Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay
là kết quả của sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nớc ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nớc hiện nay, để thực hiện đợc mục tiêu dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta cần tiếp tục vận dụng
sáng tạo học thuyết Mác - Lênin. Để vận dụng đợc học thuyết này, chúng ta cần có
hai điều kiện cơ bản. Đó là, một mặt, chúng ta nghiên cứu, phát triển lý luận Mác Lênin, mặt khác, chúng ta cần khảo sát, nắm vững điều kiện đất nớc.
Muốn nắm vững hệ thống quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta cần
tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu gốc. Một trong những tác phẩm kinh điển mà chúng ta
cần nghiên cứu là "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848). Đây là tác phẩm quan
trọng nhất đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Nội dung tác phẩm chứa đựng cả
ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Sự ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đánh dấu sự
chuyển biến về chất của phong trào công nhân: từ tự phát lên tự giác. Nội dung, tầm
vóc và ý nghĩa của tác phẩm này không chỉ có tác dụng sâu sắc đối với giai cấp công
nhân, nhân dân lao động lúc bấy giờ mà còn có ảnh hởng sâu rộng đến tất cả nhân
loại trên hành tinh của chúng ta đến tận ngày nay.
"Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" do Mác và Ăngghen soạn thảo, trình bày
nền tảng lý luận và mục đích của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một tác phẩm quan
trọng của học thuyết Mác - Lênin, có giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với các Đảng cộng
sản. Qua thử thách của thực tiễn, giá trị của Tuyên ngôn ngày càng đợc khẳng định.
V.I. Lênin ca ngợi giá trị tinh thần to lớn của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản: "Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ
vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế
giới văn minh". Với những giá trị khoa học và cách mạng bền vững của "Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản", trong thời đại ngày nay nó vẵn là nền tảng t tởng, kim
chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản, là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công
nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp,
Cũng trong năm 1998, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã phối
hợp với Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn hoàn thành cuốn sách "Sống mãi
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản". Cuốn sách này cũng tập hợp nhiều bài viết về
nội dung những t tởng trong tác phẩm Tuyên ngôn và giá trị làm nên sức sống bền
vững của nó.
2
Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tác phẩm Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản nhng cha có một công trình nào đề cập chuyên sâu về giá trị của
tác phẩm đối với công tác t tởng ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu những luận điểm về hoạt động lý luận và
hoạt động tuyên truyền, cổ động của C.Mác và Ph.Ăngghen thông qua tác Phẩm.
Qua đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm đối với công tác t tởng ở nớc ta hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời và những nội dung cơ bản của tác phẩm Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản.
- Phân tích những luận điểm về hoạt động lý luận và hoạt động tuyên truyền
cổ động của C.Mac Ph.Ăngghen đợc đề cập trong tác phẩm.
- Từ đó, rút ra gía trị của tác phẩm đói với công tác t tởng của Đảng ta hiện
nay.
5.Phơng pháp nghiên cứu
Ngời viết lấy học thuyết Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm phơng
pháp luận. Ngời viết sử dụng các phơng pháp chủ yếu nh: phơng pháp lôgíc - lịch sử,
phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp chứng minh, phơng pháp diễn dịch,
phơng pháp quy nạp.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đợc chia ra làm ba chơng:
thành phố Li - Ông (Pháp) năm 1831, cuộc nổi dậy của công nhân dệt Xi Lê - đi
(Đức) năm 1844 và phong trào hiến chơng có quy mô toàn quốc ở Anh kéo dài suốt
10 năm trời ( 1838 - 1848). Nhng tất cả những cuộc khởi nghĩa của giai cấp công
nhân đều bị dìm trong bể máu.
Từ những thất bại trong thực tiễn đấu tranh, giai cấp công nhân buộc phải đi
tới chỗ nhận thức về những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng mình
phải có một chính đảng lãnh đạo và hệ thống lý luận soi đờng.
Một sự kiện chính trị quan trọng phải kể đến là sự ra đời cỉa liên đoàn những
ngời cộng sản tổ chức tiền thân của Đảng cộng Sản và yêu cầu bức thiết phải có
4
một cơng lĩnh làm kim chỉ nam cho hành động của cách mạng, của phong trào vô
sản. Vấn đề cơng lĩnh của liên đoàn đợc đặt ra từ Đại hội lần thứ nhất của Liên đoàn
vào mùa hè năm 1847 và là vấn đề chủ yếu trong chơng trình nghị sự của Đại hội
lần thứ hai của Liên đoàn ngày 29 / 11 / 1847. Sau một cuộc thảo luận dài về những
dự thảo cơng lĩnh trình lên Đại hội, trong đó có dự thảo cẩm nang về chủ nghĩa
cộng sản do Hát Xơ biên soạn và những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản
do Ph. Ăngghen biên soạn cuối cùng. C.Mác và Ph. Ăngghen đợc Đại hội ủy thác
biên soạn Cơng lĩnh dới hình thức bản Tuyên ngôn của Đảng cộng Sản
Một điểm cần lu ý khi nói đến điều kiện chính trị xã hội ra đời của tác
phẩm là yếu tố về t tởng chính trị . Tác phẩm ra đời vào thời điểm quyết định quá
trình chuyển biến của chủ nghĩa xã hội khoa học đấu tranh với các t tởng lỗi thời và
phản động để thâm nhập vào phong trào công nhân.
Các t tởng xã hội chủ nghĩa không tởng tồn tại và thống trị cho đến lúc đã
bộc lộ nhiều hạn chế: không giải thích đúng bản chất của ách áp bức bóc lột t bản
chủ nghĩa, cha phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội đó, cha nhìn thấy vai trò và
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới. Những nhà chủ nghĩa xã hội không tởng muốn xây dựng một xã hội mới tốt
trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn; tinh thần kế thừa một cách có phê
phán những tri thác của nhân loại.
Làm cơ sở cho Tuyên ngôn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lich sử do C.Mac và Ph.Ăngghen đề xớng ra. Đó là kết quả của một quá
trình nghiên cứu và quan sát khoa học hết sức tỉ mỉ và sâu sắc để đi đến hệ thống
hóa và phát triển các quan điểm lý luận đã đợc các ông đề cập đến trong các tác
phẩm viết trớc nh: Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen do C.Mac viết năm
1843; Bản thảo kinh tế triết học do C.Mac viết năm 1844; Tình cảnh giai cấp
công nhân ở Anh do Ph.Ăngghen viết năm 1845; Gia đình thần thánh do C.Mac
và Ph.Ăngghen viết năm 1845; Hệ t tởng Đức do hai ông viết năm 1846; Sự
khốn cùng của triết học do C.Mác viết năm 1847 và những nguyên lý của chủ
nghĩa cộng sản do Ph.Ăngghen viết 1847. ở thời điểm viết Tuyên ngôn là lúc
C.Mac và Ph.Ăngghen đã đạt đến trình độ phân tích và khái quát lý luận cao, đã vận
dụng nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật vào việc xen xét bản chất các quan hệ
kinh tế và xã hội, kinh tế và chính trị của hiện thực xã hội t sản đơng thời, rút ra
những kết luận mang tính quy luật của sự phát triển lịch sử.
Sự thống nhất hữu cơ của các nhân tố đó và sự thể hiện nó thông qua thiên
tài sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen kết hợp với cảm quan nhân đạo chủ nghĩa
của các ông, hớng toàn bộ t tởng, niềm tin, lý tởng, ý chí và hành động vào sự
6
nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng con ngời đã giúp các ông đã giúp các
ông đạt đến định ca nhận thức khoa học ở thời đại của mình.
Giữa tháng chạp năm 1847, sau khi đơc Đại hội thứ 2 của những ngời cộng
sản giao nhiệm vụ biên soạn tuyên ngôn. C.Mac và Ph.Ăngghen đã đến Bruyxen để
cùng viết. Nhng đến cuối tháng chạp năm 1847 Ph.Ăngghen đã phải quay trở lại
Pari để dự họp, do đó toàn bộ công việc soạn thảo bản Tuyên ngôn đều do C.Mác
gánh vác. Cuối tháng giêng năm 1848, ông đã hoàn thành việc biên soạn lần cuối tác
điểm khoa học quan trọng khác: quan hệ giữa giai cấp vô sản với tổ quốc, về các
điều kiện tủ tiêu ách áp bức bóc lột dân tộc, về gia đình và về giáo dục
1.2.4 Phần thứ ba: Văn học xã hội chủ nghĩa và văn học cộng sản chủ nghĩa.
Trong phần này hai ông đã tập trung phê phán các học thuyết chủ nghĩa xã
hôI cà chủ nghĩa cộng sản của phong kiến, của tiểu t sản, t sản Chính trong phần
này , hai ông đã luận chứng rõ ràng các nguồn gốc xã hội của các quan niệm đơng
thời dới khẩu hiệu vì chủ nghĩa xã hội; chỉ ra tính chất ảo tởng, phản động của các
trào lu xã hội phong kiến, tiểu t sản, t sản, phân biệt chúng với chủ nghĩa xã hội
không tởng.
1.2.5 Phần thứ t: Quan hệ của những ngời cộng sản và các đảng đối lập.
Hai ông đã dành phần này để nêu ra các vấn đề có tính nguyên tăc của những
ngời cộng sản trong quan hệ cới các đảng phái đối lập khác liên quan đến bản chất
của tổ chức đảng. những luận điểm sách lợc có tính chất nguyên tắc, có ý nghĩa cấp
bách trong thời điểm đó mà các đảng phái đã tà lâu xa rời chúng.
8
Chơng 2. Nội Dung công tác t tởng trong tác phẩm
2.1 Nội dung lý luận
2.1. 1 Lý luận về đấu tranh giai cấp và vị trí lịch sử của chủ nghĩa t bản.
Về đấu tranh giai cấp và vai trò là động lực thúc đẩy lịch sử của cuộc đấu
tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp trong chủ nghĩa t bản .
Trong tác phẩm Tuyên ngôn Đảng cộng sản, các tác giả đã làm sáng tỏ một
cách ngắn gọn, chính xác nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp nói chung cũng
nh trong lòng chế độ chủ nghĩa t bản nói riêng. Các ông khẳng định rằng, toàn bộ
lịch sử xã hội loài ngời, ngoại trừ chế độ cộng sản nguyên thủy, là lịch sử đấu tranh
giai cấp, giữa các giai cấp áp bức và bị áp bức. Xuất phát từ các phân tích duy vật
lịch sử đối với dự phát triển xã hội từ khi phân chia thành giai cấp và có đối kháng
phạm vi toàn thế giới.
Bên cạnh các tiến bộ về sản xuất, kinh tế, các ông cũng chỉ ra rằng, mối bớc
tiến ấy đồng thời cũng tao ra một bớc tiến tơng ứng về chính trị. Bất kỳ lúc nào, ở
đâu, khi giai cấp t sản chiếm đợc chính quyền thì nó đạp đổ các
quan hệ phong
kiến. Tóm lại giai cấp t sản đã đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp và tàn nhẫn
thay cho sự bóc lột đợc che giấu bằng những ảo tởng tôn giáo, chính trị.
Những tiến bộ có tính lịch sử, trong sự so sánh, xác định với phơng thức sản
xuất và chế độ phong kiến ấy do T bản đạt đợc, bắt nguồn từ những nguyên nhân
sâu xa mang tính tất yếu từ nhu cầu phát triển của sản xuất, mở rộng thị trờng và cao
hơn tất cả là vì lợi nhuận của nhà t bản.
Nhng cũng chính từ sự xuất phát ấy của sản xuất, mở rộng thị trờng đến lợt
nó đòi hỏi phải áp dụng tiến bộ lỹ thuật, đổi mới công cụ sản xuất. Kết cục tất yếu
của quá trình ấy là trình độ kỹ thuật của lực lợng sản xuất ngày càng hiện đại, tính
chất xã hội của lực lợng sản xuất ấy ngày càng cao, dẫn đến mâu thuẫn cơ bản của
nền sản xuất T bản chủ nghĩa ngày càng trở nên gay gắt. Nói một cách hình ảnh, lực
lợng sản xuất nổi dậy chống lại quan hệ sản xuất chiếm hữu t nhân T bản chủ nghĩa.
Việc tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí là công lao lịch sử của giai cấp t sản. Đến lợt
nó, nền đại công nghiệp ấy đã đến lúc làm lung lay cái nền tảng mà trên đó giai cấp
t sản xác lập nên bộ máy nhà nớc của mình. Giai cấp t sản không thể không rèn vũ
khí tự giết mình.
2.1.2 Lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản C. Mac và Ph. Ăng ghen đã
đề cập đến một cách có hệ thống những nội dung cơ bản liên quan đến khái niệm
công nhân.
Trớc hết. Giai cấp vô sản là giai cấp đông đảo nhất sinh ra và lớn lên cùng với
sự phát triển của nền đại cộng nghiệp. Cuộc sống của họ phụ thuộc tất cả vào sự
tích và cả bộ máy nhà nớc phong kiến.
Đến một thời kỳ nhất định một kết cục tất yếu nữa là giai cấp t sản đã không
chỉ tạo ra giai cấp vô sản qua sự phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, mà còn rèn
rũa, trang bị một phần tri thức về tổ chức đấu tranh, chính sự rèn rũa của giai cấp vô
sản bởi môi trờng và kỷ luật lao động của nền đại công nghiệp, sự rèn rũa trong các
11
cuộc đấu tranh chính trị chống giai cấp phong kiến dới ngọn cờ t sản và các cuộc
đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của chính mình đã làm cho giai cấp vô sản trở thành
lực lợng có tổ chức, kỷ luật.Hơn thế, khi cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra, một
bộ phận t sản đã chạy sang hàng ngũ của giai cấp vô sản cùng nh trớc kia, một bộ
phận của giai cấp phong kiến chạy sang hàng ngũ của giai cấp vô sản. Điều này
cũng góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh tuyên truyền và giác ngộ về địa vị
kinh tế xã hội, vai trò chính trị của giai cấp mình trong hàng ngũ giai cấp vô sản.
Tóm lại là, giai cấp t sản không chỉ rèn vũ khí tự giết mình, nó còn khong thể không
tạo ra lực lợng xã hội (giai cấp vô sản công nghiệp) có đủ khả năng để sử dụng vũ
khí ấy.
Về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Bằng sự phân tích một cách khoa học cac điều kiện về kinh tế xã hội và
chính trị của xã hội t bản đơng thời. C.Mác và Ph. Ăng ghen đã chỉ ra rằng chính
điều kiện kinh tế xã hội và chính trị xã hội của chủ nghĩa t bản đã quy định một
cách tất yếu rằng giai cấp công nhân là lực lợng xã hội có sứ mệnh lịch sử : thủ tiêu
chế độ t bản chủ nghĩa, xây dung chế độ xã hội mới chế độ xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa.
Về tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.
Về phơng diện kinh tế xã hội.
C. Mác và Ph.Ănghen đã phân tích nền kinh tế T bản, các tác giả của Tuyên
ngôn đã chỉ ra rằng sự phát triển đại công nghiệp do giai cấp t sản và chế độ T bản
còn làm chín muồi dần các điều kiện, các yếu tố khách quan và chủ quan để có thể
cải biến các khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực. Nghĩa là sẽ đến lúc tất yếu phải
nổ ra một cuộc cách mạng xã hội, da giai cấp công nhân trở thành giai cấp thống trị.
Và giai cấp này sẽ sử dụng cái địa vị chính trị ấy, tiến hành thủ tiêu giai cấp t sản,
xây dựng xã hội mới cộng sản chủ nghĩa.
Về cách mạng vô sản.
Về tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản C. Mác và Ph.Ănghen đã
phân tích sự phát triển của nền đại công nghiệp dới chủ nghĩa t bản và chí rõ: Cách
mạng xã hội chủ nghĩa là kết quả tất yếu của sự vận động của những mâu thuẫn
trong nền kinh tế và xã hội của xã hôi T bản chủ nghĩa. Các ông đã luận chứng một
cách cụ thể, rõ ràng rằng, giai cấp t sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách
mạng hóa công cụ sản xuất và sự phát triển của lực lợng sản xuất ngày càng đợc xã
hội hóa cao. Nhng quan hệ sản xuất T bản chủ nghĩa đã lạc hậu, lỗi thời vẫn đợc duy
trì. chính vì vậy, lực lợng sản xuất đã đợc xã hội hóa mâu thuẫn ngày càng gay gắt
với quan hệ sản xuất t nhân t bản chủ nghĩa. Khí đó, lực lợng sản xuất mà xã hội có
đợc đã không thúc đẩy quan hệ sở hứu t sản phát triển nữa mà trái lại chúng đã trở
13
thành quá mạnh đối với quan hệ sở hữu ấy, cái quan hệ sở hữu lúc đó đang cản trở
sự phát triển mạnh của chúng. Mẫu thuẫn ngày càng gay gắt không thể điều hòa đ ợc, C. Mác và Ph.Ănghen ví nh một tay phù thủy không còn đủ sức trị những án
binh mà y đã triệu lên. Vì vậy, một yêu cầu đặt ra là phải thay thế quan hệ sản xuất
t nhân t bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn giẵ lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất trong kinh tế biểu hiện
ra là ngoài xã hội có tính chất mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp t sản
không có t liệu sản xuất xã hội và lao động làm thuê. Còn trái lại, giai cấp vô sản
không có t liệu sản xuất phảI tự bán mình kiếm ăn từng bữa một. Với cuộc sống
cùng cực, bị áo bức bóc lột nặng nề, giai cấp vô sản thờng xuyên tiến hành các cuộc
Nội dung xã hội.
Thực hiện công bằng bình đẳng xã hội, thực hiện mọi biện pháp làm mất dần
sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, xã họi không còn giai cấp đối kháng.
Nội dung văn hóa t tởng.
Chống lại các trào lu t tởng của các giai cấp bóc lột, phản động, thực hiện
giáo dục công cộng nhằm từng bớc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần mới, tạo
điều kiện cho sự xuất hiện một thể liên hiệp, mà trong đó sự phát triển tự do của tất
cả mọi ngời. Vì vậy, mục đích của cách mạng xã hội chủ nghiaxlaf lật đổ ách áp bức
bóc lộtcủa giai cấp t sản thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Về chuyên chính vô sản
"Chuyên chính vô sản là chính quyền của giai cấp công nhân, đợc thiếp lập
trong tiến trình cách mạng XHCN. Về mặt lịch sử, chuyên chính vô sản là hợp quy
luật và cần thiết để thực hiện những mục tiêu giai cấp của giai cấp vô sản, thực hiện
sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của nó: xoá bỏ CNTB đồng thời xoá bỏ mọi chế độ ngời bóc lột, mọi hình thức áp bức xã hội và áp bức dân tộc, xây dựng CNXH. Chuyên
chính vô sản là con đờng duy nhất để cải tạo xã hội bằng cách mạng, để xoá bỏ chế
độ chủ nghĩa t bản, xây dựng CNXH. Nền tảng của chuyên chính vô sản và nguyên
tắc cao nhất của nó là sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân,
trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo".
T tởng chuyên chính vô sản ở tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đợc
trình bày rõ ràng hơn, có hệ thống hơn so với tác phẩm Hệ t tởng Đức. Tuy nhiên,
trong Tuyên ngôn, Mác và Ăngghen mới chỉ đề cập đến lật đổ chứ cha nói đến việc
đập tan nhà nớc t sản, cha nói đến xây dựng nền chuyên chính vô sản nh thế nào. Vì
lẽ đó cho nên V.I Lênin cho rằng t tởng chuyên chính vô sản ở tác phẩm này của
Mác và Ănghen còn trừu tợng. Đến tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1850), t tởng chuyên chính vô sản mới đợc đề cập rõ hơn, cụ thể hơn về những vấn đề: lật đổ
15
nhà nớc, lấy gì thay, nhà nớc vô sản là nh thế nào. Hai mơi năm sau, khi Công xã
16
của phong trào vô sản ở mọi quốc gia, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản quốc tế;
là nội dung cơ bản của chủ ngiac quốc tế vô sản của giai cấp vô sản.
Thứ hai: trong các cuộc đấu tranh khác nhau của t sản và vô sản, họ luôn là
đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào.
Từ phân tích các luận điểm của C. Mác và Ph.Ănghen trong Tuyên ngôn cho
chúng ta thấy rằng, Đảng Cộng sản là một bộ phận có tổ chức, là tổ chức cao nhất
gồm những ngời u tú nhất của gia cấp công nhân; Đảng thuộc về và là đại biểu cho
lợi ích của toàn bộ giai cấp, toàn bộ phong trào, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào
riêng.
2.1.4 Về các luận điểm đối lập và thù địch của các nhà t sản và giai cấp t
sản liên quan đến Đảng Cộng sản
Trớc hết là luận điểm cho rằng những ngời cộng sản, chủ nghĩa cộng sản
muốn xóa bỏ toàn bộ chế độ sở hữu nói chung, là chế độ đợc thiết lập từ cả hàng
nghìn năm. Đới với luận điểm này, các ông nêu lên một cách rõ ràng là, việc xóa
bỏ những quan hệ sở hữu đã có từ trớc tới nay không phải là đặc trng của chủ nghĩa
cộng sản chế độ t hữu đã trải qua những thay đổi liên tiếp trong lịch sử. Chế độ t
hữu hiện thời sở hữu t nhân T bản chủ nghĩa là chế độ t hữu hoàn bị nhất, cuối
cùng của phơng thức sản xuất và chiếm hữu là cơ sở tồn tại cho giai cấp đối kháng
và bóc lột, áp bức giai cấp. Khẩu hiệu áp bức giai cấp cần đợc hiểu theo nghĩa đó.
Thứ hai, Những nhà t tởng buộc tội những ngời cộng sản muốn xóa bỏ chế độ
sở hữu cá nhân. Về điểm này, các tác giả Tuyên ngôn đã phân tích, làm rõ thực chất
của luận điểm đó. Cái mà ngời cộng sản muốn xóa bỏ là xóa bỏ sở hữu cá nhân t
sản. mà sở hữu cá nhân t sản lại chính là và chủ yếu là chiếm hữu các t liệu sản xuất,
do đó cũng chiếm hữu luôn cả t bản, cả những giá trị thặng d do chính ngời công
nhân tạo ra. Sở hữu cá nhân của vô sản, những ngời tiểu nông, những ngời tiểu t sản
bị chính ggiai cấp t sản xóa bỏ rồi. Cho nên, những ngời cộng sản chỉ xóa bỏ cái
Cộng sản, những ngời cộng sản ở Pháp, Thụy sĩ, Ba lan, Đức với các đảng xã hội
chủ ngĩa đối lập ở các nớc đó. Trên cơ sở ấy các ông đã nêu một cách vắn tắt, rõ
ràng thái độ có tính nguyên tắc của những ngời cộng sản là: Những ngời cộng sản
có thể và cần ủng hộ, tham gia vào các cuộc đấu tranh chung của các đảng ấy chừng
nào và khi nào, mục tiêu của các cuộc đấu tranh ấy là có lợi cho giai cấp vô sản và
nhằm tấn công vào giai cấp t sản thống trị. Nhng những ngời cộng sản luôn phải đặt
lên hàng đầu mục tiêu cơ bản, cuối cùng của mình là xóa bỏ chủ nghĩa t bản, xây
dựng chủ nghĩa cộng sản. Trong các cuộc đấu tranh ấy, họ luôn luôn chiến đấu cho
những lợi ích và mục đích trớc mắt của giai cấp công nhân, nhng đồng thời phong
trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tơng lai của phong trào.
2.1.6 Phê phán những luận điệu xuyên tạc t tởng cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản
18
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản C. Mác và Ph.Ănghen đã chỉ ra các
nguồn gốc sản sinh ra các quan niệm xã hội chủ nghĩa đối lập và tiến hành phê phán
các quan niệm ấy.
Đối với các trào lu xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội tiểu t sản, chủ nghĩa xã
hội chân chính (Đức).
Chủ nghĩa xã hội phong kiến: chủ nghĩa xã hội phong kiến ra đời là kết quả
phản ứng của một bộ phận quý tộc phong kiến ở pháp và Anh nêu ra nhằm phê pán,
đả kích xã hội t sản. Để che giấu ý đồ thực, sự phẫn uất của những ngời bị t sản đánh
đỏ, họ đã ding những lời lẽ phô trơng nhân danh lợi ích của giai cấp công nhân.
Thực chất những quan điểm hoa mỹ mà họ dùng đã thể hiện sự bất lực
không thể hiểu nổi những gì đang diễn ra trong thực tại. Tóm lại đây là một thứ nớc
thánh dùng để trang sức cho những nỗi hờn giận phong kiến quý tộc mà thôi.
Chủ ngĩa xã hội tiểu t sản: Nguồn gốc t tởng chue chủ nghĩa xã hội tiểu t sản,
đợc thể hiện chủ yếu trong các tác phẩm văn học, khi mà những đại biểu t tởng cho
C. Mác và Ph.Ănghen đã chỉ ra rằng chủ nghĩa xã hội bảo thủ sinh thành bởi
một số đại biểu t tởng của giai cấp t sản, với dụng ý tìm phơng thuốc chữa trị các căn
bệnh của chủ nghĩa t bản, của cái xã hội do chính giai cấp này tạo dựng lên.
Về các nội dung, t tởng cơ bản của chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa
xã hội t sản nh sau.
Duy trì những điều kiện sinh hoạt, đời sống của xã hội t bản nhng lại không
muốn có những cuộc đấu tranh, những xung đột do chính các điều kiện sinh hoạt đó
gây ra.
Họ muốn làm cho công nhân hiểu rằng, không phải là các cải biến chính trị
mà chính là cái cải biến điều kiện sinh hoạt, các cải biến quanh hệ kinh tế mới mang
lại lợi ích thực sự chó công nhân. Những cải biến này đợc diễn ra mà không cần các
cuộc cách mạng chính trị.
Cái đích thực, cái tột cùng của chủ nghĩa xã hội t sản đích thực là những ngời t sản là những ngời bảo vệ lợi ích của t sản nhng lại núp dới khẩu hiệu vì lợi ích
của giai cấp công nhân.
C. Mác và Ph.Ănghen đã phân tích và khái quát chỉ ra tính chất phản động
lịch sử của văn chơng, của các t tởng xã hội chủ nghĩa trớc đó, là các t tởng đợc
sinh ra từ phong trào sôi sục chống chế độ phong kiện
2.2 Nội dung tuyên truyền, cổ động
2.2.1 Công tác tuyên truyền
Nếu nh khẳng định công tác tuyên truyền là nhằm truyền bá hệ t tởng và đờng lối chiến lợc, sách lợc trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới
quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ t tởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập
hợp và cổ vũ quần chúng hành động théo thế giới quan và niềm tin đó. Thì khi đối
20
chiếu với tuyên ngôn Đảng Cộng sản chúng ta có thể thấy C. Mác và Ph.Ănghen đã
đề cập và lý giải sâu sắc về nhiệm cụ của công tác tuyên truyền . Các ông cho rằng:
Nhiệm cụ của công tác tuyên truyền của Đảng phải thờng xuyên là liên tục. Đảng
Cộng sản phải luôn luôn giáo dục cho giai cấp công nhân một ý thức hết sức sáng rõ
Chơng 3. Giá trị của tác phẩm đối với công tác t tởng và sự vận dụng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
3.1. Giá trị của Tuyên ngôn đối với công tác t tởng của Đảng ta hiện nay.
Trớc hết cần khẳng định: Tuyên ngôn là tác phẩm lý luận có những giá trị
đặc biệt trong kho tàng tác phẩm của kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin.
Bởi vì,Tuyên ngôn chính là sự tổng kết kinh nghiệm đấu trang của giai cấp vô
sản Châu Âu lúc bấy giờ, nghiên cứu quy luật hình thành, phát triển của xã hội có
phân chia giai cấp đối kháng để nêu lên những luận điểm đánh dấu sự hình thành
của Chủ nghĩa Mác và triết học Mác.Nói một cách khác, phơng pháp luậ cơ bản và
chủ đạo trong Tuyên chính là phơng pháp sử dụng phép biện chứng duy vật để phân
tích xã hội t bản chủ nghĩa, qua đó rút ra những kết luận khoa học.Với việc sử dụng
quy luật thống nhất và đấu trang giữa các mặt đối lập, trong Tuyên ngôn cái xã hội
t bản thống nhất đã đợc phân phối thành các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện
chứng giữa t sản và vô sản, lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuấtVới việc sử
dụng quy luật lợng chất, trong Tuyên ngôn C. Mác và Ph.Ănghen đã phát hiện ra
quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa t bản với t cách là
một giai đoạn khách quan trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài ngời; Còn với việc
sử dụng quy luật phủ định của phủ định, trong Tuyên ngôn sự thay thế chủ nghĩa t
bản bằng chủ nghĩa cộng sản và đó là sự thany thế có kế thừa, có lọc bỏ đã đợc
chứng minh. Nh vậy, chính nhờ có phơng pháp luận biện chứng, C. Mác và Ph.
Ănghen đã phát hiện đúng mâu thuẫn nội tại của xã hội T bản để khẳng định sự diệt
vong tất yếu của chủ nghĩa t bản, khẳng định giai cấp vô sản là lực lực lợng hội cơ
bản có thể lãnh đạo cuộc cách mạng nhằm xóa bỏ chủ nghĩa t bản, xây dựng thành
công xã hội mới xã hội chủ nghĩa và Cộng sản chủ nghĩa.Chính với ý nghĩa đó,
với Tuyên ngôn chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã từ không tởng trở thành
khoa học.
Mt khác, Tuyên ngôn ca ng cng sn vi t tng c bn l tuyên
b v s gii phóng ton b xã hi, l s th tiêu mi áp bc, bt công nên ngay
phát trin, lý lun u tranh giai cp v vai trò cách mng trong lch s ton
th gii ca giai cp vô sn, tc l giai cp sáng to mt xã hi mi, xã hi
cng sn.
Vì vy, khi nghiên cu tác phm ny chúng ta rút ra nhng giá tr nh sau:
1. Khi nhn thc mt xã hi no ó, chúng ta cần nhn thc đúng n v
xã hi ó bng cách chúng ta cn xem xét ton b quan h xã hi ca nó, c
bit l quan h sn xut ca nó trong mi liên h qua li vi các quan h xã hi
23
kh¸c. Từ đã rót ra c¸c m©u thuẫn cơ bản, bản chất của x· hội mà chóng ta đang
nghiªn cứu. Tr¸nh chủ nghĩa chiết trung, kh«ng biết rót ra mặt bản chất, mối liªn
hệ cơ bản... nªn rơi vào chỗ cào bằng, kết hợp một c¸ch v« nguyªn tắc c¸c mối
liªn hệ kh¸c nhau, do đã hoàn toàn bất lực khi cần phải cã nh÷ng quyết s¸ch
đóng đắn.
2. Ph¸t triển là một quy luật kh¸ch quan, sự ph¸t triển của c¸c h×nh th¸i
kinh tế – x· hội trong thực tế là một qu¸ tr×nh biện chứng đầy m©u thuẫn. Do
vậy, quan điểm x· hội ph¸t triển được vận dụng vào qu¸ tr×nh nhận thức cũng
đßi hỏi chóng ta phải thấy râ tÝnh quanh co, phức tạp của qu¸ tr×nh ph¸t triển như
là một hiện tượng phổ biến. Thiếu quan điểm khoa học như vậy, người ta rất dễ
bi quan, dao động khi mà tiến tr×nh c¸ch mạng gặp khã khăn.
3. Trong nhận thức chóng ta kh«ng bao giờ được tuyệt đối ho¸ sự kh¸c
biệt giữa c¸c mặt đối lập. Việc tuyệt đối ho¸ c¸c mặt đối lập là quan điểm siªu
h×nh, lu«n bị c¸c nhà biện chứng phª ph¸n kịch liệt. Sự vận động và sự ph¸t triển
bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tÝnh ổn định và tÝnh thay đổi. Thống nhất và
đấu tranh của c¸c mặt đối lập quy định tÝnh ổn định và tÝnh thay đổi của sự vật.
Trong qu¸ tr×nh nhận thức, việc nhận thức m©u thuẫn của c¸c sự vật hiện tượng
là quan trọng.
Khi ph©n tÝch m©u thuẫn, phải xem xÐt toàn diện c¸c mặt đối lập.
Vì vậy, phương pháp luận mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” giúp chúng ta có thể nhìn nhận con đường phát
triển của đất nước ta hiện nay một cách rõ ràng hơn.Cụ thể, với một điểm xuất phát
rất thấp và với những điều kiện đặc thù của cách mạng Việt Nam nên khi bắt tay
xây dựng CNXH chúng ta có rất nhiều những thiếu thốn, khó khăn, trong đó một
trong những thiếu thốn, khó khăn lớn nhất là chúng ta thiếu những tiền đề lý luận để
xây dựng sự thống nhất nhận thức và hành động. Cũng do thiếu những tiền đề lý
luận, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam phải luôn luôn đối mặt với nguy cơ
chệch đường. Như vậy, việc nghiên cứu, nắm vững bản chất cách mạng, khoa học
của Tuyên ngôn chính là cơ sở để chúng ta xác định rõ mục tiêu, con đường và
phương pháp của cách mạng Việt Nam cả trong trước mắt và cả trong lâu dài.
Trong bối cảnh các thế lực phản động, thù địch đang ráo riết chống phá cách mạng
Việt Nam bằng âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, việc kiện
định con đường đã chọn càng đã, đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc cho cách mạng
Việt Nam. Kinh nghiệm của Đảng ta trong suốt gần 80 năm vừa qua cũng chứng
minh, chính nhờ quán triệt, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ
25