Phát triển làng nghệ truyền thống ở huyện Chương Mỹ - Hà Tây - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Con đờng chính trị của bất cứ một quốc gia nào cũng dẫn tới mục tiêu cuối cùng là
làm cho đất nớc mình giầu mạnh về kinh tế, xã hội thực sự công bằng và con ngời
sống văn minh. F.Anghen đã nói Trớc khi con ngời ta nghĩ tới làm chính trị, văn
hoá thì tr ớc hết họ phải ăn, phải mặc, ở. Tục ngữ Việt Nam có câu Có thực mới
vực đợc đạo. Một quốc gia cũng vậy muốn đạt đợc các mục tiêu đặt ra, trớc hết nhà
cầm quyền phải tìm phơng sách làm cho nhân dân no đủ, tức là xây dựng một nền
kinh tế vững mạnh.
Thức tế cho thấy không ít quốc gia có nền kinh tế phát triển song đó chỉ là tạm thời,
một ví dụ là Thái Lan: Trớc đây nến kinh tế của Thái Lan khá phát triển nhng sự phát
triển này là do những tác nhân bên ngoài, cụ thể nguồn vốn chủ yếu để thúc đẩy sự
phát triển đó là vốn đầu t nớc ngoài, mà không phải là chính sức lực của nhân dân
của quốc gia đó. Những nớc này cũng chỉ chú trọng phát triển những ngành sản xuất
mũi nhón, những sản phẩm có khả năng xuất khẩu mạnh nhằm mục đích thu tiền
ngoại tệ mà quên đi hay ít quan tâm tới những ngành tuy thu đợc ít ngoại tệ hay
không trực tiếp xuất khẩu song đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững,
xã hội hng thịnh lâu dài của nền kinh tế quốc dân.
Vậy để đạt đợc mục tiêu phát triển bền vững thì cần làm gì là nh thế nào? Mỗi quốc
gia đều cón chiến lợc, chính sách vĩ mô, vi mô của riêng mình theo điều kiện cụ thể
của đất nớc đó nhằm đạt đợc những mục tiêu trong giai đoạn trớc mắt cũng nh trong
giai đoạn lâu dài. Dù áp dụng chiến lợc nào đi nữa cũng cần phải phát triển đa dạng
cân đối các ngành kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ...
Việt Nam là nớc đang phát triển, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu, trình
độ khoa học kỹ thuật, quản lý còn nhiều lạc hậu. Do vậy, đất nớc rất cần sự hỗ trợ,
đầu t từ bên ngoài, song chúng ta không đợc lạm dụng chúng và coi đầu t nớc ngoài
là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế
nớc ta phải dựa chủ yếu vào chính nguồn lực của đất nớc, của nhân dân ta, có nh vậy
chúng ta mới làm chủ, không bị lệ thuộc vào quốc gia khác do yêu tố kinh tế chi
phối. Chúng ta cần phát triển một cách hợp lý của công nghiệp nặng, công nghiệp
nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trong một thời gian dài chúng ta đã quá chú

hàng ngàn năm nay, có làng nghề xuất hiện mới đây do nhu cầu của cuộc sống con
ngời.
Nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, giáp thành phố Hà Nội, Hà tây là nới có
nhiều các làng nghề đang hoạt động, đặc biệt là làng nghề truyền thống. Trong đó
huyện Chơng Mỹ cũng là một trong những nới cần thiết và có điều kiện phát triển
làng nghề truyền thống. Cho tới nay Chơng Mỹ đã đợc UBND tỉnh Hà tây công nhận
15 làng nghề đạt tiêu chuẩn là làng nghề truyền thống. Mục tiêu đến năm 1005 sẽ
tăng thêm 5 làng nghề nữa. Sản phẩm ở đây chủ yếu là mây tre đan (có từ lâu đời ví
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nh làng nghề mây tre giang đan ở Phú Vinh - xã Phú Nghĩa), nghề làm nón (ở Văn
La - xã Văn Võ), nghề mộc (ở Phù Yên - xã Trờng Yên).
Trong sự phát triển phức tạp của nền kinh tế thị trờng để cho các làng nghề tồn tại
và vận động có hiệu quả không chỉ là vấn đề chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà
nớc mà còn là các vấn đề cụ thể về nguyên liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm ... Đánh
giá chung thì các làng nghề trong nông thôn Việt Nam đang khởi sắc và ngày càng
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Trong kinh doanh mục tiêu về lợi nhuận luôn chiếm u thế hàng đầu của các doanh
nghiệp, của các cơ sở sản xuât, song mục tiêu đó khi không đạt đợc, không ít những
cơ sở sản xuất, hộ gia đình bị phá sản. Nguyên nhân của sự phá sản, làm ăn không
hiệu quả có nhiều, bao gồm những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Với hy
vọng góp phần nhỏ bé và sự phát triển của làng nghề truyền thống nói chung và các
làng nghề truyền thống nói riêng ở huyện Chơng Mỹ em tiến hành nghiên cứu đề tài:
Phát triển làng nghề truyền thống ở huyện Chơng Mỹ Hà Tây
Thực trạng và giải pháp .
Đây là vấn đề quan trọng trong phát triển làng nghề. Việc nghiên cứu này có ý
nghĩa thực tiễn lớn không chỉ cho việc phát triển làng nghề ở huyện Chơng Mỹ mà
còn góp phần giải quyết một số vấn đề về phát triển làng nghề nói chung ở đất nớc ta
hiện nay.
3

C B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống luôn gắn liền với làng
nghề Nông thôn.
- Các làng nghề truyền thống ra đời cách đây nhiều thế hệ và nghề mang tính chất
gia truyền.
- Thờng gắn liền với nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp nên hầu hết các làng
nghề có vốn đầu t thấp.
Một số loại sản phẩm của các làng nghề truyền thống mang tính chất nghệ thuật
cao, đó là sự kết tinh của văn hoá lâu đời của cha ông ta.
3. Sự hình thành và phát triển của làng nghề truyền thống.
Sẽ có nhiều làng nghề cùng tồn tại ở nhiều vùng khác nhau và cho ra đời cùng
loại sản phẩm song cha chắc chúng đã xuất hiện đồng thời. Sự hình thành các làng
nghề thờng qua những cách thức sau:
- Các làng nghề đợc hình thành do một hay một nhóm nghệ nhân từ nơi khác tới
truyền dạy.
- Các làng nghề đợc hình thành do sự sáng tạo của cá nhân hay nhóm ngời nào đó
ở trong làng, cùng với thời gian những kỹ thuật đó không ngừng đợc hoàn thiện và
lan truyền. Không ít làng nghề hình thành chủ yếu do một số cá nhân có cơ hội tiếp
xúc, giao du nhiều nơi có ý học hỏi để truyền lại cho làng quê của họ.
- Một số làng nghề xuất hiện do chủ trơng chính sách của nhà cầm quyền hoặc
địa phơng
Để các làng nghề này tồn tại và phát triển lâu dài thì những điều kiện sau đây đợc
thoả mãn:
- Gần những mạch máu giao thông thuỷ bộ quan trọng. ở những vị trí này hàng
hoá trao đổi dễ dàng, đó là điều rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh.
- Gần nơi tiêu thụ hay những thị trờng chính. Qua nghiên cứu khảo sát cho thấy
các làng nghề thờng tập trung ở những vùng phụ cận của các thành phố lớn hoặc
vùng tập trung đông đúc dân c.
- Một điều kiện khác là các làng nghề tồn tại phát triển đợc là do sức ép về kinh tề

nhân... ). Chính sách kinh tế mới đã phù hợp với mong muốn của nhân dân và thời kỳ
mới nên đã húc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế. Các làng nghề có điều kiện thuận
lợi để khôi phục và phát triển.
* Nhân tố truyền thống.
Thực tế cho thấy các làng nghề tồn tại, phát triển đợc do có sự kế tục của đời con, đời
cháu, nghề đợc bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh bằng miệng. Những bí quyết
nghề nghiệp trong làng nghề đợc giữ bí mật khắt khe. Điều này không tránh khỏi sự
thất truyền vì một nguyên nhân nào đó. Tóm lại rằng nhân tố truyền thống có ảnh h-
ởng quyết định tới sự hng vong của làng nghề.
* Phong tục tập quán.
Nhiều vùng, nhiều địa phơng có những phong tục tập quán của riêng mình. Trong
những ngày lễ, tết họ làm ra những sản phẩm cho chính họ, những sản phẩm này đợc
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều ngời biết đến và tiêu dùng chúng. Những ngời có khả năng kinh doanh đã sản
xuất ra để bán và hình thành làng nghề ví dụ: sản phẩm dệt thổ cẩm của đồng bào
dân tộc Chăm.
2.2. Nhóm nhân tố kinh tế.
Những nhân tố chính trong nhóm nhân tố này bao gồm:
* Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, điện, thuỷ lợi, bu chính viễn thông, y tế giáo
dục, các công trình văn hoá công cộng...Một điều hển nhiên rằng khi cơ sở hạ tầng
yếu kém thì quy mô làng nghề chậm đợc mở rộng. Cơ sở hạ tầng phải đợc xây dựng
một cách đồng bộ, cân đối nếu không sẽ tạo ra sự khập khiễng trong đó và không
những không thuận lợi cho sự phát triẻn ngành nghề mà còn kìm hãm sự phát triển
của nó.
Giao thông: Đợc ví nh là mạch máu trong cơ thể con ngời, sự hoàn thiện, thuận
lợi của giao thông tạo điều kiện cho việc giao lu hàng hoá dễ dàng, nhanh chóng. Vì
thế các làng nghề thờng đợc hình thành ở những đầu mối giao thông thuỷ bộ. Trong
thờ kỳ kinh ts thị trờng, thời gian là àng bạc, sự phát trỉn củ thông tin đã tiết kiệm đ-

Các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống ngày càng có vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn.
Các làng nghề góp phần tạo việc làm, phân công lao động thu hút lao động d thừa
cũng nh lo động nông nhàn ở nông thôn, Việt Nam là quốc gia chủ yếu sản xuất
nông nghiệp có gần 80% dân số nông thôn, tốc độ tăng dân số hàng năm khá cao,
tốc độ đô thị hoá cao làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bình quân ngày càng
giảm. Nguyên nhân này làm cho thu nhập từ nông nghiệp thấp, lực lợng lao động
nhàn rỗi tăng nhanh. Nghành nghề phi nông nghiệp thu hút nguồn lao động nhàn
rỗi rất mạnh. Ngành nghề phi nông nghiệp thu hút nguồn lao động nhàn rỗi này
làm giảm tình trạng không có việc làm lúc nông nhàn và lực lợng lao động ít
ruộng trong thời vụ nông nghiệp. Chúng ta không coi một số ngành nghề là phụ
nữa mà hãy coi chúng nh nghề thực thụ bởi nhiều nơi, nhiều ngành nghề mang lại
cho ngời lao động thu nhập cao hơn từ sản xuất nông nghiệp.
Các làng nghề hoạt động sẽ thu hút đợc nguồn vốn từ bên ngoài, uan trong hơn sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn trong dân. Từng gia đình, từng hộ thì số vốn tự có là
không lớn nhng với u thế số đông nguồn vốn đợc sử dụng là rất lớn. Nguồn vốn tự
có trong dân đó không chỉ là vốn bằng tiền, mà đó còn là vốn cố định trong xây
dựng cơ bản. Hầu hết các ngành nghề sản xuất đều tiết kiệm sử dụng diện tích
nhà ở ( nh nghề mộc, nghề làm bún, nghề dệt...) tiết kiệm đợc lợng vốn rát lớn
cho xây dựng nhà xởng.
Một vấn đề quan trọng của phát triển làng nghề là góp phần và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, làm giảm tỷ xuất trọng của ngành nông
nghiệp trong thu nhập của vùng Nông thôn, tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách
kinh tế giữa nông thôn và thành thị.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Làng nghề không chỉ có vai trò quan trọng trong bản sắc văn hoá dân tộc. Một số
hàng hoá thủ công truỳen thống đã vợt lên khỏi hàng hoá tiêu dùng thông thờng
mà nó mang tính nghệ thuật cao, đặc trng cho văn hoá làng xã Việt Nam. Bạn bè
quốc tế biết tới Việt Nam qua những sản phẩm này. Chúng ta cần gìn giữ và

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
* Nhật Bản: Nhật bản là tên một quốc gia mà hầu hết dân số thế gới đều biết
đến và thán phục vì sự thông minh của con ngời Nhật Bản vì một sự phát triển kinh tế
thần kỳ mà nhiều quốc gia trên thế giới hằng mơ ớc, một quốc gia mà ngời ta biết có
nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn lạc hậu nhng vẫn là một nớc công nghiệp
phát triển vào hàng đầu thế giới. Tuy thế nớc Nhật luôn luôn còn tồn tại nông thôn,
ngành nông nghiệp luôn đợc chú trọng phát triển. Đặc biệt các làng nghề truyền
thống trong nông thôn Nhật Bản đợc duy trì và không ngừng phát triển, hình thức tổ
chức sản xuất chủ yếu vẫn là hộ. Hiện nay ở Nhật có 867 nghề tiểu thủ công nghiệp
khác nhau. Nghề cổ truyền nổi tiếng là nghề sơn mài và nghề rèn ( có khoảng 800
năm nay ). Những năm của thập niên 70 ở Nhật Bản xuất hiện phong trào mỗi thôn
làng một sản phẩm nhằm phát triển ngành nghề cổ truyền ở nông thôn. Kết quả
phong trào này là 143 loại sản phẩm đợc sản xuất thu đợc 358 triệu USD ngay trong
năm đầu tiên, tới năm 1992 tăng lên tới 1,2 tỉ USD. Phong trào này đợc mở rộng ra
toàn quốc vào năm 1993 riêng ngnhf tiểu thủ công nghiệp đạt doanh số 8,1 tỷ USD.
Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đợc cải tiến so với trớc đây, các hộ làm ra sản
phẩm đợc các công ty lơn bao tiêu, nh thế việc tiêu thụ sản phẩm đợc dễ dàng và đơn
giản.
* Hàn Quốc: Những năm 70 dân số nông thôn Hàn Quốc chiếm tỷ lệ khá cao,
sự phát triển kinh tế của khu vực này thấp kém, một chơng trình khôi phục các ngành
nghề thủ công truyền thống đợc thực hiện nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn và nâng cao thu nhập cho khu vực này. Tới những năm 80 trên 23.000 lao động
trong hơn 1000 cơ sở sản xuất chủ yếu là hộ gia đình đã làm cho bộ mặt kinh tế nông
thôn Hàn Quốc có sự thay đổi. Để hỗ trợ cho hình thức kinh tế hộ phát triển trong cả
nớc đã có hơn 100 công ty đợc thành lập làm dịch vụ thơng mại đảm nhiệm cung câp
đầu vào và dịch vụ đầu ra. Hoạt động của ngành nghề truyền thống có bớc phát triển
lớn do có chính sách lợp lý và thị trờng tiêu thụ có xu hớng đợc mở rộng hơn trớc.
* Đài Loan: Làng nghề truyền thống ở Đài Loan đợc duy trì và phát triển trong
quá trình công nghiệp hoá đất nớc. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các làng
nghề thông qua hợp đồng giữa các hộ và các công ty, các công ty chỉ thuê gia công

ngành này. Kế hoạch phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp đợc lồng ghép với các ch-
ơng trình phát triển nông thôn khác. Trong năm 1994 chính phủ đã cung cấp vốn cho
việc khôi phục một số làng nghề truyền thống tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho
khu vực nông thôn. Chơng trình này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý
nghĩa xã hội, gìn giữ, bảo vệ văn hoá truyền thống của dân tộc, của nhân dân
Indônêxia.
* Philippin: Sự năng động của các chinh sách kinh tế là cần thiếu cho mọi quốc
gia, điều này thể hiện rõ ràng trong chính sách phát ttiển ngành tiểu thủ công nghiệp
triền thống của Philippin. Trong giai đoạn 1988 1992., chính phủ dã đề ra các
chính sách hớng ngành tiểu thủ công nghiệp vào sản xuất các mặt hàng tiêu dùng
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đơn giản phục vụ cho nhu cầu trong nớc, chế biến lợng thực, thực phẩm, chế tạo công
cụ Sang giai đoạn tiếp theo chính sách của chính phủ là h ớng những ngành nghề
nông thôn vào những mặt hàng có khả năng xuất khẩu. Nhũng chính sách cụ thể: cho
vay vốn lãi xuất thấp, miễn thuế cho những ngành sản xuất này Một ví dụ điển
hình là chế biến Nata (nớc dừa kết tinh), đây là món ăn cổ truyền của nhân dân
Philippin, hiện nay có đợc xuất đi nhiều nớc. Nât đợc sản xuất chủ yếu ở các hộ gia
đình sau đó cung cấp cho công ty Interfood, chủ yếu đê công ty này xuất khẩu.
* Thái Lan: Với định hớng chuyển dịnh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng giảm
tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp, chính phủ đã thực
hiện nhiều chính sách phát triển ngành nghề, tạo điều hiện cho làng nghề phát triển
phục vụ nông nghiệp. Khi đó các ngành nghề và nông nghiệp cùng phát triển và cơ
cấu kinh tế có sự thay đổi. Trong số ngành nghề truyền thống của TháiLan thì ngành
chế tác vàng bạc, đá quý phát triển mạnh, năm 1990 kim ngạch xuất khẩu của ngành
này đạt tới tới 2 tỷ USD. Sau ngành này phải kể đến ngành gôm sứ Thái Lan nổi
tiếng ở nhiều Chính phủ Thái Lan không chỉ chú trọng tới những ngành nghề xuất
khẩu mà luôn quan tâm phát triển ngành nghề truyền thống khác nh ngành gỗ mỹ
nghệ, chế biến nông sản thự phẩn chế biến cây ăn quả. Nhờ có sự phát triển hợp lý
của các ngành kinh tế thành thị nông thôn mà nhiều năm nền kinh tế Thái Lan đã trở

hiện nay các làng nghề truyền thống đang đợc phục hồi phát triển làng nghề ở Việtt
Nam là các tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây Làng mộc mỹ nghệ Đồng kỵ, đúc đồng Đại
Bái,rệt lụa Hà Tây là những làng nghề nổi tiếng không chỉ là sản phẩm độc đáo mà
cả lợi ích kinh tế và xã hội. ở Gia lâm (Hà Nội) có làng nghề gốm sứ Bát Tràng hàng
năm cung cấp sản lợng lớn các sản phẩm gốm sứ cho thị trờng, thu hút lợng rất lớn
lao động ở các vùng lân cận tới làm việc tại đó. ở tỉnh Hải Dơng sản phẩm đậu xanh
là đặc trng của tỉnh mang lại thu nhập cao cho ngời lao động. Hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh từ đơn giản tới phức tạp, từ hộ tới các công ty. Dới đây chúng ta sẽ
tìm hiểu sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong những
thập niên gần đây.
- Trớc thời kì Pháp thuộc: Hầu nh dân số nớc ta sống trong nông thôn, làm nông
nghiệp là chủ yếu, các làng nghề ổn định sản xuất, đáp ứng nhu cầu tại chỗ là
chính. Thời kỳ này hình thức chủ yếu trong giai đoạn này là phờng nghề do nhiều
hộ gia đình hình thành.
- Giai đoạn 1939 1945: Giai đoạn này làng nghề phát triển hơn trớc đó, do
chính sách vơ vét kinh tế nhằm bù đắp cho chiến tranh của thực dân Pháp.
- Giai đoạn 1945 1954: Thời kỳ mà cuộc kháng chiến chống Pháp ác liệt diễn ra,
một số làng nghề ở miền Bắc nằm trong vùng chiến sự không phát triển đợc, một
số làng nghề khác phát triển mạnh để cung cấp cho chiến trờng. Hình thức hộ là
chủ yếu trong giai đoạn này.
- Giai đoạn 1954 1975: Giai đoạn này miền Bắc là miền tự do, chúng ta tiến
hành công cuộc hợp tác hoá, cải tạo thơng nghiệp t bản t doanh, chúng ta không
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thừa nhận thành phần kinh tế t bản t nhân. Chịu ảnh hởng của kinh tế này ở miền
Bắc nhiều hợp tác xã ngành nghề ở các làng nghề đợc thành lập đi vào hoạt động.
Mong muốn một xã hội không có áp bức bóc lột, xã hội công bằng mô hình kinh
tế chỉ huy đợc thực hiện một cách hệ thống từ trên xuống, ý nghĩa sản xuất kinh
doanh đọc lập, tự chủ không còn nữa, tất cả là một khuôn mẫu định sẵn.
Trong hợp tác, ngời tay nghề cao với ngời cha lành nghề đợc đối sử nh nhau cả về

biến diễn ra mạnh mẽ trong nông nghiệp và nông thôn. Sự khẳng định sự tồn tại
nhiều thành phần kinh tế với hình thức tổ chức mở cửa cho nền kinh tế nớc ta
khởi sắc. Trong bối cảnh đó làng nghề truyền thống nói riêng, ngành tiểu thủ
công nghiệp nói chung đợc khôi phục và không ngừng phát triển khẳng định vai
trò to lớn trong khu vực kinh tế Nông thôn.
Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh là hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất,
xí nghiệp, công ty... Hình thức không còn gò bó tuỳ theo khả năng của các chủ thể
mà chọn hình thức nào đó phù hợp cho sự phát triển của mình.
Luật công ty, luật HTX, luật Doanh nghiệp t nhân ra đời là hành lang pháp lý cho
các hình thức này tồn tại, đóng góp vào nền kinh tế, khẳng định vị trí của mình.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng II
Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở Huyện
chơng mỹ-hà tây.
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hởng đến sự phát triển của làng
nghề truyền thống ở huyện Chơng Mỹ.
Chơng Mỹ là huyện liền kề với thủ đô Hà Nội, cách thị xã Hà Đông 10km, Hà
Nội 20km về phía Tây. Huyện có diện tích tự nhiên 23.294ha, đất nông nghiệp
14.282ha, toàn huyện có 31 xã và 02 thị trấn (Xuân Mai và Chúc Sơn), dân số có
27,3 vạn, có 57 nghìn hộ, 136.260 lao động. Đất nông nghiệp bình quân 533m
2
/ngời.
Là huyện có nghề mây tre giang đan truyền thống. Là vùng đất có cảnh quan đẹp, có
truyền thống lịch sử lâu đời, có nhiều di tích lịch sử danh lam thắng cảnh: Chùa
Trầm, Chùa Chăm Gian, núi Hoả Tinh, là quê hơng của Nhà sử học Ngô sỹ Liên, đô
đốc Đặng Tiến Đông... Nhiều di tích đã đợc Nhà nớc xếp hạng. Chơng Mỹ có 02 khu
vực Miếu Môn, Xuân Mai đã đợc chính phủ phê duyệt quy hoạch trong chuỗi đô thị
Miếu Môn-Xuân Mai, Hoà Lạc. Tuy nhiên Chơng Mỹ cũng là huyện nằm trong vùng
phân lũ của Trung Ương.

- Vùng sản xuất lơng thực, rau mầu tập trung ở các xã nằm ven sông Đáy ở
phía Đông huyện (gồm 22 xã và 01 thị trấn).
- Vùng sản xuất cây công nghiệp hàng năm và cây ăn quả lâu năm tập trung ở
các xã phía Tây huyện (gồm 9 xã và 01 thị trấn).
Tài nguyên khoáng sản của Chơng Mỹ khá phong phú và đa dạng.
- Trữ lợng đá các loại khoảng 5 triệu m
3
nằm ở các xã: Trần phú, Tân Tiến, Mỹ
Lơng, Nam Phơng Tiến, Thuỷ Xuân Tiên.
- Đá vôi tập trung ở các xã: Trần Phú, Nam Phơng Tiến.
Tài nguyên nớc: huyện Chơng Mỹ có 03 hồ lớn: Hồ Đồng Sơng, Văn Sơn,
Miễu, trữ lợng nớc: 15 triệu m
3
, phục vụ tới cho các xã: Trần Phú, Hữu Văn,
Mỹ Lơng, Tân Tiến, Thuỷ Xuân Tiên, Thị trấn Xuân Mai.
2. Điều kiện kinh tế xã hội.
2.1. Về điều kiện kinh tế.
Vị trí địa lý: Vị trí của huyện rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội,
huyện có hệ thống giao thông đờng bộ gồm có: Quốc lộ số 6 đi qua huyện với tổng
chiều dài là: 19km, Quốc lộ 21 với tổng chiều dài 18km, tỉnh lộ 80 với tổng chiều dài
là 20km.
Hiện nay tất cả các hệ thống đờng trục huyện đã đợc nâng cấp đổ bê tông hoặc
thâm nhập nhựa theo chơng trình vốn phân, chậm lũ và chơng trình WB2.
Hệ thống điện thoại: Số máy điện thoại hiện có trong huyện Chơng Mỹ có 8.031
máy, bình quân đạt 2,97 máy/100 dân. Toàn huyện có 25 điểm bu điện văn hoá xã,
và 08 bu cục phục vụ, nh vậy huyện có 33/33 điểm phục vụ, đã phủ sóng di động tại
Thị trấn Xuân Mai và Thị trấn Chúc Sơn (diện tích phủ sóng đạt 80%)
Huyện Chơng Mỹ hiện có 150 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài 03, doanh nghiệp của Trung Ương, của Tỉnh 14, còn
lại là các Công ty TNHH và doanh nghiệp của địa phơng. Hàng năm tạo ra giá trị

học 2002-2003 toàn huyện có 66.223 học sinh đi học. Hiện nay 100% số trờng
học đã đợc cao tầng hoá và kiên cố hoá, không còn tình trạng học sinh học ca
3; 100% số xã trong huyện đã đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học và trung học cơ
sở. Hàng năm có trên 300 cháu đỗ và các trờng Cao đẳng, Đại học.
- Công tác y tế đợc quan tâm với một bệnh viện cấp huyện và 03 phòng khám
khu vực, 33 trạm xá xã đều có bác sỹ. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình
có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ dân số phát triển tự nhiên năm 2003 là 1,47%, tỷ lệ
sinh con thứ 3 là: 14,8%.
II. Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở Huyện.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Các điều kiện để một làng đợc công nhận là làng nghề truyền thống ở Ch-
ơng Mỹ.
1.1. Mục đích.
Nhằm vận động nhân dân các địa phơng trong huyện, tỉnh xây dựng, phát triển
ngành nghề, làng nghề truyền thống, cổ truyền, làng nghề mới sản xuất công nghiêp-
tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn quản lý, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp công nghiệp dịch vụ theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn, tăng cờng công tác quản lý Nhà nớc về công nghiêp-tiểu thủ
công nghiệp trên địa bàn.
Xây dựng nông thôn mới, phát triển ngành nghề, làng nghề phải gắn với công tác
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; quy hoạch, kế hoạch phát triển công
nghiêp-tiểu thủ công nghiệp, bảo vệ môi trờng của từng vùng, từng xã theo đinh hớng
XHCN
Tạo thuận lợi để làng nghề công nghiêp-tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn bó với
các hoạt động văn hoá du lịch, giao lu kinh tế.
Làm cơ sở để xây dựng, phát triển, xét công nhận làng nghề.
1.2. Tiêu chuẩn làng nghề Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp.
a) Chấp hành tốt các chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc và mọi quy
định hợp pháp của chính quyền địa phơng.

công nhận làng nghề.
1.4. Trách nhiệm, quyền lợi của làng nghề.
1.4.1. Về trách nhiệm của làng nghề.
- Tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng, phát
triển ngành nghề, làng nghề.
- Xây dựng làng nghề tiếp tục phát triển, động viên các nghệ nhân, thợ giỏi
tham gia đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh phát triển các mặt hàng mà pháp luật
cho phép, góp phần xây dựng kinh tế địa phơng ngày một phát triển, hoàn
thành tốt các nghĩa vụ với Nhà nớc.
- Xây dựng, phát triển làng nghề từng bớc gắn với xây dựng làng văn hoá và các
phong trào xã hội khác.
- Chấp hành tốt các chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc đã ban hành và
hàng năm gửi báo cáo tình hình hoạt động của làng nghề về Sở Công nghiệp
tỉnh.
- Thờng xuyên đi sâu nghiên cứu cải tiến thiết bị công nghệ sản xuất đa dạng
hoá mẫu mã sảm phẩm chất lợng cao, du nhập nghề mới, sảm phẩm mới để
chiếm lĩnh thị trờng, đồng thời đảm bảo vệ sinh, môi trờng để duy trì sự tồn tại
của làng nghề.
1.4.2. Về quyền lợi.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đợc thực hiện các chế độ u đãi theo quy định của Nhà nớc và đợc hởng chính
sách khuyến công, vay vốn, giải quyết đất đai, xây dựng cơ sở hạng tầng...
theo dự án đợc duyệt.
- Đợc Nhà nớc bảo hộ quyền sở hữu bản quyền công nghiệp.
- Đợc đào tạo, bồi dỡng tham gia các lớp học nghề cán bộ quản lý, nghệ nhân,
công nhân lành nghề theo quy định của Nhà nớc.
1.5. Tổ chức thực hiện.
- UBND xã, phờng, thị trấn phân công cán bộ theo dõi, quản lý làng nghề, tập
hợp các thông tin kiến nghị của cán bộ, ngời làm nghề, giải thích cho mọi ngời

Thu nhập bình quân 1,72 triệu đồng/ngời/năm, trong đó thu nhập bình quân từ sản
xuất Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là 1,75 triệu đồng/ngời/năm.
Nghề mây tre giang đan Phú Vinh đã có trên 100 năm nay, từ thời thực dân Pháp
còn đang đô hộ nớc ta. Lúc đầu chỉ có một số hộ làm đem bán tại thị trờng Hà Nội.
Khi thực dân Pháp chiếm đóng đã đa các hàng mây tre giang đan về nớc. Đất nớc
hoà bình, nghề mây tre giang đan Phú Vinh phát triển mạnh vì đợc đem bán ở nhiều
nớc. Đến năm 1986 thì 100% số hộ ở Phú Vinh đã làm nghề này. Từ khâu khai thác
vật liệu, chế biến sản phẩm, ký kết hợp đồng xuất khẩu, đóng Côngtennơ hàng để đa
đi đều đợc ngời làng Phú Vinh làm thành thạo. Mẫu mã hàng ở đây vừa phong phú,
vừa đẹp vì Phú Vinh gần nh đợc coi là đất tổ nghề này.
- Làng nghề Mây tre đan + Mộc Phù Yên (xã Trờng Yên):
Tổng số hộ là 568 hộ, trong đó số hộ sản xuất Công nghiệp tiểu thủ công
nghiệp là 510 hộ, chiếm tỷ lệ 88%.
Tổng số lao động là 1447 ngời, trong đó lao động sản xuất Công nghiệp tiểu
thủ công nghiệp là 1261 ngời, chiếm tỷ lệ 87%.
Tổng giá trị sản xuất là 12,5 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tiểu
thủ công nghiệp là 8,3 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 66%.
Thu nhập bình quân 2,77 triệu đồng/ngời/năm, trong đó thu nhập bình quân từ sản
xuất Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là 2,8 triệu đồng/ngời/năm.
Những năm 1970, nghề mây tre giang đan xuất khẩu bắt đầu có ở Phù Yên. Lúc
ấy, bà con ở đây làm để bán cho các ông chủ, bà chủ của các xã bạn. Nghề phát triển
dần va đến nay đã trở thành nghề chính của thôn. 95% số hộ trong làng tham gia làm
nghề. Nghề đã giải quyết đợc việc làm cho cả số lao động phụ. Sản phẩm ở đây đều
thông qua tổ hợp tác mây tre giang đan xuất khẩu thu mua gom và xuất đi nớc ngoài,
không bán qua địa phơng khác. Nhiều hộ đã đợc giải quyết đất để mở rộng sản xuất
và làm ăn lớn.
Song song với nó thì nghề Mộc mặc dù không nhiều về quy mô nhng nó cũng có
những đóng góp không nhỏ về kinh tế cũng nh những giá trị về văn hoá, nhân văn
cho làng. Tạo công ăn việc làm 303 lao động trong lĩnh vực nghề mộc, đem lại thu
nhập bình quân/ngời/năm từ 3,6 triệu-3,9 triệu (khoảng 202.076đ/ngời/tháng).

hộ trong làng nghề này tuỳ theo mức độ từng nhà. Ngoài số lao động chính làm nghề
thì hơn 200 lao động phụ trong làng cũng tham gia làm suốt ngày. Nhờ đó, thu nhập
của bà con ngày một tăng, đời sống đợc cải thiện. Trớc đây, hàng của Khê Than xuất
khẩu đi các nớc nhờ Công ty xuất nhập khẩu tỉnh. Hiện nay, hầu hết các nớc a
chuộng hàng mây tre đan thì đều đã có mặt hàng của Khê Than nhng đều do các ông
chủ, bà chủ Khê Than đảm nhận từ đầu đến cuối.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Làng nghề mây tre giang đan Lam Điền (xã Lam Điền):
Tổng số hộ là 486 hộ, trong đó số hộ sản xuất Công nghiệp tiểu thủ công
nghiệp là 448 hộ, chiếm tỷ lệ 92%.
Tổng số lao động là 1622 ngời, trong đó lao động sản xuất Công nghiệp tiểu
thủ công nghiệp là 1314 ngời, chiếm tỷ lệ 81%.
Tổng giá trị sản xuất là 5,173 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp
tiểu thủ công nghiệp là 3,5 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 68%.
Thu nhập bình quân 1,43 triệu đồng/ngời/năm, trong đó thu nhập bình quân từ sản
xuất Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là 1,3 tỷ đồng/ngời/năm.
Những năm 1960, thôn Lam Điền có một vài gia đình nên Phú Vinh học nghề
mây tre đan. Thấy nghề cũng có thêm thu nhập và giải quyết đợc việc làm lúc nông
nhàn nên anh em, họ hàng đã dạy cho nhau. Càng về những năm gần đây, nghề mây
tre đan càng phát triển mạnh vì có nơi tiêu thụ tốt. Sản phẩm ngày càng đa dạng,
phong phú. Ngời lao động của địa phơng cũng dồi dào nên giá trị sản lợng tăng lên
nhanh chóng. Nếu năm 1996, giá trị hàng Thủ công nghiệp của Lam Điền mới đợc
2,3 tỷ đồng, thì đến năm 2000 đã nên 3,5 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 68% là nguồn thu
nhập chính của ngời dân nơi đây.
- Làng nghề mây tre đan Yên Kiện (xã Đông Phơng Yên):
Tổng số hộ là 282 hộ, trong đó hộ sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
là 167, chiếm tỷ lệ 59%.
Tổng số lao động là 568 ngời, trong đó lao động sản xuất Công nghiệp tiểu thủ
công nghiệp là 358 ngời chiếm tỷ lệ 63%.

- Làng nghề mây tre đan thôn Đồi 3 (xã Đông Phơng Yên):
Tổng số hộ là 238 hộ, trong đó hộ sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
là 184, chiếm tỷ lệ 77%.
Tổng số lao động là 594 ngời, trong đó lao động sản xuất Công nghiệp tiểu thủ
công nghiệp là 494 ngời, chiếm tỷ lệ 83%.
Tổng giá trị sản xuất là 7,63 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tiểu
thủ công nghiệp là 5,2 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 70%.
Thu nhập bình quân 5,2 triệu đồng/ngời/năm, trong đó thu nhập bình quân từ sản
xuất Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là 5,4 tỷ đồng/ngời/năm.
Thôn Đồi ba năm trong vùng bán sơn địa giáp trục đờng giao thông quốc lộ 6 đi
Hà Nội, Hoà Bình nên rất thuận tiện trong chuyên chở hàng hoá. Nghề mây tre giang
đan sớm hình thành từ đầu những năm 1960, lúc đầu chỉ có số ít gia đình tham gia
với hình thức sản xuất nhỏ bé. Đến nay, ngành nghề trong thôn đã phát triển mạnh,
thu hút gần 500 lao động chính và khoảng 800 lao động phụ, đóng góp tích cực vào
công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phơng. Với tính chất sản xuất phân tán trong
từng hộ gia đình, vật liệu đợc dân khai thác đem về ban, do đó không tốn nhiều diện
tích, đầu t vốn ban đầu ít, hiệu quả kinh tế cao. Làng nghề đã tạo nên những nhà
25

Trích đoạn Đào tạo bồi dỡng cán bộ, nghệ nhân, công nhân lành nghề Tổ chức sản xuấ tở các làng nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status