LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, sự phát triển của các nền kinh tế đang ngày càng trở nê mạnh mẽ,
các quốc gia hầu hết đều chú trọng vào các hoạt động đối ngoại và ngoại thương.
Việc đẩy mạng các hoạt động xuất nhập khẩu sẽ thúc đẩy sự ra đời của một số loại
hình dịch vụ, nhằm phục vụ và đẩy mạnh cho việc phát triển hoạt động ngoại
thương một cách nhanh chóng.
Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới
WTO, điều này đã khiến vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên rất
nhiều, mở rộng sự giao lưu hàng hóa cũng như các hoạt động thông thương với các
nước khác. Cùng với sự phát triển về các mối quan hệ đó thì dịch vụ giao nhận vận
tải hàng hóa quốc tế cũng đang trên đà phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Mặt khác,
Việt Nam có ưu thế khi phần lớn đất nước được tiếp giáp với biển Đông, nên có
nhiều cảng lớn nhỏ đã được xây dựng trên khắp đất nước, ngành giao nhận vận tải
đường biển nhờ đó mà có những bước tiến đáng kể. Số lượng hàng hóa giao nhận
bằng đường biển luôn luôn chiếm phần lớn tổng giá trị hàng hóa giao nhận quốc tế
Việt Nam.
Bên cạnh đó thì các hoạt động dịch vụ giao nhận mới được phát triển và
khẳng định vị trí trên thị trường dịch vụ, nên không tránh khỏi một số những hạn
chế, khố khăn trước mắt như: Trình độ quản lý còn yếu kém, hoạt động lộn xộn
không theo quy tắc và đặc biệt là tồn tại một số tiêu cực trong đội ngũ cán bộ cũng
như công nhân viên.
Nắm bắt được tình hình đó thì công ty cổ phần giao nhận vận tải Con Ong đã
trở thành một trong số những doanh nghiệp uy tín, chất lượng và là sự lựa chọn của
rất nhiều các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để có
thể vươn xa, giữ vị trí vững chắc trong thị trường cạnh tranh gay gắt thì công ty cần
phải đưa ra những biện pháp thực tế, linh hoạt và nhạy bén với thị trường hơn để
thúc đẩy được hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả tăng cao.
1
2
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động giao nhận trong ngoại thương.
Chương II: Thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng
đường biển tại công ty cổ phần giao nhận vận tải Con Ong.
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giao
nhận hàng hoá nhập khẩu bằng đường biển của công ty cô phần giao nhận vận
tải Con Ong.
3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
GIAO NHẬN TRONG NGOẠI THƯƠNG
1.1 Khái niệm về hoạt động giao nhận.
Theo quy tắc của Liên Đoàn Quốc tế các Hiệp Hội giao nhận (FIATA) về
dịch vụ giao nhận, dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là bất kỳ loại dịch vụ nào
liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối
hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả
các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên
quan đến hàng hóa.
Theo luật thương mại Việt Nam thì “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương
mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên
quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải
hoặc của người giao nhận khác.
Nói một cách ngắn gọn: “Giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có
liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng
(người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).Người giao nhận có thể làm
mậu dịch quốc tế tăng trưởng và phát triển.
Trong đó vai trò của dịch vụ giao nhận không chỉ làm cầu nối cho mậu dịch
quốc tế diễn ra mà còn kích thích thương mại thế giới tăng trưởng và phát triển.
phát triển của khoa học kỹ thuật trong hoạt động giao nhận vận tải đã tạo ra chiều
hướng mậu dịch quốc tế ngày càng thuận lợi hơn. Đó là khoảng cách vận chuyển
cũng như chi phí sẽ không còn làm chở ngại cho quá trình lưu thông hàng hóa.
Đặc biệt với sự ra đời của vận tải đa phương thức, trong đó các tổ chức giao
nhận là người điều hành hoạt động này đã mang lại hiệu quả to lớn cho hoạt động
thương mại trên thế giới. Đơn giản hóa thủ tục hải quan cũng như thủ tục hành
chính khác, không những làm giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa ngoại
thương mà còn rút ngắn thời gian, đảm bảo an toàn trong vận chuyển hàng hóa xuất
nhập khẩu.
5
Với tác động tích cực trên, khẳng định sự phát triển của nghiệp vụ giao nhận
sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy mậu dịch thế giới phát triển ngày càng đa
dạng, phòn phú hơn, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi cho tự do thương mại
toàn cầu diễn ra nhanh chóng.
Hoạt động giao nhận không chỉ cố tác động giúp thúc đẩy hoạt động dịch thế
giới mà giao nhận vận tải còn rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của các
quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Hoạt động giao nhận đã tạo lập môi trường
thuận lợi và động lực phát triển mậu dịch toàn cầu. Giúp các nước có điều kiện khai
thác, tận dụng được lợi thế so sánh của mình, cũng nhưu tiếp nhận được nhiều
nguồn lực từ bên ngoài. Từ đó, làm cơ sở phát triển lực lượng sản xuất trong nước.
Do đó, giao nhận vận tải đã có tác động gián tiếp đến trình độ phát triển của
quốc gia. Khi lĩnh vực dịch vụ này phát triển đến trình độ cao thì lượng thời gian
cần thiết trong lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng hơn, tận dụng được thời cơ
kinh doanh quốc tế. Đồng thời các quốc gia trong nền kinh tế thế giới có điều kiện
tăng trưởn cho nền sản xuất trong nước.
Thông qua đó nền kinh tế nước ta mới có thể giữ vững được tốc độ tăng
trưởng và đảm bảo được tính ổn định và bền vững. Tạo được thuận lợi trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu. Bên cạnh đó tính ổn định
phát triên nhịp nhàng của nền sản xuất trong nước là điều kiện cho ngành giao nhận
vận tải phát triển.
Ngành giao nhận vận tải trong nước phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự phát
triển của cơ sở hạ tầng khoa học kỹ thuật,… nhất là về cơ sở hạ tầng phục vụ cho
vận tải như: Hệ thống cầu cảng, sân bay, đường xá,… từng bước nâng cấp và xây
dựng. Đồng thời phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc chuyên chở, bố dỡ, …
Chính vì vậy đòi hỏi việc đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mới có thể đáp
ứng tốc độ ngày càng tăng của sản lượng giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
1.4 Quy trình chung trong giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển.
Theo lý thuyết quy trình về giao nhận nhập khẩu một lô hàng bằng đường
biển được thực hiện lần lượt các bước như sơ đồ dưới đây.
7
Nhận yêu cầu từ khách hàng
Nhận và kiểm tra bộ chứng từ
Lấy lệnh giao hàng
Thông quan hàng nhập khẩu
Nhập miễn kiểm
Nhập kiểm hóa
Mở tờ khai
công ty nhằm xác định khoản thu chi cà lợi nhuận giữa hai bên.
2- Kiểm tra bộ chứng từ.
Sau đó nhân viên chứng từ sẽ kiểm tra chứng từ của đại lý gửi về một cách
nhanh chóng nhưng cẩn thận bằng cách xem thông tin trên vận đơn có trùng khớp
và đầy đủ các thông tin tên người gửi, người nhận, tên tàu và ngày tàu đến, số
container, số seal, chi tiết hàng hóa.
Trong trường hợp không trùng khớp các số liệu giữa các chứng với nhau,
nhân viên chứng từ có nhiệm vụ lien lạc với các đại lý để kịp thời bổ sung và thông
báo cho công ty khi có sự điều chỉnh gấp. Một số trường hợp do lỗi của đại lý
không bổ sung chứng từ cho công ty kịp thời thì phải chịu trách nhiệm về các
khoản chi phí điều chỉnh.
3 Lấy lệnh giao hàng (D/O)
Trước ngày hàng đến dự kiến thông thường từ 1 đến 2 ngày sẽ nhận được
giấy báo hàng đến của hang tàu. Dựa vào số vận đơn trên giấy báo để kẹp vào các
Debit/credit của lô hàng.
Nhân viên giao nhận thực hiện việc đi đổi lệnh phải cầm giấy giới thiệu kèm
theo giấy báo nhận hàng chờ xuất hóa đơn để lấy lệnh. Đối với hàng FCL thì khách
9
hàng trực tiếp đóng tiền cược cont và đóng dấu chuyển thẳng tại đại lý hãng tàu khi
có nhu cầu
Trước khi tàu cập cảng, hãng vận tải sẽ gửi thông báo hàng đến (Arrival
Notice) cho doanh nghiệp (doanh nghiệp sẽ gửi lại cho công ty dịch vụ giao nhận)
thông báo cụ thể ngày và giờ tàu cập cảng, địa điểm cập cảng, phương pháp gửi
hàng, thời gian cấp D/O, địa điểm cấp D/O. Các chứng từ cần thiết để nhận lênh
giao hàng gồm có:
4 Thông quan hàng nhập.
* Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để mở tờ khai.
Hamburg 1978.
Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn Incoterm 2000 giải thích các điều kiện
thương mại của phòng thương mại quốc tế.
Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ UCP 500 của phòng
thương mại quốc tế Paris.
1.6.Các nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc chung trong giao nhận
hàng hóa:
- Việc bốc dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng là do
cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy
thác với cảng. Người được chủ hàng ủy thác thường gọi là người giao nhận.
- Đối với hàng không qua cảng (không lưu kho tại cảng, thì chủ hàng hoặc
người được ủy thác có thể giao nhận trực tiếp với tàu, chỉ thỏa thuận với cảng về địa
điểm bốc dỡ, thanh toán chi phí bốc dỡ và các chi phí phát sinh khác.
- Việc bốc dỡ trong phạm vi cảng do cảng tổ chức thực hiện. Nếu chủ hàng
đưa phương tiện và nhân công vào bốc dỡ thì chủ hàng phải thỏa thuận với cảng và
phải trả phí liên quan nếu có.
- Khi được ủy thác nhận hàng tại tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào
thì giao hàng bằng phương thức ấy.
- Người nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận
hàng và phải nhận liên tục trong một thời gian nhất định khối lượng hàng hóa ghi
trong chứng từ.Cảng không chịu trách nhiệm vì hàng hóa đã ra khỏi cảng.
11
- Việc giao hàng được tiến hành trên cơ sở ủy thác của chủ hàng tức là chủ
hàng ủy thác việc gì thì chỉ làm viêc đó.
- Ngoài ra còn có những quy tắc cơ bản như việc giao nhận phải đảm bảo
định mức xếp dỡ của cảng, hàng thông qua cảng phải có đầy đủ ký hiệu…
Ở những nước có luật dân sự (civil law) – luật quy định quyền hạn và việc
bồi thường của mỗi cá nhân – thì địa vị pháp lý quyền lợi và nghĩa vụ của người
giao nhận ở các nước khác nhau có khác nhau, thông thường những người giao
nhận phải lấy danh nghĩa của mình giao dịch cho công việc của người ủy thác, họ
vừa là người ủy thác vừa là đại lý. Đối với người ủy thác (người nhận hàng hay
người gửi hàng) họ được coi là đại lý còn đối với người chuyên chở họ lại là người
ủy thác.Dù ở địa vị đại lý hay người ủy thác, người giao nhận cũng phải chăm sóc
chu đáo hàng hóa được ủy thác, thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về
những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hóa.
1.7.3 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Từ trước đến nay các “Forwarders” vẫn được coi như những người trung
gian trong quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hóa. Nhiều người cho rằng sự
tồn tại của nghề này sẽ không còn được bao lâu nữa bởi lẽ công nghệ thông tin trên
mạng toàn cầu đã phát triển mạnh mẽ và trở nên phổ biến, các chủ hàng có thể giao
dịch trực tiếp với các nhà vận chuyển lớn.
Tuy nhiên, nhận định như vậy còn quá sớm, vì người giao nhận vẫn đóng
một vai trò rất quan trọng. Họ là người điều phối làm sao để toàn bộ quá trình vận
chuyển hàng hóa được thông suốt. Chúng ta biết thương mại điện tử là rất tốt,
nhưng người ta vẫn phải cần một ai đó thực giao nhận món hàng.
Các hãng tàu chỉ quan tâm làm sao cho các container của họ được đầy hàng.
Các nhà cung cấp hàng hóa đôi khi cũng có thể chấp nhận vận chuyển một
container đầy hàng của họ cho một khách hàng nào đó. Nhưng nếu một container lại
chứa hàng của rất nhiều người mua thì có lẽ chẳng ai khác ngoài người giao nhận có
thể đưa chúng đến tay người mua hàng. Có thể nói, người giao nhận đóng một vai
trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế.
13
1.7.4 Mối quan hệ giữa người giao nhận với các bên có liên quan
Xét về các yếu tố chủ quan thì hoạt động giao nhận vận tải được điều chỉnh
bởi luật pháp quốc gia, luật quốc tê, điều ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia ký
kết, những tập quán quốc tế, tập quán trong nước, các yếu tố chính trị cũng như tình
hình phát triển của khoa học - công nghệ cũng phần nào góp phần cho ngành dịch
vụ này phát triển mạnh mẽ hơn. Ngoài các yếu tố trên thì thời tiết của từng khu vực
mà việc vận chuyển hàng hóa đi qua hay là đặc điểm của các loại hàng hóa vận
chuyển cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động giao nhận. Để kinh doanh dịch vụ giao
nhận vận tải thì doanh nghiệp không thể bỏ qua mối quan tâm về những yếu tố quan
trọng này.
Xét về mặt chủ quan của một doanh nghiệp giao nhận thì yếu tố quan trọng
đầu tiên phải kể đến đó là yếu tố vốn đầu tư của doanh nghiệp là một doanh nghiệp
dịch vụ nên vốn đầu tư phần lớn là nhỏ. Yếu tố thứ là cơ sở hạ tầng và máy móc
thiết bị phục vụ giao nhận vận tải, hay là các công nghệ thông tin, yếu tố này vô
cùng quan trọng và thiết yếu đóng vai trò kết nối các bên với nhau. Là yếu tố trọng
tâm, là nội dung, chất lượng của một doanh nghiệp giao nhận thì việc sở hữu nhà
quản lý dày kinh nghiêm, tài năng những nhân viên có nền tảng vững chắc và có sự
đào tạo về chuyên môn thì sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp trở nên vững
chắc hơn rất nhiều.
15
1.9 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu
bằng đường biển của công ty.
1.9.1 Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng chi phí của doanh nghiệp.
Doanh thu nhập khẩu trong kỳ
Chỉ tiêu doanh thu theo chi phí kinh doanh =
Chi phí nhập khẩu trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí và tiêu thụ trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này cao khi tổng chi phí thấp, do vậy nó có ý nghĩa
Vận tải Con Ong
Viết tắt:
Beelogistics
Điện thoại:
84-08-9954546
Fax:
84-08-9954547
Email:
[email protected]
Website:
www.beelogistics.com
- Địa chỉ:
29 Huỳnh Văn Bánh, p17, Q. Phú Nhuận, tp Hồ Chí Minh
- Tỉnh/Thành phố:
Hồ Chí Minh
địa và quốc tế. Công ty thực hiện cam kết là đối tác tin cậy và chiến lược của khách
hàng, không ngừng nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ bằng các đầu tư phương
tiện, thiết bị, xây dựng các trung tâm logistics tại cảng biển, khu công nghiệp, phát
triển đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, mở rộng đại lý giao nhận, thiết kế các gói
dịch vụ logistics tích hợp cho những yêu cầu riêng biệt, quản trị hiệu quả chuỗi
cung ứng của khách hàng là những hành động mà công ty thực hiện cam kết với
khách hàng.
Công ty Cổ phần giao nhận vận tải Con Ong (BEELOGISTICS
CORPORATION) từ quản lý đến nhân viên đều được giao phó toàn bộ sự phục vụ
của khách hàng. Công ty xem chất lượng với sự đúng hẹn, sự an toàn, sự tin cậy và
việc đem lại sự đổi mới đều như nhau. Mỗi ngày công ty đều cung cấp sự phục vụ
tốt nhất cho các chuyến hàng mà khách hàng giao phó.
Tài sản quý nhất của BEELOGISTIC CORPORATION HAIPHONG
BRANCH là tất cả những nhân viên, họ là người của kiến thức và sự quyết tâm
cung cấp dịch vụ khách hàng tốt nhất vào bất cứ lúc nào. Tất cả những nhân viên
của công ty đều có thái độ xem khách hàng là thượng đế, có động cơ cao và thành
thạo công nghệ thông tin đẻ cung cấp những dịch vụ tốt nhất nhằm gia tăng gia của
khách hàng.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh của công ty.
2.1.2.1 Chức năng.
- Kinh doanh dịch vụ vận tải biển nội địa, quốc tế và làm thủ tục hải quan.
- Thực hiện các dịch vụ tư vấn về vấn đề giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu,
vận tải kho hàng và các vấn đề khác có liên quan theo yêu cầu khách hàng.
- Làm đại lý cho các hãng tàu nước ngoài, liên kết với nhiều đại lý giao nhận
trong và ngoài nước trong lĩnh vưc vận chuyển, giao nhận, kho bãi, thuê tàu…
- Nhận ủy thác dịch vụ về giao nhận, kho vận, lưu cước các phương tiện vận
tải (ô tô, tàu biển, máy bay, container…) bằng các hợp đồng trọn gói “ door to
door”. Thực hiện các dịch vụ khác liên quan tới hàng hóa như: chia hàng lẻ, mua
18
19
* Các dịch vụ chính Con Ong Hải Phòng cung cấp.
Dịch vụ giao nhận hàng hóa trong và ngoài nước, gồm các hoạt động:
+ Giao nhận hàng hóa bằng đường biển.
+ Giao nhận hàng hóa đường hàng không.
+ Giao nhận vận tải đa phương thức.
Đối với hàng hóa xuất khẩu đường biển có quy trình như sau:
-
Nhận hàng từ phía nhà xuất khẩu và vận chuển nội địa hàng tới cảng.
Đăng ký với cảng về mã hàng, địa điểm, cầu tàu xếp dỡ
Làm thủ tục xuất khẩu nhu hải quan, kiểm định…
Tổ chức vận chuyển, xếp hàng lên tàu.
Lập biên lai thuyền phó ghi lại số lượng, tình trạng hàng hóa khi xếp lên tàu.
Nhận master B/L từ người chuyên trở có chữ ký của thuyền trưởng.
Cấp vận đơn house B/L cho chủ hàng có chữ ký của công ty giao nhận
Lập bộ chứng từ thanh toán tiền hàng
Thông báo cho người mua biết việc giao hàng và việc phải mua bảo hiểm
hàng hóa (nếu cần).
- Bốc xếp hàng hóa.
- Lưu giữ hàng hóa trong kho ngoại quan kho đông lạnh, kho khác…
- Giao nhận hàng hóa nội địa, hàng hóa xuất nhập khẩu
- Dịch vụ khai thuê hải quan.
- Dịch vụ đại lý tàu biển.
- Dich vụ đại lý vận tải đường biển, đường bộ, đường sắt, đường hàng không.
- Dich vụ đại lý container
PHÒNG
HÀNH
KẾ TOÁN
DỊCH VỤ
DỊCH VỤ
NHÁNH
ĐẠI DIỆN
CHÍNH
KHÁCH
GIAO
HÀNG
NHẬN
( Nguồn: Báo cáo nhân sự/ phòng kế toán)
Sơ đồ 2. 1 cơ cấu hoạt động của công ty CP GNVT Con Ong
Quyền hạn của các phòng ban:
Ban giám đốc: bao gồm Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc.
- Điều hành hoạt động chung .
- Chuẩn bị hàng , lấy và nhận hàng theo yêu cầu của khách hàng.
- Vận chuyển hàng hóa ra kho hoặc theo yêu cầu cua khách hàng.
- Đóng lệ phí liên quan trong quá trình làm hàng và khai báo hải quan.
Văn phòng đại diện và kho bãi:
- Văn phòng đại diện tại Hải Dương:Nhiệm vụ chính của VP đại diện tại Hải
Dương là làm thủ tục hải quan cho các lô hàng của doanh nghiệp nằm trên các khu
công nghiệp của Hải Dương và Hưng Yên. Các dịch vụ chủ yếu VP này cung cấp
là mở TK, kiểm hóa, xin giấy phép, đăng kí Hải quan điện tử cho doanh nghiệp.
Hiện tại khách hàng lớn nhất của công ty ở khu vực này là Công ty TNHH Quốc tế
Brother ViệtNam.
- Văn phòng đại diện tại Nội Bài: sẽ chịu trách nhiệm làm thủ tục xuất và
nhập khẩu các lô hàng được vận chuyển theo đường hàng không qua cảng hàng
không quốc tế Nội Bài.
- Văn phòng đại diện tại Thăng Long: cũng giống như VP tại Hải Dương,
nhiệm vụ chính của VP Thăng Long là làm thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp
đóng trên địa bàn huyện Đông Anh, bao gồm KCN Thăng Long, KCN Quang Minh.
- Văn phòng đại diện tại Thái Bình: chịu trách nhiệm làm thủ tục hải quan
cho các lô hàng của doanh nghiệp thuộc hai tỉnh Thái Bình và Nam Định. Khách
hàng lớn nhất hiện nay tại khu vực này là công ty TNHH Yazaki Hải Phòng- CN
Thái Bình.
22
- Văn phòng đại diện tại KCN Nomura-Hải Phòng: VP Nomura chiu trách
nhiệm làm thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp thuộc KCN và KCX thành phố
Hải Phòng.
- Văn phòng Cảng- Hải Phòng: VP Cảng là khâu cuối cùng thực hiện quy
trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Các nhân viên ở VP Cảng là nhân viên
hiện trường, có nhiệm vụ lấy hàng, giao hàng tại cảng sau khi nhận được tờ khai hải
92
100
Năm 2014
Số lượng
Tỷ lệ
5
5,1
75
76,5
12
12,2
6
6,1
98
100
Năm 2015
Số lượng
Tỷ lệ
5
4,7
84
80,0
12
11,5
4
3,8
105
100
70
28
98
71,4
28,6
100
Năm 2015
Số
lượng
71
34
105
Tỷ lệ
67,6
32,4
100
(Nguồn: báo cáo nhân sự /phòng kế toán)
Bảng 2.3 Cơ cấu lao động của công ty theo độ tuổi giai đoạn 2013-2014
(Đơn vị: người)
Độ tuổi
Năm 2013
Số lượng
Tỷ lệ
22-30
43
43,9
43
41,0
16
16,3
14
13,3
98
100
105
100
(Nguồn: báo cáo nhân sự /phòng kế toán)
Nhận xét: Từ các bảng số liệu theo từng tiêu chí ta thấy rõ được cơ cấu lao
động về từng mặt qua các năm 2013-2015, sự biến động tăng giảm cũng như chênh
lệch vè trình độ, độ tuổi của các nhân viên của công ty. Cụ thể:
24
Về trình độ: phần lớn nhân viên của công ty đều tốt nghiệp hệ đại học, cao
đẳng một số nhỏ là trung cấp và có 4-5 bằng cao học đảm nhiệm những vị trí quan
trọng chèo lái hoạt động của công ty. Số bằng đại học trong công ty chiếm số đông,
năm 2013
số nhân viên có trình độ đại học là 72 người chiếm 78,3% tổng số của
công ty và các năm sau công ty vẫn tiếp tục tuyển và đào tạo thêm nhiều nhân viên