu tính thống nhất của một cộng đồng.
Tác giả Bùi Xuân Đính (2012) với giáo trình: “Các tộc người ở Việt
Nam”, đã đánh giá, phân tích tình hình, đặc điểm của các nhóm tộc người ở Việt
Nam, từ nguồn gốc hình thành, đặc điểm kinh tế, xã hội đến đời sống văn hóa,
phong tục, tập quán, tín ngưỡng của từng vùng tộc người [xem 22, 41 – 241].
Trong công trình, tác giả bàn đến những đặc điểm cơ bản của các tộc người ở
nước ta. Qua đó, chỉ ra sự tác động của các yếu tố dân số, cư trú, trình độ phát
triển đến đời sống các tộc người ở Việt Nam hiện nay như:

(2002): “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam”,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006): “Tập bài giảng Lý luận về dân
tộc và chính sách dân tộc”, Đậu Tuấn Nam (chủ biên) (2010): “Vấn đề dân tộc và

15


quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay”,… đã đề cập và phân tích làm rõ những
biểu hiện của đặc điểm các tộc người ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới đất nước.
Bên cạnh đó, có nhiều công trình nghiên cứu những đặc trưng về kinh tế xã hội hay văn hóa của các tộc người. Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu về đặc
điểm kinh tế - xã hội các tộc người có thể kể đến công trình của Khổng Diễn
(1995): “Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam”, của Lê Du Phong, Hoàng
Văn Hoa (1998): “Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, của Ủy ban Dân tộc và Miền núi (2001):
“55 năm công tác dân tộc và miền núi (1946 – 2001)”, của Lê Ngọc Thắng
(2005): “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam”, của Phan Xuân
Sơn, Lưu Văn Quảng (2006): “Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở
nước ta hiện nay” và một số bài viết ở các tạp chí như: Tạp chí Sinh hoạt lý luận,
số 1 – 2000, Trương Minh Dục: “Quản lý, sử dụng đất đai ở Tây Nguyên – nhìn
từ thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản, số 7 – 2002, Bùi Minh Đạo: “Nghèo đói và
giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam”,…
Các nghiên cứu này đã phân tích tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội các
tộc người ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua; đánh giá các biến đổi
về chỉ số phát triển kinh tế, đặc điểm di cư tộc người, chất lượng nguồn nhân
lực, những nghiên cứu về giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, lao động việc làm
được đặt trong mối quan hệ tương hỗ với phát triển toàn diện vùng đồng bào
các tộc người.
Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu về đặc điểm văn hóa các tộc người là các
công trình: “Văn hóa tộc người, văn hóa Việt Nam” của Hoàng Nam (1998),
“Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất

mới (1990 – 2000)” khẳng định việc nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện chính sách
tộc người phải căn cứ vào trình độ phát triển của từng tộc người, từng vùng tộc
người, căn cứ vào bản sắc văn hóa riêng của từng tộc người, như tiếng nói, chữ
viết, trang, sắc phục, tập quán, dòng họ để thực hiện công tác dân tộc ở các
ngành, các cấp có hiệu quả. Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng tức là nghiên
cứu, thấm nhuần và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nghiên cứu và nắm vững thực trạng từng
vùng tộc người, từng tộc người, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân các tộc người
để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho phù hợp với

17


trình độ và hoàn cảnh, điều kiện của mỗi tộc người và vùng tộc người; các chính
sách phải phù hợp với quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và thích hợp với phong
tục, tập quán của đồng bào, không áp đặt kinh nghiệm của vùng dân trí cao, như
thành thị, khiến cho đồng bào các tộc người khó tiếp thu, thực hiện.
Tác giả Phan Hữu Dật (2001) trong cuốn: “Mấy vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” cho rằng, giải quyết
vấn đề tộc người phải không thoát ly đặc điểm tộc người. Đây là một vấn đề có ý
nghĩa thời sự và thực tiễn cho tới hôm nay. Các triều đại phong kiến trước đây
khi giải quyết vấn đề tộc người đã căn cứ vào đặc điểm tộc người (tập quán, tâm
lý, trình độ phát triển kinh tế - xã hội,...) và đó là bài học kinh nghiệm quý giá.
Trong công trình, tác giả phân tích những đặc điểm cơ bản của các tộc người thiểu
số nước ta; đánh giá đặc trưng của một số vùng tộc người như vùng tộc người Khơ
Me, Chăm, Mông, Thái, Hoa và vùng Tây Nguyên. Qua đó, tác giả nêu một số
khuyến nghị và phương hướng phấn đấu thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [xem 24, 331 – 348].
Ngô Văn Lệ (2004) trong cuốn: “Tộc người và văn hóa tộc người”, trên
cơ sở phân tích những tiêu chí xác định tộc người, đặc điểm các tộc người ở

nay” của các tác giả Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (đồng chủ biên) (2006)
đưa ra cái nhìn hệ thống về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các
thời kỳ từ năm 1930 đến nay; có những tổng kết và phân tích sâu sắc về những
vấn đề đặt ra cho việc thực hiện chính sách dân tộc. Các tác giả cho rằng, trong
những năm đổi mới, song song với bước phát triển về kinh tế, những đổi mới về
chính trị, thì chính sách dân tộc với tư cách là một bộ phận của chính sách quốc
gia đã bộc lộ nhiều yếu kém, xơ cứng và bất cập. Chính sách đó chưa phản ánh
đầy đủ những thực tế, yêu cầu bức xúc trong quá trình chuyển đổi toàn bộ nền
tảng kinh tế - xã hội từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế
thị trường, mở rộng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền. Một số mục tiêu
như định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, bảo tồn văn hóa
tộc người, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các tộc người,… đều không thực
hiện được như kế hoạch đề ra. Từ những kiến giải về tình hình, đặc điểm các tộc
người, nhóm tác giả đã đưa ra một số quan điểm, giải pháp góp phần thực hiện
tốt chính sách dân tộc ở nước ta thời kỳ đổi mới [xem 60, 209 – 248].

19


Hoàng Chí Bảo (2009) trong công trình: “Bảo đảm bình đẳng và tăng
cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện
nay” đã chỉ ra tầm quan trọng của việc đổi mới nhận thức và tăng cường giáo
dục nhận thức về tộc người. Theo tác giả, trong khi chú trọng giáo dục ý thức
tộc người, trách nhiệm và bổn phận đối với việc giữ gìn, bảo vệ độc lập chủ
quyền quốc gia – dân tộc người và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam,
chúng ta đồng thời phải nêu cao ý thức tôn trọng những gì thuộc về ý thức, tâm
lý và văn hóa tộc người của đồng bào các tộc người thiểu số. Bởi lẽ, theo tác
giả, hình thành trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử, các tộc người không
sinh sống biệt lập mà xen kẽ nhau, cùng tham gia vào cộng đồng, hòa nhập để
phát triển nhưng vẫn bảo tồn những nét riêng, sắc thái riêng của mình từ cách

Đặc biệt, có ít công trình nghiên cứu những đặc điểm tộc người: biểu hiện và
những ảnh hưởng của nó đến công cuộc đổi mới đất nước. Đây là một nội dung
cần tập trung nghiên cứu sâu sắc hơn, phục vụ cho việc xây dựng và thực hiện
chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Sau
30 năm đổi mới, chúng ta có điều kiện nhìn lại toàn diện quá trình đổi mới. Việc
đánh giá một cách khách quan, khoa học quá trình đổi mới, rút ra những bài học
thiết thực, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ
công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng, đáp ứng nguyện vọng và sự mong đợi của nhân dân” [20, 31 – 32].
Qua nhiều năm đổi mới, Đảng ta đã đúc kết thêm kinh nghiệm và rút ra những
bài học trong giải quyết các vấn đề tộc người, miền núi và vùng tộc người, trong
đó, đặc điểm tộc người là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng chính
sách đối với tộc người hiện nay. Do đó, đòi hỏi cần có nhiều công trình nghiên
cứu xem xét, đánh giá những biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm tộc người
đến quá trình đổi mới của đất nước. Đây cũng là một mảng vấn đề chưa có nhiều
công trình nghiên cứu đồng bộ, chuyên sâu. Vì vậy, tác giả luận án với mong
muốn xây dựng một cách hệ thống quan điểm về đặc điểm các tộc người ở Việt
Nam, đặc biệt là xem xét những biểu hiện và ảnh hưởng của các đặc điểm đó
trong công cuộc đổi mới, qua đó đưa ra một số giải pháp điều tiết những ảnh
hưởng của đặc điểm các tộc người đến quá trình phát triển của đất nước. Những
công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên là căn cứ lý luận quan trọng để tác giả
triển khai luận án của mình.

21


Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án:
- Phân tích, làm rõ biểu hiện và ảnh hưởng của đặc điểm các tộc người ở
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước. Quá trình đổi mới đang đặt ra hàng
loạt vấn đề phải tập trung giải quyết, trong đó, nổi lên vấn đề mối quan hệ giữa


Tuy nhiên, việc phân biệt làm rõ sự khác nhau giữa hai thuật ngữ dân tộc
và tộc người và vẫn còn nhiều tranh cãi. Kể từ khi trên thế giới hình thành một
hình thức cộng đồng dân tộc mới: dân tộc tư bản chủ nghĩa, trong giới khoa học
và chính trị ở các quốc gia này phát sinh những cuộc tranh luận dai dẳng về hình
thức cộng đồng dân tộc kiểu mới trên. Bối cảnh đó, xuất hiện định nghĩa về dân
tộc của J.V.Xtalin. Quan niệm này đã chi phối suốt một thời gian dài trong giới
mác xit toàn thế giới: “Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập
trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt
kinh tế và về hình thành tâm lý biểu hiện trong cộng đồng về văn hoá” [100, 15].
Ở định nghĩa của mình, J.V.Xtalin cho rằng dân tộc là một phạm trù lịch
sử, là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của nhiều nhân tố, trong đó lần đầu tiên
nhân tố kinh tế được khẳng định. Ông cũng quan niệm, phải có đủ cả bốn nhân
tố (ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hóa) mới hình thành dân tộc. Tuy nhiên,
trong thực tế có những cộng đồng chưa hội tụ đủ cả bốn nhân tố hoặc một nhân
tố tạm thời bị phủ định (như lãnh thổ hoặc nền kinh tế tạm thời bị chia cắt)
nhưng cộng đồng đó vẫn được coi là dân tộc. Định nghĩa này của J.V.Xtalin chỉ
phù hợp với dân tộc – quốc gia gắn với sự hình thành của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa. Việc không thừa nhận sự tồn tại của dân tộc trước chủ nghĩa tư
bản của ông đã không phản ánh đúng đặc trưng của tiến trình phát triển các cộng
đồng người trong lịch sử.
Theo C.Mác: “Sự hình thành dân tộc gắn liền với sự ra đời của nhà nước.
Nhà nước là điều kiện tồn tại sau này của dân tộc” [43, 713]. C.Mác và
Ph.Ăngghen cho rằng, nếu như nhà nước là điều kiện tồn tại của dân tộc thì hình
thái cộng đồng người dưới chế độ chiếm hữu nô lệ là dân tộc chiếm hữu nô lệ,
dưới chế độ phong kiến là dân tộc phong kiến, trong chế độ tư bản là dân tộc tư
sản. Các ông khẳng định: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho
các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả
những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của
giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc

tộc đa số và thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, Người dùng thuật ngữ
dân tộc Việt Nam, hay nhân dân Việt Nam. Đó là dân tộc – quốc gia mà sinh thời
GS. Vương Hoàng Tuyên đã từng có bài viết gọi là “quốc tộc”” [24 ,57]. Tuy
nhiên, Người quan niệm rằng, trên đất nước Việt Nam không chỉ có một tộc
người cụ thể sinh sống, mà Việt Nam là quốc gia gồm nhiều thành phần tộc
người khác nhau. Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại

24


Plâycu, ngày 19/4/1946, Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,
Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt
Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau” [45, 217]. Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ
họp Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người khẳng định:
“Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc” [47, 587].
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, dân tộc được định nghĩa như sau:
“Dân tộc. 1. Một cộng đồng người ổn định hình thành trong quá trình lịch sử của
xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc.
2. Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân tộc. Cán bộ dân tộc. 3. Cộng
đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia gắn bó với nhau
trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam” [101, 520].
Trong công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay”, tác giả cho rằng:
“a) Dân tộc – quốc gia, quốc tộc dưới các hình thái kinh tế - xã hội khác
nhau (từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, đến tư sản và xã hội chủ nghĩa) chỉ tất cả
các dân tộc, đa số và thiểu số, nằm trong một quốc gia (đối với quốc gia đa dân
tộc) như: Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ .v.v., hoặc để chỉ dân tộc
nằm trong một quốc gia đơn nhất thành phần dân tộc, như dân tộc Triều Tiên
(Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status