Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự dạy dỗ tận tình
của các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và các thầy cô trong Học viện đã
dìu dắt, dạy bảo em trong suốt thời gian em học tập tại Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
Em đặc biệt cảm ơn cô giáo Thạc sĩ Ngô Thị Thu Hà đã tận tình, chu
đáo hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo, nhân viên Sở Công
Thương tỉnh Bắc Ninh, cục Thống Kê tỉnh Bắc Ninh, Ủy Ban nhân dân tỉnh
Bắc Ninh, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong việc thu thập những tài liệu cần
thiết để hoàn thành khóa luận này.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kinh nghiệm của bản thân có giới
hạn, nên khóa luận không tránh khỏi những khuyết điểm nhất định. Em rất
mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp của các thầy cô để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Người thực hiện
Vũ Thị Thu Thảo
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 13
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 13
KINH TẾ QUỐC TẾ 13
1.1 LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 13
1.1.1. Quan niệm làng nghề truyền thống 13
1.1.1.1 Quan niệm làng nghề 13
1.1.1.2. Quan niệm làng nghề truyền thống 14
2.2.3. Thực trạng về hình thức tổ chức sản xuất và nguồn vốn tại các làng ghề 51
2.2.4. Thực trạng về lao động 53
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA
TỈNH BẮC NINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 54
2.3.1. Những kết quả đạt được 54
2.3.2. Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3 66
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH BẮC NINH 66
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH
BẮC NINH 66
3.1.1. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh 66
3.1.2. Phát triển làng nghề truyền thống phải phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế 68
3.1.3. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với việc giải quyết việc làm cho người
lao động và thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo quan điểm "Ly nông bất ly
hương" 69
3.1.4. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường 70
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG Ở TỈNH BẮC NINH 71
3.2.1. Mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề
truyền thống 71
3.2.2. Tăng cường hỗ trợ đầu tư - tín dụng cho các làng nghề truyền thống 74
3.2.3. Tiến hành quy hoạch phát triển làng nghề truyền thống 76
3.2.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp các hình thức kinh tế trong làng nghề truyền thống
78
3.2.5. Đổi mới, nâng cấp công nghệ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng
XTTM Xúc tiến thương mại
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1 13
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 13
KINH TẾ QUỐC TẾ 13
1.1 LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 13
1.1.1. Quan niệm làng nghề truyền thống 13
1.1.1.1 Quan niệm làng nghề 13
1.1.1.2. Quan niệm làng nghề truyền thống 14
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống 16
1.1.2.1. Gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp và nông thôn 16
1.1.2.2. Chủ yếu sử dụng lao động phổ thông và theo mô hình tổ chức sản xuất kinh
doanh đơn giản 17
1.1.2.3. Sử dụng công nghệ thủ công và tận dụng cơ sở hạ tầng tại chỗ 17
1.1.2.4. Sản phẩm thường mang tính đơn chiếc và khả năng tiếp cận thị trường rất
hạn chế 18
1.2. PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 19
1.2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế 19
1.2.2. Vai trò của phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế 20
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế 24
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở MỘT SỐ
TỈNH CỦA VIỆT NAM 29
1.3.1. Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định 29
1.3.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 31
quốc tế 68
3.1.3. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với việc giải quyết việc làm cho người
lao động và thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo quan điểm "Ly nông bất ly
hương" 69
3.1.4. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường 70
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG Ở TỈNH BẮC NINH 71
3.2.1. Mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề
truyền thống 71
3.2.2. Tăng cường hỗ trợ đầu tư - tín dụng cho các làng nghề truyền thống 74
3.2.3. Tiến hành quy hoạch phát triển làng nghề truyền thống 76
3.2.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp các hình thức kinh tế trong làng nghề truyền thống
78
3.2.5. Đổi mới, nâng cấp công nghệ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng
nghề truyền thống một cách tích cực và có hiệu quả 81
3.2.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 82
3.3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 83
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
6
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh
được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Cùng
với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều làng nghề thủ công
đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc
phụ, tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tạo những vật dụng cần thiết
trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm
thu nhập ngoài nghề nông. Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề truyền
thống là một quá trình tích luỹ kinh nghiệm lâu đời của những người thợ,
nguyên liệu đầu vào, giá cả thị trường không ổn định… Đặc
biệt, khi bước vào giai đoạn mở cửa, hội nhập, nếu không có
giải pháp để bảo tồn, phát triển làng nghề thì rất khó để cạnh
tranh với những ngành nghề mới có công nghệ, khoa học kỹ
thuật hiện đại, kiểu dáng mẫu mã đa dạng, chất lượng cao,
giá thành hạ… Vì vậy, làm thế nào để làng nghề truyền thống
phát huy được mặt mạnh, tận dụng được cơ hội mà hội nhập
KTQT mang lại, đồng thời khắc phục được tồn tại, vượt qua thách
thức, phát triển nhanh và bền vững trở thành một động lực
mạnh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc
Ninh - một "vùng đất địa linh nhân kiệt" được mệnh danh là
vùng đất khoa bảng với " Một giỏ ông Đồ - Một bồ ông Cống -
Một đống ông Nghè - Một bè Tiến sỹ - Một bị Trạng nguyên -
Một thuyền Bảng nhãn”, và cũng là nơi hội tụ những nét tinh
hoa của nghề, làng nghề truyền thống thì việc bảo tồn và
phát triển làng nghề càng cần phải được coi trọng và thực sự
là vấn đề rất cấp bách hiện nay. Chính vì vậy em đã chọn vấn đề: "Phát
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
8
Khoá luận tốt nghiệp
triển làng nghề truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề phát triển làng nghề truyền thống đã có nhiều công
trình nghiên cứu với mức độ và phạm vi khác nhau.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Thế Hởn với đề tài " Phát triển làng
nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH vùng ven thủ đô", năm 2000 đã
khẳng định để các làng nghề có điều kiện phát triển bền vững, vấn đề quan
trọng nhất là phải mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, có như vậy mới góp
phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Luận án tiến sĩ “Quá trình hoàn thiện các chính sách thúc đẩy phát
triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997-2003: Thực trạng, kinh
nghiệm và giải pháp” năm 2008 của tác giả Nguyễn Như Chung – Đại học
kinh tế quốc dân. Nội dung của Luận án này xoay quanh các vấn đề liên quan
đến chính sách đối với sự phát triển các làng nghề trong quá trình CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn, phát triển kinh tế thị trường, đồng thời phân tích tác
động của các chính sách đến sự phát triển các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên
ngành, các bài tham luận tại các hội thảo quốc tế và trong nước, đề cập đến sự
phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống.
Tổng quan nghiên cứu cho thấy, cho đến nay đã có không ít các công
trình khoa học ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu và đề xuất các giải pháp
phát triển các làng nghề, song các công trình này mới chỉ dừng lại ở một số
khía cạnh như: bảo tồn và phát triển các làng nghề ở Việt Nam, quy hoạch
phát triển làng nghề, xử lý vấn đề môi trường trong phát triển làng nghề ở
Việt nam hoặc một số khu vực trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH
đất nước. Không ít các chính sách, giải pháp đã được đề xuất song đến nay đã
không còn phù hợp, không bắt nhịp được với những yêu cầu phát triển nhanh,
bền vững của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
10
Khoá luận tốt nghiệp
nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, hiện chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn bộ về phát triển làng nghề truyền thống ở
tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hội nhập KTQT dưới góc độ kinh tế chính trị
một cách cụ thể và thấu đáo. Chính vì vậy, việc phân tích thực trạng để chỉ ra
những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong phát triển làng nghề ở
tỉnh Bắc Ninh thời gian qua, nhận diện những khó khăn còn tồn tại, để từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tiềm năng lợi thế sẵn có của địa
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các làng nghề truyền thống ở tỉnh
Bắc Ninh và sự phát triển các làng nghề truyền thống này trong điều kiện hội
nhập KTQT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Do phạm vi nghiên cứu của đề tài này khá rộng, mà thời gian nghiên
cứu có hạn, nên các phân tích trong khoá luận chỉ tập trung vào các làng nghề
tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề từ năm 2000 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu của khóa luận
Khoá luận tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị làm
sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
Ngoài ra, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu tác giả còn sử dụng các
phương pháp khoa học như: điều tra, khảo sát, so sánh, phân tích tổng hợp,
thống kê, lôgíc… để phân tích luận giải các nội dung của khóa luận.
6. Đóng góp của khóa luận
- Làm rõ thêm phạm trù làng nghề truyền thống, phân tích vị trí, vai trò
của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế và hội nhập KTQT.
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh trong quá
trình hội nhập KTQT, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
12
Khoá luận tốt nghiệp
nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy tiềm năng lợi thế của
địa phương để phát triển các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh cho phù hợp với điều
kiện hội nhập KTQT.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nghề khác nhau, có những người làm nghề buôn bán, có những người chế tác
công cụ lao động, sản xuất đồ mộc, đan lát đồ dùng, nuôi tằm, dệt vải… tức là
chuyển sang sản xuất thủ công. Trong thời kỳ đầu, nghề thủ công ở quy mô
gia đình và phụ thuộc vào kinh tế tự nhiên giống như mô tả của Lênin: "ở đây,
nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi" [10, tr.411-412]. Cùng với
sự phát triển của lực lượng sản xuất, nghề thủ công từ một nghề phụ trong
nông nghiệp chuyển thành một nghề độc lập. Tuy họ không làm nông nghiệp
nhưng vẫn gắn chặt với làng quê. Có những thợ thủ công chuyên làm TTCN
và sống bằng nghề đó, nhưng cũng có những người làm nông nghiệp kiêm thợ
thủ công. Càng về sau số người trong làng chuyển hẳn sang sản xuất mặt hàng
thủ công tăng lên dần, có đội ngũ thợ, có quy trình công nghệ và mở rộng đến
mức độ nhất định thì làng đó được gọi là làng nghề.
Đến nay, theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công
nhận là làng nghề phải đạt 3 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước
1.1.1.2. Quan niệm làng nghề truyền thống
Quan niệm về làng nghề truyền thống phải thể hiện được cả mặt định
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
14
Khoá luận tốt nghiệp
tính và định lượng. Xét về mặt định tính, làng nghề phải thể hiện được sự
khác biệt so với làng thuần nông hoặc so với phố nghề ở thành thị. Xét về mặt
định lượng, làng nghề phải đạt đến quy mô nhất định và có tính ổn định tương
đối cao.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tiêu chí để làng nghề
trở thành làng nghề truyền thống là:
tích chất thông dụng, rất phù hợp với một nền kinh tế tự cấp tự túc.
•Làng nghề làm nghề có kỹ thuật phức tạp như các nghề: kim hoàn, đúc
đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa, thêu thùa… Các nghề này không chỉ có kỹ
thuật phức tạp, mà đòi hỏi sự khéo léo. Sản phẩm vừa có giá trị kinh tế cao,
vừa có giá trị nghệ thuật cao.
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống
1.1.2.1. Gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp và nông thôn
Một nền kinh tế với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu đã tạo điều kiện
cho các làng nghề thủ công nảy sinh và phát triển. Do thời gian dành cho sản
xuất nông nghiệp không nhiều, thời gian lao động ít, năng suất lao động thấp
đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có
thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết, cộng với việc
dư thừa lao động trong nông nghiệp đã thúc đẩy các nghề thủ công hình thành
và phát triển. Tuy những nghề này chỉ mang tính chất nghề phụ của người
nông dân, nhưng do được chuyên môn hoá theo sự phân công nhất định nên
năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng tăng lên.
Sự phát triển của các làng nghề đã đáp ứng hầu hết các nhu cầu cơ bản
và thiết yếu của người dân nông thôn, có tác động tích cực đến sản xuất nông
nghiệp, phục vụ sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của nông dân. Vì
vậy, giữa nghề nông và nghề thủ công nghiệp có mối quan hệ gắn bó, bổ sung
cho nhau: Làng nghề sản xuất và cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp,
góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, còn nông nghiệp
là nơi cung cấp nguyên liệu cho làng nghề. Vì vậy, sự phát triển các làng nghề
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
16
Khoá luận tốt nghiệp
tạo nên kết cấu kinh tế đa dạng, bền vững của kinh tế nông thôn.
1.1.2.2. Chủ yếu sử dụng lao động phổ thông và theo mô hình tổ chức
sản xuất kinh doanh đơn giản
Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất của làng nghề đang có
chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng
nghề nông thôn còn lạc hậu, mang tính cổ truyền, chưa được chọn lọc và đầu
tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa
đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh.
Cơ sở hạ tầng cho sản xuất của làng nghề còn hạn chế. Tình trạng phổ
biến nhất hiện nay là việc sử dụng luôn nhà ở làm nơi sản xuất. Các bãi tập
kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gần khu dân cư, tạm bợ, không
đúng tiêu chuẩn môi trường.
1.1.2.4. Sản phẩm thường mang tính đơn chiếc và khả năng tiếp cận
thị trường rất hạn chế
Sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra hầu hết vẫn mang tính đơn chiếc
bởi công nghệ cũ nên việc tạo ra các sản phẩm mang tính đa dạng là không
đơn giản. Đó cũng là lý do tại sao trong điều kiện hội nhập KTQT như hiện
nay, các sản phẩm của các làng nghề lại khó đứng vững và phát triển như vậy.
Cũng như bất cứ sản phẩm nào được sản xuất ra, thị trường luôn có ý
nghĩa quyết định cho sự tồn tại và phát triển làng nghề. Song với đặc điểm là
mang tính địa phương, thị trường của các sản phẩm này không chỉ dừng lại ở
thị trường tiêu thụ sản phẩm mà nó còn bao gồm:
- Thị trường cung ứng nguyên vật liệu: Trước đây thị trường nguyên vật
liệu chủ yếu là mua bán tại chỗ, song hiện nay đã xuất hiện các tổ chức và cá
nhân chuyên làm các dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu cho các hộ và các cơ
sở chuyên làm nghề theo những hợp đồng
- Thị trường vốn: Trước kia, nguồn vốn cho sản xuất tại các làng nghề
chủ yếu là vốn tự có của các hộ gia đình hoặc vay mượn bạn bè, người thân.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các làng nghề truyền thống, nhu cầu
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
18
Khoá luận tốt nghiệp
vốn cho sản xuất tại các làng nghề ngày một tăng nên nhu cầu vốn tín dụng
cũng tăng theo. Tuy nhiên, vốn tín dụng cho làng nghề vẫn chiếm tỷ trọng
tế, tài chính khu vực và thế giới, nhất là tự do thương mại hàng hoá và mở
cửa thương mại, là sự gia tăng các luồng giao lưu quốc tế vốn, đầu tư, tài
chính, công nghệ… thông qua đó thiết lập các mối quan hệ thương mại,
đầu tư, khoa học công nghệ… với các nước trên thế giới. Hội nhập KTQT
là một quá trình đa diện, đa chiều trong đó quan trọng nhất là tự do hoá
thương mại quốc tế về hàng hoá, dịch vụ và sự dịch chuyển các nguồn lực
trong phạm vi quốc tế. Hội nhập KTQT diễn ra ở cả tầm khu vực và quốc
tế, trên mối quan hệ cả song phương và đa phương.
Hội nhập KTQT tác động lên hầu khắp các lĩnh vực, khu vực của nền
kinh tế, trong đó có cả các làng nghề truyền thống. Bên cạnh những tác động
tích cực như: phát huy tính năng động hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn
lực, sức ép cạnh tranh thúc đẩy các làng nghề cải tiến công nghệ, đổi mới
phương thức quản lý, chính sách mở cửa, hội nhập KTQT tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi và bình đẳng hơn cho các làng nghề phát triển thì hội
nhập KTQT cũng có những tác động tiêu cực như: các làng nghề chịu sức ép
cạnh tranh khốc liệt và có nguy cơ bị phá sản; phải đối mặt với các vấn đề
tranh chấp thương mại quốc tế…
1.2.2. Vai trò của phát triển làng nghề truyền thống trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế
Một là: Tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, đối với những nền kinh tế có
mức thất nghiệp cao, tự do hoá thương mại đang đẩy nguồn nhân lực ở khu
vực năng suất thấp vào tình trạng thất nghiệp. Việt Nam là nước đông dân với
gần 90 triệu người và có tốc độ tăng lao động tương đối cao. Thực tế cho
thấy, hiện nay, lao động nông nghiệp chiếm trên 50% lao động toàn xã hội,
trong khi diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, thời gian lao động dư thừa
trong nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng nên tình trạng thất nghiệp ngày
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
20
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong các
làng nghề có thể tự chế tạo được. Bên cạnh đó, do sản xuất trong các làng
nghề chủ yếu là quy mô nhỏ, yêu cầu về vốn và lao động không lớn nên rất
phù hợp với khả năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các hộ gia đình vào
sản xuất kinh doanh.
Các làng nghề truyền thống tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với
giá thành rẻ tại địa phương vốn là các tài nguyên do thiên nhiên ban tặng cho
địa phương như: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới
(lúa gạo, hoa quả, ngô, khoai, sắn…) Không những thế, các làng nghề còn
có khả năng tiết kiệm chi phí xây dựng cơ bản vì không phải đầu tư nhiều vào
xây dựng nhà xưởng, kho tàng… Việc sử dụng ngay diện tích nhà ở, sân
vườn, bếp làm nơi sản xuất, quản lý, nhà kho đã tiết kiệm được khá lớn vốn
đầu tư cơ bản là một lợi thế của các làng nghề.
Phát triển làng nghề truyền thống không chỉ khơi dậy tiềm năng về
nguồn vốn mà còn khơi dậy mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý,
tay nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh… được tích luỹ qua
nhiều đời của dân cư.
Ba là: Phát triển làng nghề truyền thống sẽ thúc đẩy phát triển kết cấu
hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
Kết cấu hạ tầng nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh
tế - xã hội nông thôn, là một trong những điều kiện để khai thác các nguồn lực
và lợi thế của từng vùng, là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển sản xuất
hàng hoá, mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các vùng, nâng cao mức
sống vật chất và tinh thần của dân cư, góp phần giảm sự cách biệt giữa thành
thị và nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá.
Khi phát triển làng nghề truyền thống, nó sẽ tạo điều kiện cho phát triển
hệ thống giao thông và kết cấu hạ tầng. Đầu tiên, làng nghề được hình thành ở
những vùng có giao thông thuận lợi, đồng thời, làng nghề phát triển sẽ làm
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
23
Khoá luận tốt nghiệp
Năm là: Tạo ra khối lượng hàng hóa đa dạng, phong phú phục vụ cho
tiêu dùng và xuất khẩu
Mỗi một làng nghề truyền thống lại có những sản phẩm khác nhau, mang
tính đặc trưng riêng của mình, các làng nghề tạo ra khối lượng sản phẩm
phong phú về số lượng và đảm bảo về chất lượng, như gốm sứ có: Phù Lãng,
Bát Tràng, hay gỗ Đồng Kỵ…, mây tre đan Xuân Lai….
Các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ kinh tế hội nhập.
Những thay đổi này vừa mang lại những điểm tích cực cho các làng nghề, vừa
tạo ra thách thức trong quá trình phát triển. Mở cửa, hội nhập, các làng nghề
có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài. Đó là những
mặt hàng xuất khẩu mạnh của nước ta trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có
xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước, như thủ công mỹ nghệ,
thêu ren, gốm sứ… Theo thống kê, hiện hàng hoá của các làng nghề nước ta
đã có mặt ở trên 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng
tăng. Nếu như năm 2004, kim ngạch xuất khẩu mới đạt 450 triệu đô la Mỹ, thì
năm 2008 đã tăng lên hơn 776 triệu. Nếu tính cả các sản phẩm đồ gỗ xuất
khẩu thì tổng kim ngạch đạt trên 2,4 tỷ đô la Mỹ.
Tóm lại: Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay phát triển các
làng nghề còn có ý nghĩa quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp,
nông thôn, tạo việc làm, hạn chế di dân tự do, tăng thu nhập cho người dân,
giảm các tệ nạn xã hội một cách đáng kể. Ngoài ra, phát triển làng nghề còn
tạo thêm điều kiện để xây dựng kết cấu hạ tầng, văn hoá, y tế, giáo dục, nâng
cao đời sống cư dân nông thôn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển làng nghề truyền
thống trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Một là: Nguồn lực của từng địa phương
Nguồn nhân lực: Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
chủ động trong việc lựa chọn nguyên liệu, cơ cấu sản phẩm, bảo đảm tăng
SV: Vũ Thị Thu Thảo Ngành: Kinh tế
25