Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: BIỆN PHÁP BẢO VỆ, GIỮ GÌN VÀ PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở VĨNH BẢO
Giáo viên hướng dẫn
Đơn vị
Sinh viên thực hiện
Lớp
Ngành
: TS. Lê Thanh Tùng
: Khoa quản trị kinh doanh
: Vũ Thị Hiền Chang
: 2VH10
: Việt Nam học
Hải Phòng, tháng 6 năm 2015
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
1
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
2
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................
2
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................
5
1 Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................................................
5
2 Mục đích nghiên cứu................................................................................................................
5
3 nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................................................
5
4 Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................................
6
5 Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................
6
6 Những đóng góp thực tiễn.......................................................................................................
6
7 Kết cấu đề tài............................................................................................................................
6
Chương 1 Tổng quan về làng nghề truyền thống..............................................................
7
1.1 Các khái niệm........................................................................................................................
1.5.1 Đẩy mạnh công tác bảovệ làng nghề truyền thống
.......................................................................................................................................................
14
1.5.2 Đầu tư xây dựng phát triển làng nghề
.......................................................................................................................................................
15
1.5.3 Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ phát triển làng nghề.............................................................................................
15
1.5.4 Đa dạng hóa sản phẩm
.......................................................................................................................................................
15
1.5.5 Tăng cường hoạt động quảng bá, quảng cáo cho làng nghề truyền thống
.......................................................................................................................................................
15
1.5.6 Phát triển nguồn nhân lực tại các làng nghề truyền thống
.......................................................................................................................................................
15
Chương 2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo......................
17
2.1 Thành phố Hải Phòng….......................................................................................................
17
2.1.1 Vị trí địa lý
.......................................................................................................................................................
17
2.1.2 Tài nguyên du lịch
.......................................................................................................................................................
17
2.1.3 Làng nghề truyền thống Hải Phòng
Nhân
Hòa
.......................................................................................................................................................
25
2.4 Thực trạng khai thác các làng nghề Truyền thống ở Vĩnh Bảo…...................................
27
2.4.1
Tình
hình
phát
triển
của
các
làng
nghề
.......................................................................................................................................................
27
2.4.2
Hiện
trạng
khai
thác
của
các
làng
nghề
nơi
đây
.......................................................................................................................................................
28
.......................................................................................................................................................
3.1.6 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc bảo tồn phát triển làng nghề
truyền thống................................................................................................................................
35
3.2 Kiến nghị…............................................................................................................................
37
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
5
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
3.2.1
Đối
với
thành
phố
Hải
Phòng
.......................................................................................................................................................
37
3.2.2
Đối
với
địa
phương
Vĩnh
Bảo
Tuy nhiên các làng nghề nơi đây đang đứng trước những nguy cơ như bao
làng nghề khác trên cả nước, đang dần bị mai một. Do sự đơn điệu về sản phẩm,
thiếu tính sáng tạo cũng như mẫu mã thì ít, dẫn đến khó khăn cho đầu ra của sản
phẩm. Đồng thời các làng nghề ở Vĩnh Bảo vẫn chưa khai thác được hiệu quả
trong quá trình hoạt động du lịch, đây không chỉ là thực trạng của làng nghề ở
Vĩnh Bảo mà còn cả Hải Phòng.
Chính vì vậy việc nghiên cứu làng nghề ở Vĩnh Bảo trong sự phát triển
của làng nghề sao cho phù hợp với xu thế hiện tại không chỉ khai thác về kinh tế
mà còn phục vụ cho du lịch. Trước tình hình đó ta cần có cái nhìn rõ hơn về các
làng nghề nơi đây đồng thời đưa ra các biện pháp bảo vệ, giữ gìn, phát triển làng
nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu khóa luận là:
Phân tích thực trạng khai thác và phát triền làng nghề truyền thống ở Vĩnh
Bảo. Từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ, giữ gìn, phát triển làng nghề truyền thống
để trở thành điểm du lịch hấp dẫn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan những vấn đề mà làng nghề truyền thống của Vĩnh Bảo Hải
Phòng hiện nay đã và đang gặp phải, đánh giá tài nguyên của làng nghề truyền
thống phục vụ cho hoạt động du lịch. Tiến hành đánh giá và đưa ra các biện
pháp bảo tồn, giữ gìn và phát triển làng nghề truyền thống.
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
7
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
4 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Các khái niệm
1.1.1Khái niệm làng nghề
Từ xưa do đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao
động tham gia đã khiến cho dân cư Việt cổ sống quần tụ với nhau thành từng
cụm dân cư đông đúc dần hình thành nên làng xã. Trong từng làng xã có cư dân
sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng, xã tạo nên các
làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đề tài về làng nghề
truyền thống là một đề tài rất thú vị, đã có nhiều nhà văn hóa nghiên cứu về đề
tài này.
Theo tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “ làng nghề truyền thống Việt Nam”
thì làng nghề được định nghĩa như sau: “ làng nghề là một đơn vị hành chính cổ
xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương
tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên
nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển
công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa
phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cái đặc biệt của địa
phương”.
Xét về góc độ kinh tế trong cuốn “ Bảo tồn và phát triền các làng nghề
truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa” tiến sĩ Dương Bá Phượng cho
rằng: “ Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách
hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các làng nghề
đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng.
1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống,
nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công
truyền thống
Làng nghề theo cách phân loại thời gian gồm có: làng nghề truyền thống và
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ
các nghệ nhân và các hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được
truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong quá trính sản xuất,
bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm
chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề các thành viên luôn có ý thức tuân theo các
hương ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển
và hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ.
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một số lượng
lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ công
hoặc một vài dòng họ làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối. Sản phẩm của
họ không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độc đáo, ấn
tượng, tinh xảo.
Ngày nay trong quá trình pháy triển kinh tế xã hội, làng nghề đã thật sự trở
thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng rất lớn đối với đời
sống kinh tế xã hội.
1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
10
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông
nghiệp
Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã nông thôn. Các
nghành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen vào nhau.
•
•
•
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
11
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
•
•
các nghệ nhân làm cốt lõi và là người hướng dẫn để phát triển làng nghề. Vai trò
của các nghệ nhân là rất quan trọng đối với các làng nghề, truyền nghề, đem bí
quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng nghề của mình.
Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật
cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền.
Mỗi sản phẩm của làng nghề đều gắn với một làng nghề cụ thể, do đó nó
mang đậm nét độc đáo của địa phương. Sự khéo léo của đôi bàn tay, cùng với óc
thẩm mỹ của người nghệ nhân đã tạo ta các sản phẩm độc đáo. Vì vậy mỗi một
sản phẩm làm ra không chỉ chứa đựng biết bao công sức taì hoa của nghệ nhân
mà còn mang trong mình những nét bản sắc đặc trưng không thể thay đổi của
địa phương.
Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu ở quy mô
•
•
•
Cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực Việt Nam cũng có nhiều
ngành nghề truyền thống: gốm sứ, mộc, nề, mây tre đan…. Những ngành nghề
này được phát triển ở nhiều vùng nông thôn việt Nam. Trong những giai đoạn
lịch sử khác nhau, lúc thăng, lúc trầm, do tác động tổng hợp của các yếu tố, kinh
tế, xã hội, tự nhiên, mà làng nghề Việt Nam có nhiều thay đổi qua các giai đoạn.
Trước thời kỳ pháp thuộc: dân số nước ta sống chủ yếu bằng sản xuất nông
nghiệp, sống trong các vùng nông thôn là chủ yếu, các làng nghề ổn định pháy
triển nghề truyền thống cung cấp cho các nhu cầu hàng ngày của mình. Trong
giai đoạn này phường nghề do nhiều hộ gia đình nắm giữ và phát triển.
Giai đoạn 1939- 1945: ở giai đoạn này các làng nghề phát triển hơn trước, do
các chính sách vơ vét của chế độ thực dân pháp nhằm phục vụ cho chiến tranh .
Giai đoạn 1945 – 1954: thời kỳ này chiến tranh diễn ra ác liệt, một số làng nghề
nằm trong vùng chiến sự không thể phát triển được, số khác thì phát triển để
phục vụ cho nhu cầu của chiến tranh, hình thức hộ gia đình là chủ yếu.
Giai đoạn 1954 -1975: miền Bắc giành được tự do, hòa bình, các chính sách của
nhà nước đã tác động lên các làng nghề, công cuộc hợp tác hóa. Như vậy trong
các hợp tác xã người thọ có tay nghề cũng như người chưa có tay nghề được đối
sử như nhau về kinh tế, sự bình quân chủ nghĩa không kích thích được sự sáng
tạo, lòng hăng say của người lao động nói chung cũng như người thợ trong các
làng nghề truyền thống.
Miền Nam thì các làng nghề truyền thống, thủ công nghiệp phát triển mạnh
mẽ với nhiều hình thức tổ chức, hộ sản xuất, kinh doanh tư bản phát triển mạnh
Từ 1975 – 1986 ; Đất nước thống nhất, Đảng và Nhà Nước chủ trương áp dụng
các chính sách kinh tế tập chung trong cả nước, xóa bỏ kinh tế quốc doanh, tập
thống nói chung theo hướng tích cực và bền vững. Ngược lại làng nghề truyền
thống cũng là trung tâm thu hút khách du lịch và có tác động mạnh mẽ tới khách
du lịch trong mục tiêu phát triển chung.
Làng nghề truyền thống là một không gian văn hóa – kinh tế - xã hội lâu
đời, nó bảo lưu tinh hoa văn hóa từ đời này sang đời khác, đúc kết từ các nghệ
nhân tài hoa. Môi trường văn hóa làng quê với cây đa bến nước sân đình, các
hoạt động lễ hội và phường hội, phong tục tập quán nếp sống đậm nét văn hóa
truyền thống. Tất cả những điều đó luôn luôn gắn kết với sự hình thành và phát
triển của làng nghề truyền thống. Và tạo ra những nét văn hóa riêng của mỗi
làng nghề.
Phong cảnh làng nghề cũng có những giá trị bên trong làng nghề truyền
thống sẽ là điểm du lịch lý tưởng cho các du khách, đặc biệt là khách quốc tế
đến tham quan, tìm hiểu và mua sắm cá sản phẩm tại làng nghề.
Làng nghề truyền thống còn là nơi sản xuất ra các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ có giá tị nghệ thuật cao, tiêu biểu độc đáo cho mỗi vùng miền, địa phương.
Vì vậy du khách đến với các điểm du lịch làng nghề truyền thống còn mong
muốn được chiêm ngưỡng, mua sắm. Thực tế là nhu cầu mua sắm của du khách
là rất lớn, làng nghề truyền thống sẽ đảm bảo cung ứng đầy đủ nhu cầu đa dạng
tinh tế của khách du lịch.
Nước ta có hàng nghìn, hàng vạn làng nghề thủ công truyền thống thuộc
các nhóm ngành nghề như: mây tre đan, thêu ren, đức đồng…. Sự đa dạng của
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
14
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
•
nhứng dấu vết quan trọng để chứng minh cho sự tồn tại, phát triển và hưng thịnh
làng nghề, đánh dấu lịch sử hình thành của làng nghề đó.
Xây dựng bảo tàng làng nghề: Đây là một hình thức bảo vệ các giá trị văn hóa
làng nghề rất tốt, vừa lưu giữ các giá trị văn hóa, thủ pháp nghệ thuật, nét tinh
hoa của làng nghề, vừa có thể trưng bày các hiện vật của các làng nghề để giới
thiệu với người xem, khách du lịch những sản phẩm đặc sắc của làng nghề.
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
15
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
•
•
•
•
•
•
•
•
Xây dựng phòng trưng bày sản phẩm thủ công tiêu biểu của làng nghề, vừa
trưng bày các sản phẩm thủ công truyền thống vừa bán các sản phẩm kèm theo
các tập ảnh các sách giới thiệu những hình ảnh về làng nghề truyền thống.
đổi mới các sản phẩm, đa dạng các mặt hàng, đa dạng mẫu kiểu dáng mà để
1.5.3
1.5.4
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
16
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
•
•
•
•
•
•
người mua cũng như du khách có sự lựa chọn đa dạng không bị nhàm chán,
không bị lặp lại, có tính sáng tạo và chuyên môn hóa cao.
1.5.5Tăng cường hoạt động quảng bá quảng cáo cho làng nghề truyền thống.
Hoạt động quảng bá, quảng cáo góp phần lớn vào việc giới thiệu các sản
phẩm làng nghề thu hút khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên việc quảng bá
còn gặp nhiều hạn chế cần có giải pháp khắc phục:
Xây dựng chiến lược sản phẩm: Tăng cường phát triển các sản phẩm mang đậm
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở VĨNH BẢO
2.1 Thành phố Hải Phòng
2.1.1 Vị trí địa lý
Hải Phòng nằm ở cửa ngõ phía đông trên lưu vực đồng bằng sông Hồng.
Phia Bắc giáp với Quảng Ninh, phía tây giáp với Hải Dương, phía nam giáp với
tỉnh Thái Bình, phía đông giáp với Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông – cách huyện
đảo Bạch Long Vĩ 70km, Cách Thủ đô Hà Nội 102km về phá Đông Bắc.
Thành phố có đường bờ biền dài 125km với 5 cửa sông lớn của sông Hồng
đổ ra biển: Bạch Đằng, Văn Úc, Cấm, Thái Bình, Lạch Tray.
Phía đông thành phố có quần đảo Cát Bà với khỏang 360 hòn đảo lớn nhỏ
khác nhau, trong đó lớn nhất là đảo Cát Bà.
Có các đơn vị hành chính: Thành phố Hải Phòng gồm có 7 Quận và 8
huyện
Các Quận: Quện Dương Kinh, quận Đồ Sơn, quận Hải An, quận Kiến An,
quận Hồng Bàng, quận Ngô Quyền, quận Lê Chân.
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
18
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Các Huyện: Huyện An Dương, huyện An Lão, huyện đảo Bạch Long Vĩ,
huyện Cát Hải, huyện Kiến Thụy, huyên Tiên Lãng, huyện Vĩnh Bảo, huyện
Thủy Nguyên.
2.1.2 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch Hải Phòng rất đa dạng và phong phú bao gồm cả tài
19
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Vườn quốc gia Cát Bà nằm trên đảo Cát Bà có diện tích quy hoạch bảo vệ
15.200ha rừng và 5.400ha biển, địa hình đa dạng chủ yếu là núi đá vôi. Nơi đây
có 139 bãi biển mini, 745 loài thực vật bậc cao, có Voọc đầu trắng được ghi
trong sách đỏ thế giới. Nơi đây thực sự trở thành hòn Đảo ngọc của thành phố và
là tiềm năng lớn cho khai thác hoạt động du lịch.
Tài nguyên nhân văn :
Là một vùng đất lịch sử được hình thành từ rất sớm, vì vậy thành phố Hải
Phòng còn bảo ồn được nhiều di sản Văn hóa Dân tộc, các di tịch lịch sử, các lễ
hội truyền thống, phong tục tập quán, cách thức sinh hoạt, loại hình nghệ thuật
dân gian, công trình kiến trúc mang đậm nét truyền thống như : đền Nghè, đình
Tràng Kênh, Kinh đô triều Mạc, nhà hát lớn, quán hoa, khu di tích trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ca Trù – Đông Môn, Chọi Trâu – Đồ Sơn, Đua Thuyền –
Cát Bà. Các làng nghề truyền thống : Đúc Đồng, Cau, Hoa, Dệt Chiếu, Rối nước
– Rối Cạn.…
Đền Nghè
Đền nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng, cách nhà hát lớn chừng 600m
về phía Tây Nam. Đền thờ nữ tướng Lên Chân, một tướng tài dưới chướng Hai
Bà Trưng (40 - 43) người lập ra làng An Biên, tiền thân của thành phố Hải
Phòng. Lúc đầu nơi đây chỉ là căn miếu nhỏ, sau tu sửa có hậu cung, tòa tiền
bái, ngựa đá, sập đá… như bây giờ.
Quán hoa
Quán hoa được xây dựng vào cuối năm 1944 dùng để bán hoa. Đây là một
dãy gồm năm quán nhỏ xinh xinh, ngói cong mái vẩy với bốn cột tròn, mang
cói Lật Dương… Đặc biệt với đề tài này, xoay quanh các làng nghề truyền thống
ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Tất cả đã tạo cho Hải Phòng những sắc thái để trở thành khu du lịch nổi
tiếng trong tương lai, đặc biệt sự đóng góp của các làng nghề truyền thống, trong
hoạt động du lịch cũng như vai trò của làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo.
2.2 Khái quát về huyện Vĩnh Bảo
Vĩnh Bảo là một huyện của thành phố Hải Phòng, thuộc vùng ngoại thành
của thành phố Hải Phòng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình, Tỉnh Hải Dương, giữ
trò quan trọng trong nền kinh tế, bên cạnh việc đó, vai trò gìn giữ những nét
truyền thống, văn hóa cũng như các làng nghề truyền thống nơi đây.
Vĩnh Bảo là vùng đất thuần nông nghiệp, với diện tích tự nhiên 181km 2,
người dân trong huyện chủ yếu là canh tác đất nông nghiêp, trồng lúa, trồng rau
bên cạnh đó còn làm các nghề thủ công. Các nghề thủ công nơi đây khá nổi
tiếng như : dệt vải, dệt thảm, chiếu cói, mây tre đan, tạc tượng, sơn mài, điêu
khắc gỗ, thêu mỹ nghệ, làm thuốc lào….
Là vùng đất có rất nhiều tiềm năng du lịch, các khu di tích lịch sử văn
hóa: Đình Nhân Mục, Miếu Bảo Hà, Khu di tích trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm, chùa Đồng Quan, các làng nghề truyền thống: làng tạc tượng Bảo Hà,
làm con giống Nhân Hòa….
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
21
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Đình Nhân Mục ở xã Nhân Hòa, Vĩnh Bảo cách trung tâm thành phố
40km về phía Nam. Đình nơi thờ thành hoàng Quí Minh Đại Vương. Đình Nhân
Mục không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là nơi lưu giữ kiến trúc nghệ thuật
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
22
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Những câu chuyện vẫn còn trong mạch văn hóa của Bảo Hà, truyền lại
qua các thế hệ, qua các lời kể của bà và của mẹ. Chuyện kể rằng khoảng thế kỷ
thứ XV, cậu bé Nguyễn Công Huệ ngay từ nhỏ có biệt tài tạo nên các con giống
ngộ nghĩnh từ các vật có sẵn trong làng, từ những gốc tre xù xì gai góc, cậu đẽo
hình rồng phượng, hay từ củ chuối, gốc sắn, sơ mướp, gáo dừa…. cậu uốn gọt
thành ông Phật, ông Bụt, tài hoa của ông được truyền đi khắp chốn cùng quê.
Lịch sử có ghi lại khi nhà Minh đưa quân sang đánh chiếm nước ta, chúng
thắng trận vơ vét rất nhiều của cải quý trong đó có An Nam Tứ đại khí, chúng
đã cho nung chảy để làm đạn, chúng bắt người vơ vét tài sản của cải của nước ta
về phục dịch cho chúng, chúng còn đưa các thợ giỏi về Trung Hoa xa xôi xây
dựng đền đài lăng tẩm trong đó có ông Nguyễn Công Huệ người tạc tượng giỏi
trong làng cũng bị chúng đưa sang sứ, phục dịch cho nhà Minh. Trong thời gian
khổ sai khoảng 10 năm đó ông đã học được rất nhiều từ các người thợ của mình.
Sau khi về nước, ông được trở về nước, trở về làng, ông đã khôi phuc làng nghề,
làng nghề tạc tượng Linh động được phục hồi và phát triển, nghề mà ông đã học
được 4 loại nghề: điêu khắc, sơn mài, dệt vải và ngải cứu (châm cứu bằng lá
ngải cứu).
Tiếp thu duy trì và phát huy tinh hoa mà ông Tổ nghề Nguyễn Công Huệ
để lại, hậu duệ của ông cũng chẳng phụ công thầy, các nghệ nhân như Tô Phú
Vượng, Hoàng Đình Ức,… đã phát triển nghề, biến Linh động trở thành một
làng nghề nổi tiếng khắp vùng. Sự nổi tiếng đó đó thể hiện qua sắc phong cho
người thợ Tô Phú Vượng “ sắc phong danh hiệu Hoàng tín đại phu kỳ tài hầu”
cách nghệ thuật riêng, độc đáo, uy tín, chiếm được cảm tình của nhiều vùng
trong cả nước
Nơi đây cũng là khởi nguồn cho nghệ thuật múa rối cả làng chơi rối, thích
rối. Rối Bảo Hà tồn tại được bảy đời, đặc sắc với những vở kịch mùa theo tích
xưa như Thạch Sanh – Lý Thông, Trương Viên, Đôi ngọc lưu ly….
Ngoài rối cạn ở Bảo Hà, rối nước Nhân Hòa Cũng là nét độc đáo của
Vĩnh Bảo. Một phường rối nước ở Nhân Hòa có thâm niên từ năm 1921 rất nổi
tiếng. Năm 1922 lần đầu tiên xuất ngoại đi biểu diễn ở Mỹ đã gây được tiếngỗ
vang lớn trong công chúng bởi trình độ nghệ thuật biểu diễn suất sắc. Múa rối
nước Nhân Hòa là loại hình sân khấu kết hợp với thiên nhiên lửa pháo…. Sân
khấu truyền thống là ao cá mè thuộc khu di tích cựu điện cạnh ngôi chùa cổ.
Con rối nước được làm bằng gỗ sung nhẹ, xốp dẻo, chắc, rối không mặc quần áo
mà dùng sơn then phủ lên. Kịch mục rối nước Nhân Hòa có trên 20 trò với các
tích dân gian đậm nét văn hóa đồng bằng châu thổ như Tễu, Chăn trâu thổi sáo,
câu cá , trọi trâu, bắt cáo, gặt lúa, chèo thuyền, hội làng….. ngoài ra còn một số
kịch hát theo truyền thuyết rất phong phú.
Để tạo ra được những bức tượng như vậy, thì cần phải có những nguyên
liệu sau:
Nguyên liệu sản xuất;
Gỗ: Gỗ được chọn là gỗ khô, chắc bền, không mối mọt, gỗ có vân thớ
đẹp, bóng mịn, lốc mạch nhỏ, gỗ không bở xốp, ít bị nất tách cong vênh. Tùy
vào sản phẩm mà chọn gỗ cho phù hợp. Sản phẩm cần chắc dài, không mất màu
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
24
Đề tài: Biện pháp bảo vệ, giữ gìn, và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Bảo
Đục doãng ( đục doãng thường và đục doãng to)
Đục vụm ( đục vụm thường và đục vụm trái)
Đục tách
Sinh viên: Vũ Thị Hiền Chang
Lớp 2vh10
25