Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học tiếng việt để rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 - Pdf 36

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ NGỌC HÀ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐÊ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2015


LÊ THỊ NGỌC HÀ

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐÊ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2

Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ HUY QUANG
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhờ sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp, tôi đã
hoàn thành đúng tiến độ.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Phó Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Huy Quang - người đã dành rất nhiều
thời gian và tâm huyết để hướng tôi hoàn thành luận văn.


Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà


STT

STT
1

2
3
4

Từ, cụm từ

Viết tắt

1

Giáo viên

GV

2
3

Học sinh

HS

Tiếng Việt

TV

Đánh giá kết quả rèn kỹ năng kể chuyện
2
Biểu đồ 3.2
Thể hiện mức độ chú ý của học
của học sinh
sinh
Bảng 3.2 Kết quả kỹ năng nói của HS lóp 2
97
Bảng 3.3
Bảng 3.4

Tổng họp mức độ hứng thú của học sinh
Tổng hợp mức độ chú ý của học sinh
trong tiết học

99
101

Trang
97
101


DANH MỤC CÁC sơ ĐÒ
ST
Số sơ đồ
T
Sơ đồ 2.1
1



tổ chức dạy học Tiếng Việt trong chương trình mới
Hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học là lấy
học sinh làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tích cực học tập của học sinh. Dạy
học TV ở tiểu học hiện nay phải thực hiện theo quan điểm giao tiếp, quan điểm
tích cực và quan điểm tích họp, với ý thức học sinh là chủ thể, học sinh làm ra con
ngưòi tinh thần của mình bằng hoạt động học tập tích cực của mình. Dạy học theo
quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo của chiến lược dạy học
TV ở tiểu học. Các nước trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động
giao tiếp là một căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ


8

thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết cho người học. Nếu như nghe và đọc là hai kỹ
năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kỹ năng
quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát
triển trong nhà trường. Nói là hoạt động sử dụng ngôn ngữ cùng các yếu tố kèm
theo nhằm truyền đạt một thông tin nào đó tới người nghe.
Trong những năm qua, trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học, dạy
TV không chỉ dạy cho các em kỹ năng đọc, viết, nghe mà điều quan trọng là dạy
các em sử dụng lời nói tình cảm trong giao tiếp. Nếu một người đọc thông, viết
thạo tất cả các văn bản, có tài, có trình độ song khi nói trước tập thể thì sợ sệt,
nhút nhát hoặc khi giao tiếp không gây được tình cảm, mối thân thiện với mọi
người, để lại ấn tượng không tốt thì người đó khó mà thành công trong công việc.
Chính vì vậy, để sau này lớn lên các em có một nhân cách tốt, biết nói
năng lễ phép, lịch sự, biết nói lòi biểu cảm trong giao tiếp và mạnh dạn khi giao
tiếp với mọi người xung quanh thì ngay từ các lóp đầu cấp của tiểu học chúng ta
cần rèn cho học sinh kĩ năng nói trong giờ dạy TV. Đó là điều rất quan trọng mà
chúng ta cần phải thực hiện. Không ai có thể làm thay, làm hộ học sinh. Vì thế,

tin trong học tập, trong cuộc sống riêng và trong giao tiếp xã hội khi học các lóp
hên.
Với mong muốn các em học sinh lóp 2 đã có khả năng nói tốt, chúng tôi
chọn đề tài “Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Tiếng Việt đế rèn kỹ
năng nói cho học sinh lớp 2”.
2. Lịch sử vấn đề
Hiện nay có rất nhiều tài liệu viết về nhiệm vụ phát triển năng lực nói cho
học sinh tiểu học như bài viết trên Tạp chí Giáo dục số 10 của tác giả Nguyễn Trí
với tiêu đề “Dạy các kỹ năng nghe nói cho học sinh tiểu học”. Tác giả đã đánh giá
cao bản chất, vai trò của hoạt động nghe - nói để từ đó phát triển kỹ năng nghe nói cho HSTH.
Với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng nói cho học
sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt”, tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được
biện pháp dạy học rèn kỹ năng nói cho HS xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi HSTH,
từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập. Trong đề
tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng nói như rèn kỹ năng phát âm,
rèn kỹ năng nói độc thoại, nói hội thoại trong đó có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ


cho HSTH.

1
0

Tác giả Đặng Thị Lệ Tâm vói cuốn “Dạy học nghi thức lời nói cho học
sinh tiểu học môn Tiếng Việf’ đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về nghi thức lời
nói, giói thiệu các kiểu bài tập dạy học theo nghi thức lời nói ở tiểu học.
Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp đễn việc rèn kỹ năng nói ở mức độ nông sâu khác nhau: “Việc
rèn luyện kỹ năng nghe và nói cho học sinh tiếu học ở California - Mỹ” của Phạm
Thị Thu Hiền in hên Tạp chí Khoa học giáo dục số 52... bài viết “Rèn luyện và


-

Đề xuất các HTTC dạy học có sử dụng pp đóng vai trong dạy học TV đế
rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu:
Chương trình TV và hoạt động dạy học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện,

Tập làm văn.
Các tài liệu phương pháp dạy học TV, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Lý luận
văn học, Thi pháp học ..V.V..CÓ liên quan tới đề tài.
-

Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi rộng: Quá trình dạy và học các phân môn Tập đọc, Ke chuyện,

Tập làm văn để rèn kỹ năng nói cho học sinh.
+ Phạm vi hẹp: Đe tài nghiên cứu trong phạm vi lóp 2 ở ba trường tiểu học
trên địa bàn thành phố Móng Cái.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
1- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của pp đóng vai, luyện nói và sử dụng
pp đóng vai trong một số phân môn TV để luyện nói hiệu quả cho học sinh.
2- Xây dựng các HTTC dạy học có sử dụng pp đóng vai trong dạy học Tập
đọc, Ke chuyện, Tập làm văn để rèn kỹ năng nói cho học sinh lóp 2 ở
một số trường tiểu học thuộc địa bàn Thành phố Móng Cái.
3- Tiến hành dạy thực nghiệm một số bài để đánh giá tính khả thi và hiệu quả

CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Một số vẩn đề chung về phương pháp đóng vai

1.1.1.1.

Phương pháp đóng vai là gì

Đóng vai là một pp dạy học thông qua mô phỏng và thường có tính chất trò
chơi (còn gọi là trò chơi đóng vai). Có nhiều hình thức trò chơi dạy học như trò
chơi tự do, trò chơi đóng vai, các trò chơi quy tắc, trò chơi lập kế hoạch, biểu diễn


kịch, biểu diễn tự do.

1
3

Như vậy pp đóng vai liên quan đến các khái niệm mô phỏng và trò chơi. Ở
các mô phỏng, người học đảm nhận các vai - thường có tính trò chơi - và/hoặc
làm việc trong những môi trường được mô phỏng, nhằm trước tiên là phát triển
năng lực hành động, năng lực quyết định trong những tình huống gắn với cuộc
sống nhưng đã được đơn giản hóa.
Các đặc điểm của các trò chơi mô phỏng:


những người quan sát. Đóng vai là một pp dạy học trong đó người học thực hiện
những tình huống hành động được mô phỏng (theo các vai) về một chủ đề gắn với
thực tiễn, thường mang tính chất trò chơi, trong các tình huống cuộc sống các vấn
đề hoặc xung đột được thể hiện. Đóng vai nhằm phát triển năng lực hành động
thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân người học và thông qua thông tin
phản hồi từ những người quan sát. Điểm khác biệt của đóng vai với tư cách là một
pp dạy học ở chỗ nó là một hoạt động học tập có kế hoạch được thiết kế nhằm đạt
được những mục tiêu giáo dục cụ thể”.
Chúng tôi quan niệm đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học
sinh hóa thân thành người khác để học sinh luyện nói, nhằm thực hành những
cách ứng xử ở một tình huống giả định. Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về
một vấn đề bằng cách tập trung vào sự kiện cụ thể mà các em phải trải nghiệm và
quan sát được. Sau việc “trình diễn”, học sinh cần thảo luận để rút ra kiến thức và
kỹ năng của bài học.
pp đóng vai là cách thức tổ chức cho HS tham gia giải quyết một tình
huống của nội dung học tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách diễn xuất
một cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trước nhằm giải quyết
tình huống này trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em. pp này
được thực hiện theo chủ đề của một tình huống cụ thể. Xây dựng kịch bản phải
phù họp, đơn giản và dễ hiểu. Việc giải quyết tình huống đó không cần xây dựng
thành kịch bản, các “diễn viên” phải nhập vai nhanh chóng, phải phát huy óc
tưởng tượng và tư duy sáng tạo, linh hoạt để giải quyết tình huống ngay trong khi
biểu diễn mà không được luyện tập trước. Như vậy, mục đích của pp đóng vai là
cụ thể hóa bài học bằng sự diễn xuất để GV có cơ sở phân tích nội dung bài giảng
chi tiết và sâu sắc hơn.
1.1.1.2.

Đặc điếm của phương pháp đóng vai



Cuốn hút và gây ấn tượng với học sinh, pp đóng vai sẽ thực sự tạo ra
không khí vui nhộn cho lóp học và tạo động lực học tập cho các em.

-

Đưa học sinh thâm nhập vào thế giới nội tâm con người, các quan hệ xã
hội phức tạp và cũng là cách tốt nhất để HS thu nhận kiến thức, thái độ và
kĩ năng ứng xử bằng chính sự trải nghiệm của bản thân.

-

Gắn kết giữa lí luận vói thực tiễn dạy học.


-

1
6

Giúp phát triển tư duy cho người học đặc biệt là tư duy sáng tạo, phản biện
- một phẩm chất hết sức quan trọng với con người hiện đại.

-

Tạo cơ hội thuận lợi để HS thể hiện hiểu biết, kỹ năng và cách ứng xử của
mình, thể hiện cá tính của mình trước người khác. Đặc biệt ngay cả những
học sinh ít nói cũng có dịp để thể hiện bản thân một cách thẳng thắn và
thoải mái.
Tuy nhiên pp này cũng có nhược điểm đó là đòi hỏi người học phải mạnh

ngoài ngôn ngữ có tác động đến hiệu quả của hội thoại.
-

Cách tổ chức đóng vai:
Khi đóng vai thực hiện một tình huống giả định, các nhân vật tham gia hội

thoại có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để phát triển đề tài, thực hiện cuộc
thoại như biện pháp hỏi, đáp, phiếu BT, đưa ra lời giải trên giấy, dùng các đồ
dùng dạy học. Nội dung cốt lõi của hoạt động đóng vai là hội thoại. Nói cách khác
hội thoại là xương sống của hoạt động đóng vai.
-

Hoạt động đóng vai:
Theo sự phát triển của tình huống giao tiếp giả định, hội thoại trong hoạt

động đóng vai được thực hiện trong mỗi giai đoạn của cuộc giao tiếp vói những
chức năng nhiệm vụ khác nhau.
+ Hoạt động mở đầu cuộc giao tiếp bao gồm những nghi thức lời nói dùng
trong lúc gặp gỡ, làm quen và các lời thoại giới thiệu đề tài giao tiếp.
+ Hoạt động hiển khai đề tài giao tiếp bao gồm những đoạn thoại của các
nhân vật để trò chuyện và thương lượng hay trình bày, phân tích trao đổi, thảo
luận... về đề tài. Tóm lại, đoạn triển khai bao gồm các đoạn thoại phát triển đề tài,
làm phong phú đề tài, chi tiết hóa đề tài.
+ Hoạt động kết thúc cuộc giao tiếp bao gồm những nghi thức lời nói dùng
trong lúc khép cuộc giao tiếp như: lòi chia tay, tạm biệt, hẹn lần gặp sau...
1.1.1.3.

Phương pháp đóng vai trong dạy học Tiếng Việt

pp đóng vai là hoạt động biểu diễn bằng lời nói. Nói chuyện và lắng nghe

cao.
Phương pháp đóng vai được sử dụng rất hiệu quả trong phân môn Tập đọc
(phân vai đọc trong hội thoại) nhưng đặc biệt biện pháp đóng vai thể hiện nhiều
ưu điểm trong những tiết Ke chuyện và Tập làm văn. Việc đóng vai không chỉ
giúp HS tiếp thu cốt chuyện một cách tốt nhất mà đó còn là biện pháp giúp HS có
sự chia sẻ, đồng cảm với các nhân vật trong câu chuyện, biết suy nghĩ nhận xét và
đánh giá về các hành vi nhân vật, bản chất nhân vật.
Thông qua hoạt động đóng vai để rèn kỹ năng nói cho HS lóp 2, chúng ta
còn có thể rèn luyện cho HS:
-

Thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an


1
9

toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
-

Gây hứng thú và chú ý cho HS trong việc học tập TV.

-

Tạo cho HS cơ hội bộc lộ thái độ và cảm xúc cũng như việc hình thành các
kỹ năng giao tiếp.

-

Tạo điều kiện làm nảy sinh sự sáng tạo của HS.

Bước 4: GV nhận xét, đánh giá
GV nêu ý nghĩa của tình huống và kết luận về cách ứng xử, nhập vai của
HS, giúp các em rút ra bài học cho bản thân.


2
0

Tuy nhiên, khi sử dụng pp đóng vai để rèn kỹ năng nói cho HS, GV cũng
lưu ý rằng:
+ pp đóng vai khác với loại hình đóng vai thông thường, ở chỗ: không có
kịch bản, không cần diễn tập, điểm chủ yếu là thể hiện cảm xúc tức thòi khi nhập
vai, nói lời của nhân vật và khi gặp phải tình huống có vấn đề.
+Đóng vai là bắt đầu cho một cuộc thảo luận, nên người đóng vai phải thực
hiện một nhiệm vụ khó khăn, là làm mẫu một cách trong số nhiều cách
giải quyết và ứng xử khác nhau.
-

Nhiệm vụ của GV là duy trì và dẫn dắt cuộc thảo luận thú vị sau khi các
vai diễn kết thúc - bằng việc gợi ý cho HS các nhóm hoặc toàn lóp tranh
luận.

-

Tình huống đóng vai phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi,
trình độ HS và điều kiện và hoàn cảnh của lóp học. Tình huống giao tiếp
trong đóng vai không cần cho trước kịch bản, lời thoại.

-



họp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù là
hành động cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kỹ năng này thông qua luyện tập đến
mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa không cần có sự
hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kỹ xảo. Ví
dụ như kỹ năng viết, đan len, đi xe đạp...
+ Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách
thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù họp vói những mục tiêu trong những điều kiện
khác nhau. Trong kỹ năng bậc hai, yếu tố linh hoạt sáng tạo là yếu tố cơ bản, đó là
cơ sở cho mọi hoạt động đạt hiệu quả cao.
Dựa trên những quan niệm nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm sau: “Kỹ
năng là hệ thống các thao tác, những cách thức hành động phù họp để thực hiện
có kết quả một hoạt động dựa trên những tri thức nhất định”.
*Kỹ năng nói: Kỹ năng nói là một trong những kỹ năng quan trọng cần
trang bị, rèn luyện cho mỗi người. Kỹ năng nói được hiểu là khả năng, trình độ
biểu đạt ngôn ngữ âm thanh. Theo đó, kỹ năng nói không đơn thuần chỉ là nói mà
còn thể hiện giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, nét mặt, khóe mắt,... để diễn đạt
được chính xác nội dung, thể hiện đúng đắn, đầy đủ mọi ý định, bộc lộ được
những tình cảm tinh tế nhất. Vì vậy, có thể khẳng định được rằng việc rèn luyện
kỹ năng nói là một hoạt động cần thiết trong nhà trường.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, kỹ năng nói thực chất là sự phối họp phức tạp
giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mắt,
ánh mắt, nụ cưòi (vận động môi, miệng), tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân, đồng thời
với ngôn ngữ nói của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa các vận


2
2

động mang một nội dung tâm lí nhất định, phù họp với mục đích, ngôn ngữ và

Hoạt động nghe luôn có sự gắn bó chặt chẽ với hoạt động nói. Từ khi còn ấu thơ,
trẻ đã được tiếp xúc với lời ru của bà, của mẹ. Khi tới trường, môi trường giao
tiếp của trẻ được mở rộng, nhu cầu giao lưu, tiếp nhận thông tin của trẻ ngày càng


2
3

cao hơn. Vì vậy, trẻ không chỉ nghe hiểu mà trẻ phải học cách nghe để phát triển
tư duy, để tạo ra cơ sở cho việc học tập rèn luyện và trưởng thành. Nếu có khả
năng nghe tốt, HS sẽ tiếp thu tốt kiến thức của các môn học, phát triển tư duy tốt
hơn. Vì vậy, vai trò của hoạt động nghe, đặc biệt học sinh lóp 2 là vô cùng quan
trọng.
Nói là sự giao tiếp trực tiếp bằng âm thanh, là sự truyền tải thông tin dưới
dạng âm thanh giữa người này với người kia. Nói còn là sự thể hiện những mối
quan hệ giữa con người với cộng đồng xã hội. Một cuộc giao tiếp thông thường
bao giờ cũng có ít nhất hai người: người nói và ngưòi nghe. Trong cuộc giao tiếp,
mặt đối mặt, hai vai nói - nghe thường luân chuyển vai cho nhau: Người nói sau
khi nói xong, chuyển thành vai nghe và ngược lại. Nói không rõ ràng mạch lạc thì
người nghe khó nắm bắt được nội dung thông tin. Và như vậy, cuộc giao tiếp sẽ
khó thực hiện, khó đạt được hiệu quả, thậm chí không giao tiếp được. Không giao
tiếp được cũng đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng tiếp xúc với cộng đồng và
tất nhiên sẽ dẫn đến nhiều hạn chế khác trong cuộc sống cũng như trong phát triển
tư duy, nhận thức.
Cùng vói thời gian, năng lực giao tiếp bằng lời nói ở mỗi người cũng được
phát triển và hoàn thiện dần, có thể nghe và hiểu được đầy đủ lời nói của người
khác để từ đó nói được những lời đúng, rõ ràng, biểu lộ được ý nghĩa, thái độ, tình
cảm của mình trong những tình huống giao tiếp khác nhau. Thông qua hoạt động
nói, con người không chỉ thực hiện việc trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, mà
còn tiếp nhận và tích lũy được kinh nghiệm, tri thức, văn hóa, những thành tựu

diễn biến cuộc hội thoại. Họ luôn luôn có sự đổi vai, từ nói sang nghe hoặc ngược
lại. Đối thoại đòi hỏi sự thích ứng nhau khi đổi vai để có thể nhập ngay vào nội
dung cuộc hội thoại.
+ Lời đối thoại thường ngắn gọn, các từ đưa đẩy chêm xen được sử dụng
nhiều tạo cho câu văn, lời văn có phong cách khẩu ngữ.
Có sự hỗ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt,
giọng cười...Trong nhiều trường hợp các yếu tố phi ngôn ngữ giúp người nghe
hiểu chính xác, đúng đắn hon ý của người nói và có tác dụng làm hấp dẫn, lôi
cuốn người nghe.
* Độc thoại


2
5

+ Người độc thoại thường giữ vai trò chủ động trong việc lựa chọn nội
dung, định hướng nói, trong việc xác định phương pháp nói. Song người nghe,
bằng cách phản ứng của mình, cũng có tác động ít nhiều đến người nói.
Người nói khôn ngoan cần đón nhận các phản ứng này để sửa đổi nội dung hoặc
cách nói cho phù họp.
+ Lời độc thoại diễn ra liên tục. Do đó, người nói ít có thời gian ngừng
nghỉ để chuẩn bị. Điều này người nói cần chuẩn bị kĩ lưỡng nội dung (thậm chí cả
ngôn từ, điệu bộ...) trước khi nói. Sự chuẩn bị không chu đáo sẽ dẫn tới tình trạng
lộn xộn hoặc luống cuống không nói được.
+ Người độc thoại có thể sử dụng các yếu tố phụ trợ như: ánh mắt, điệu
bộ, cử chỉ. Điều cần nhớ là không nên lạm dụng để tự biến thành vụng về trên sân
khấu. Dạng độc thoại có thể chia ra làm 2 loại: độc thoại trực tiếp có hiện diện của
người nghe (GV giảng bài) và độc thoại gián tiếp không có người nghe trước mặt
(các phát thanh viên truyền thanh hay truyền hình).
1.1.3.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status