BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ÐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH NHÂN VĂN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
Giáo viên hướng dẫn
Đơn vị
Sinh viên
Lớp
Ngành
: Lê Thanh Tùng
: Khoa quản trị kinh doanh
: Trần Thị Cúc
: 2VH9
: Văn hóa du lịch
Hải Phòng, tháng 05 năm 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Kính thưa các thầy cô giáo và toàn thể các bạn. Trải qua quá trình học tập
và rèn luyện tại trường công nghệ Viettronics em đã có quá trình học tập bổ ích
và nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình từ phía nhà trường và các thầy
cô trong khoa Quản trị kinh doanh em đã dần dần trưởng thành hơn nhiều.Đặc
biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Lê Thanh Tùng đã tân tình
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH NHÂN VĂN................................7
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Huế được biết đến là một thành phố du lịch thơ mộng với sông Hương
xanh êm đềm và Núi Ngự Bình hùng vĩ. Hàng năm, doanh thu du lịch luôn
chiếm 1 phần khá lớn trong tổng giá trị sản xuất của tỉnh và tốc độ tăng ngày
càng nhanh. Năm 2012, hoạt động du lịchphát triển mạnh, tổng lượt khách ước
đạt 1,53 triệu lượt, tăng 17,6% so năm 2011, trong đó: khách quốc tế 719 nghìn
lượt, tăng 20,4%; công suất sử dụng buồng phòng đạt 73%, ngày lưu trú trung
bình 2,07 ngày/khách; doanh thu du lịch tăng 34,6%.
Bên cạnh đó, Festival Huế 2013 đã thu hút hàng triệu lượt người tham dự,
trong đó có trên 180.000 lượt người lưu trú, tăng 15,2%; thu hút 30.000 lượt
khách quốc tế từ 75 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia, tăng 27,4% so với năm
2012. Nhiều dự án du lịch lớn đã được khởi động, đã khởi công các dự án trọng
điểm như dự án Petrolimex Huế, các dự án tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô,
cấp giấy phép đầu tư cho dự án Khu du lịch Nam A với tổng vốn đầu tư gần 500
triệu USD.
Từ đó, có thể thấy du lịch là một lĩnh vực rất quan trọng trong nền kinh tế
xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thành phố Huế có nhiều nguồn lực cho phát triển du lịch. Năm 1993, quần
thể di tích cung đình triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa
vật thể của nhân loại. Đúng 10 năm sau, năm 2013, Nhã nhạc cung đình Huế
tiếp tục được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Với 2 di sản
văn hóa thế giới như vậy, Huế đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài
nước với triển vọng số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn tiếp
theo.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích chính của đề tài này là tìm hiểu tài nguyên du lịch nhân văn
Thành phố Huế phục vụ cho việc khai thác, phát triển du lịch nói chung và
Thành phố Huế nói riêng.
3. Nhiệm vụ của đề tài.
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Tìm hiểu lý luận chung về du lịch, tài nguyên du lịch, tài nguyên du lịch
nhân văn và xu hướng phát triển du lịch hiện nay.
- Tìm hiểu về tài nguyên du lịch nhân văn của Thành phó Huế, thực trạng
khai thác chúng cho hoạt động du lịch hiện nay.
5
- Đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du
lịch nhân văn để phát triển phục vụ phát triển du lịch.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài này tập trung nghiên cứu tất cả nguồn tài nguyên du lịch nhân văn
của Thành phố Huế. Trong đó chú trọng đến việc nêu thực trạng cũng như đưa
ra những giải pháp khắc phục dựa trên tình hinh kinh tế của Thành phố Huế.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành khóa luận này người viết phải sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Để có được thông tin đầy đủ em và cập nhật, em đã tìm hiểu, thu thập
thong tin, tư liệu từ nhiều nguồn khách khác nhau như tài liệu ở Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch, ban quản lý các di tích, sách báo mạng internet…từ đótiến hành
xử lý để đưa ra được các kết luận cần thiết.
- Phương pháp khảo sát thực địa:
Dưới đây là một số khái niệm về du lịch dưới các góc độ khác nhau:
Địa lý: Du lịch là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của họ.
Kinh tế: Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về
phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách tạo ra và
của những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp, trước hết
trong khách sạn, và tiêu dùng gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn
nhu cầu hiểu biết và giải trí (Picara Edmol).
Ý nghĩa hiện đại: Du lịch là một hiện tượng thời đại, dựa trên sự tăng
trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung
quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên
(Guer Freuler).
Tiếp cận cộng đồng: Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của 4
nhóm: khách du lịch, đợn vị cung ứng, chính quyền và dân cư tại nơi du lịch tạo
nên (Coltman).
Một cách tổng quát hơn, du lịch được hiểu là sự di chuyển và lưu trú qua
đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú
nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh,
7
có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và
dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.
Hay đó là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhắm thỏa mãn nhu cầu này
sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian nhàn rỗi của cá
nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao
nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
Năm 1963 tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch ở Roma đã đưa ra khái
niệm về du lịch thống nhất của tổ chức du lịch thế giới: Du lịch là tổng hợp mối
quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và
sờ”, “ nắn” được, ví dụ như văn hóa phi vật thể là những bài hát dân ca, những
tập tục cổ truyền…
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa khoa
học bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia.
1.2.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính phổ biến: Nước ta có 54 tộc người,
tộc người nào cũng có nét văn hóa đặc sắc riêng, tuy nhiên vẫn mang một số đặc
điểm chung. Vì vậy tài nguyên du lịch nhân văn là thuộc tính của tất cả các dân
tộc, các quốc gia.
Tài nguyên du lịch nhân văn có tính truyền đạt nhiều hơn nhận thức: Tài
nguyên du lịch nhân văn được coi là những sản phẩm mang tính văn hóa khi du
khách đến thăm quan nó chủ yếu tìm hiểu lịch sử, giá trị văn hóa dân tộc.
Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính tập trung dễ tiếp cận bởi tài nguyên
du lịch nhân văn là sản phẩm do con người tạo ra thường nằm tập trung tại các
điểm dân cư, các thành phố lớn nên dêc tiếp cận.
Như đã biết tài nguyên du lịch có tính mùa vụ nhưng tài nguyên du lịch
nhân văn không chịu tác động của mùa vụ.
1.2.3. Ý nghĩa, vai trò của du lịch nhân văn đối với phát triển du lịch Thành
phố Huế.
1.2.3.1. Ý nghĩa của du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là một trong yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du
lịch, ảnh hưởng đến việc tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc
chuyên môn hóa của ngành du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn là các công trình đương đại do xã hội và cộng
đồng con người sáng tạo ra vì vậy mà nó có sức hấp dẫn du khách, có tính
truyền đạt nhận thức cao, có tác dụng giải trí, hưởng thụ mang ý nghĩa thứ yếu,
thuận lợi cho việc hình thành và phát triển du lịch.
9
sức sống cho con người. Trong một chừng mực nào đó thì du lịch có tác dụng
hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động cho con người.
10
Những chuyến du lịch tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, các
khu thắng cảnh thiên nhiên có tác dụng giáo dục tinh thân yêu thiên nhiên, yêu
văn hóa của đất nước. Khi tiếp xúc trực tiếp với các công trình này, du khách
mới thực sự cảm nhận được giá trị to lớn của chúng.
Khi đi du lịch mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn,
nhờ đó du lịch là cơ hội tăng cường tình đoàn kết cộng đồng. Mỗi chuyến du
lịch còn thường để lại cho du khách một số kinh nghiệm, tăng vốn hiểu biết về
địa lý và kiến thức văn hóa nói chung.
Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế
khác, do đó nhu cầu về lao động tại địa phương sẽ tăng thêm nhằm phục vụ cho
nhu cầu về nhân công của bản thân ngành du lịch và cả các ngành kinh tế khác,
thông qua đó tạo thêm việc làm, giảm bớt nạn thất nghiệp, nâng cao mức sống
cho người dân.
Phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn khi nó làm sống lại những ngành nghề
thủ công truyền thống. Bởi hiện nay du lịch văn hóa các làng nghề rất được du
khách ưa thích, vì tâm lý muốn tìm hiểu cuộc sống văn hóa, lao động của người
dân bản địa nơi họ đến thăm. Đồng thời du khách mỗi khi đi du lịch tại một địa
phương nào đó thường muốn mua một vài sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm thủ
công để làm kỉ niệm hay làm quà cho người thân, bạn bè.
1.3. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn.
1.3.1. Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể
Các di sản văn hóa thế giới được xác định theo 6 tiêu chuẩn sau:
- Là tác phẩm độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của con người.
- Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ
+ Loại hình di tích lịch sử bao gồm: Di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích
ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng tiêu biểu, di tích ghi dấu chiến công chống
quân xâm lược, di tích ghi dấu những kỉ niệm, di tích ghi dấu sự vinh quang
trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến.
+ Loại hình di tích văn hóa nghệ thuật: Là các di tích gắn với công trình
kiến trúc có giá trị nên gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật.
+ Các danh lam thắng cảnh: Cùng với các di tích lịch sử văn hóa không
nhiều thì ít còn có những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng đó là các danh
lam thắng cảnh, ở nước ta danh lam thắng cảnh có ý nghĩa là nơi cảnh đẹp, có
chùa nổi tiếng thờ phật, có vẻ đẹp thieenn nhiên bao loa hùng vĩ thoáng đãng có
giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người dựng nên. Các danh lam
thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích lịch sử văn
hóa vì vậy nó có giá trị quan trọng đối với hoạt động du lịch.
12
1.3.2. Tài nguyên du lịch phi vật thể.
“Di sản văn hoa phi vật thể” được hiểu là các tập quán, các hình thức thể
hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo
tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người
và trong một số trường hợp các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa
của ho. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật
thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi
với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử
của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó
khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con
người.
Di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện ở những hình thức sau:
- Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương
tiện của di sản văn hóa phi vật thể.
Nam
1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn.
1.4. Lễ hội
Định nghĩa: Lễ hội là sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong
phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân trong thời gian lao động mệt
nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện trọng đại như ngưỡng mộ
tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những âu lo, những khao khát, mơ
ước mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
Nội dung lễ hội.
Lễ hội thường có 2 phần: Phần lễ và phần hội
+ Phần nghi lễ: Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những
nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian.
Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử,
hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh
hưởng đến sự phát triển xã hội. Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ sự tôn kính với
cácbậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa, cầu tài
cầu lộc…
+ Phần hội: Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng
điển hình của tâm lý cộng đồng văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm
của dân gtộc đó với thực tế lịch sử xã hội và thiên nhiên. Ngoài ra nó còn những
trò vui, thi nghề, thi hát, tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa.
Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn
mang lại niềm vui cho mọi người.
14
1.4.2. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống.
Qúa trình phát triển và hình thành làng nghề ở nước ta.
Làng nghề thủ công ở Việt Nam xuất hiện rất sớm. Theo giáo sư Hà Văn
Tấn trong cuốn Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam thì trước thời kì đầu đã có dấu
trở lại. Hầu hết các địa phương trong cả nước đều tổ chức các lễ hội của mình
vào độ xuân về, thu sang, hòa nhập với không khí tưng bừng.
Là vùng có truyền thống văn hóa phong phú và đặc sắc. Huế có rất nhiều lễ
hội dân gian. Đặc điểm của các lễ hội ở Huế là được tổ chức rất công phu, bài
bản, khiến nhiều du khách thích thú với các sản phẩm du lịch văn hóa này.
Chính những đặc điểm này cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lễ hội vào mục
đích du lịch.
2.1.1.1. Hội đua ghe truyền thống:
Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế là một ngày lễ hội mới
được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975.
Hội được tổ chức trong một ngày, nhằm ngày lễ Quốc Khánh 02-9 (dương
lịch). Địa điểm đua là bờ Sông Hương trước trường Quốc Học. Hội nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài trên sông nước, qua
đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo không khí vui tươi lành mạnh
cho nhân dân. Đây cũng là dịp để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân vào ngày
Quốc Khánh. Quy mô hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện
trong tỉnh. Hội tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục.
Vào ngày lễ. Ban tổ chức tuyên bố thể lệ dự giải và chương trình đua bơi
gồm có một độ cúng, 7 độ tiền và một độ phá (9 đội đua). Mỗi đội đua phải qua
3 vòng, 6 tráo, riêng độ 7 và 3 độ tiền của nữ là hai vòng bốn tráo. Đội đua bắt
đầu bằng một lệnh trống (1 hồi chiêng). Các ghe đua 3 vè chính dọc Sông
Hương, lộn vè rốn lúc xuất phát và vòng cuối lúc vào đích. Đây là một tập tục
truyền thống vốn được nhân dân mến chuộng từ các lễ hội cổ truyền. Đua trải,
đua ghe luôn là một môn thể thao hấp dẫn, biểu thị sức khỏe và tài năng khéo
léo của thanh niên nam nữ.
17
Đối tượng tham gia lễ chủ yếu là thanh niên nam nữ các phường xã thuộc
18
Được tổ chức vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội đấu Vật
làng Sình được tổ chức tại khu vực đình làng Lại Ân (còn gọi là làng Sình), xã
Phú Mậu, huyện Phú Vang (TT-Huế). Đây là một hoạt động văn hoá truyền
thống, giàu tinh thần thượng võ của người bản địa. Các đô vật sẽ thi đấu theo thể
thức vòng tròn.
Những người già ở làng Sình kể lại, hội vật truyền thống của làng đã có
lịch sử hơn 200 năm, và phát triển liên tục cho đến nay. Hội vật này khác hẳn
với hội vật ở một làng quê khác, bởi người dân tổ chức hội vật như một hình
thức giải trí đơn thuần sau những ngày tết chứ không vì mục đích tuyển chọn võ
sĩ cho triều đình phong kiến lúc bấy giờ. “Lệ” làng cũng quy định, các đô vật dự
đấu không nhất thiết phải là người địa phương, và bất kỳ khán giả nào cũng có
thể được lên sới đấu vật. Ngoài giải Cạn dành cho chức vô địch, làng còn dành
riêng một khoản tiền để thưởng cho tất cả những đô tham gia hội vật. Có thể do
điều kiện dự hội khá đơn giản, nên ngày xưa, cứ đến trước ngày làng mở hội vật,
trai tráng khắp nơi theo nhau về làng Sình.
Hội vật làng Sình về cơ bản cũng áp dụng theo nguyên tắc của luật thi đấu
vật dân tộc, các đô vật muốn vượt qua vòng đấu loại phải giành chiến thắng
trước 3 đối thủ, để giành chiến thắng, các đô vật phải đánh bại đối thủ của mình
với đòn đánh làm cho đối phương "lấm lưng, trắng bụng" (nghĩa là một phần
hoặc cả hai phần lưng của đối phương phải lấm đất, bụng ngửa lên trời). Nếu
vượt qua vòng đấu loại, các đô vật sẽ bước vào vòng bán kết. Ở vòng bán kết,
các đô vật phải vượt qua 1 đối thủ nữa mới lọt được vào vòng chung kết.
Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ vì thế các đô vật không
được ra các đòn đánh nguy hiểm đến tính mạng như bẻ, vặn, khoá trái khớp, tấn
công bằng đầu, bấm các huyệt, nắm tóc, tấn công vào hạ bộ, yết hầu, mắt.... Một
nét độc đáo ở lễ hội làng Sình là tinh thần đồng đội ở các địa phương, một đô
vật của làng nào bị thua sẽ có đô vật khác lên tiếp sức. Nếu để thua một trận các
Mẹ, đạo hiếu, đạo làm người. Theo ý nghĩa đó, việc phục hồi lễ hội điện Hòn
Chén là phục hồi một giá trị văn hóa truyền thống của một vùng đất.
2.1.1.4. Hội chợ xuân Gia Lạc:
Trong ba ngày Tết ở tất cả các vùng quê hay thành thị khác, các chợ đều
ngừng mua bán để mọi người nghỉ Tết. Thế nhưng có một chợ lại mở vào những
ngày này và chỉ họp trong ba ngày Tết mà thôi - Đó là chợ Gia Lạc ở Huế. Theo
nghĩa Hán, “Gia Lạc” có nghĩa là “ nhà nhà vui tươi” hoặc “thêm vui”. Như vậy,
chợ này lập ra để tăng thêm nguồn vui cho mọi người.
20
Chợ có từ năm 1862 thời Minh Mệnh (1820 - 1840) do con thứ tư của vua
Gia Long là Định Viễn công Nguyễn Phước Bình lập ra bên bờ sông Hương.
Lúc đầu, chợ chỉ là nơi vui chơi, trao đổi hàng hoá của hoàng tộc. Sau thấy vui,
nhân dân quanh vùng đến mua bán, rồi bày ra các trò chơi dân gian. Do vậy, chợ
Gia Lạc trở thành một hình thức hội chợ vui xuân, chợ phiên ngày Tết.
Địa điểm họp chợ tại ngã ba giáp ranh làng Nam Phổ, trên hai nẻo đường
một về Dương Nỗ, một về Ngọc Anh, cách trung tâm thành phố Huế khoảng
3km, cách bờ sông Hương khoảng 300m. Đối diện với chợ Dinh bên kia sông
Hương.
Hàng hoá ở chợ rất phong phú, từ những đồ chơi cho trẻ, đồ ăn, thức
uống…đa phần là sản vật địa phương: cau Nam Phổ - vỏ mỏng, nhỏ tơ, ruột
trong; trầu chợ Dinh nổi tiếng và được gọi là “trầu hương”. Đồ chơi cho trẻ là
chim, cá, trái cây, con giống, ông Trạng cưỡi ngựa, Bà Trưng cưỡi voi… Tất cả
đều làm từ chất liệu dân gian: bột sắn, bột gạo nhuộm màu hay đất sét. Thức ăn
thì có rất nhiều thứ nhưng có một thứ mà không bao giờ vắng mặt trong ba ngày
chợ ở đây đó là thịt bò thui.
Chợ Gia Lạc còn là điểm tập trung vui chơi trong ba ngày Tết với các trò
chơi dân gian: bài chòi, bài ghế, hò giã gạo, bài vụ, bầu cua cá…
nhiều khu vực khác nhau với các chức năng khác nhau.
Cổng chính ra vào Ðại Nội là Ngọ Môn, nhìn về hướng Nam kinh thành,
trước mặt có Cột Cờ và xa nữa là sông Hương.
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính.
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng
có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng).
"Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).
Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là nơi cực kỳ trọng
yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ
trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng
có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần
lượt theo thời gian). Các khu vực đó là:
22
Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các
hồ (hào), cầu và đài quan sát.
Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban
Sóc (ban lịch năm mới)... đến điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều
một tháng 2 lần (vào ngày 01 và 15 Âm lịch), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ
Quốc Khánh...
Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng
Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu
Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu
thờ cha vua Gia Long là Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị
bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu
ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn
thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí
theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với
rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu,
hay theo đề tài tứ thời.
Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị,
thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng
tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng,
quan văn một bên, quan võ một bên. Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định
mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay
nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng.
2.1.2.2. Lăng Khải Định.
Lăng Khải Định hay Ứng Lăng là công trình kiến trúc độc đáo với sự xâm
nhập của các trường phái, một bảo tàng mỹ thuật thu nhỏ với nét trang trí hiện
đại cũng là điểm nhấn cách tân của lăng tẩm Huế.
Lăng Khải Định là đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh,
đây thực sự là một công trình có giá trị nghệ thuật và kiến trúc.
Vua Khải Định lên ngôi năm 1916, là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn và là
người cuối cùng xây dựng lăng tẩm, chuẩn bị chỗ yên nghỉ vĩnh viễn của một
ông vua. Trị vì được một thời gian, vua Khải Định đã lo nghĩ việc tạo dựng sinh
phần cho mình. Sau khi tham khảo nhiều tấu trình của các thầy Địa, Khải Định
chọn triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) làm vị trí để xây cất lăng mộ. Tọa
lạc tại vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án;
24
lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu
bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh
25