Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học tiếng việt để rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ NGỌC HÀ

SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐỂ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ NGỌC HÀ

SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐỂ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2

Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐỖ HUY QUANG

HÀ NỘI, 2015



Lê Thị Ngọc Hà


iii

MỤC LỤC
Lời cảm ơn

i

Lời cam đoan

ii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục các bảng

vii

Danh mục các biểu đồ

viii

Danh mục các sơ đồ

viii


2.1.2. Đóng vai ngƣời nói trong bài thơ để đọc bài thơ. ................................. 48
2.1.3. Đóng vai các nhân vật trong câu chuyện để đọc truyện theo hình thức
đọc phân vai .................................................................................................... 48
2.2. Tổ chức đóng vai trong phân môn Kể chuyện .................................... 50
2.2.1. Tổ chức cho HS đóng vai để kể chuyện bằng lời của tác giả ............... 51
2.2.2. Tổ chức cho HS đóng vai để kể chuyện bằng lời của nhân vật ............ 52
2.2.3. Đóng vai để kể chuyện bằng lời kể sáng tạo của học sinh ...... ……….53
2.2.4. Kể chuyện phân vai ............................................................................... 54
2.2.5. Các bƣớc thực hiện khi vận dụng phƣơng pháp đóng vai để rèn kỹ năng
nói cho HS lớp 2 khi kể chuyện ...................................................................... 59
2.2.6. Giúp học sinh đóng vai theo câu chuyện .............................................. 61
2.3. Tổ chức đóng vai trong phân môn Tập làm văn ................................. 62
2.3.1. Nội dung giao tiếp ở lớp 2 .................................................................... 63
2.3.2. Quy trình tổ chức đóng vai trong dạy học các nghi thức lời nói ở phân
môn Tập làm văn lớp 2 ................................................................................... 70
2.3.3. Xây dựng nội dung đóng vai trong dạy học các nghi thức lời nói ở
phân môn Tập làm văn lớp 2 ........................................................................... 75
2.3.4. Tổ chức đóng vai qua các trò chơi học tập ........................................... 82
Kết luận chƣơng 2 ........................................................................................... 89
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................................. 91
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 91


v

3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm ....................................................... 91
3.2.1. Đối tƣợng thực nghiệm ......................................................................... 91
3.2.2. Địa bàn thực nghiệm ............................................................................. 92
3.3. Nội dung thực nghiệm ............................................................................ 93
3.3.1. Giáo án dạy thực nghiệm ...................................................................... 93

Học sinh

HS

3

Tiếng Việt

TV

4

Sách giáo khoa

SGK

5

Hình thức tổ chức

HTTC

6

Phƣơng pháp

PP

7


97

3

Bảng 3.3

Tổng hợp mức độ hứng thú của học sinh

99

4

Bảng 3.4

Tổng hợp mức độ chú ý của học sinh

101

trong tiết học


viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT

Số biểu đồ

Tên biểu đồ



Sơ đồ 2.1

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

24


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ tầm quan trọng của kỹ năng nói
Nói là một trong bốn kỹ năng TV có tầm quan trọng đối với đời sống
mỗi con ngƣời và có tác động tích cực đến các kỹ năng nghe, đọc, viết nhƣng
còn đƣợc ít rèn luyện chủ động ở tiểu học. Từ Giáo dục Mầm non, chƣơng
trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã tập trung rèn cho trẻ kỹ năng nói nhƣ: nói
rõ âm, rõ tiếng, đúng chuẩn, nói thành câu, nói mạch lạc, nói đúng nghi thức,
nói biểu cảm. Vào lớp 1, trẻ đƣợc học đọc, viết, làm quen với chữ cái, âm
vần, hoạt động nghe, nói vẫn đƣợc chú ý rèn luyện, nhƣng không đƣợc quan
tâm bằng đọc, viết. Đến lớp 2, các phân môn TV vẫn chú ý rèn kỹ năng nghe,
nói cho học sinh: nói trong kể chuyện, nói trong tập làm văn, nói để trình bày
kết quả thực hiện các bài tập, nói trong nhóm, nói trƣớc lớp. Nhƣng năng lực
nói của học sinh lớp 2 nhìn chung còn nhiều hạn chế, biện pháp để rèn kỹ
năng nói chƣa nhiều.
1.2. Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng Việt trong chương trình mới
Hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy và học là
lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tích cực học tập của học
sinh. Dạy học TV ở tiểu học hiện nay phải thực hiện theo quan điểm giao tiếp,

nói nhiều, không có con đƣờng nào khác. Vấn đề là cách nghe, cách nói sao
cho hiệu quả.
1.3. Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học có nhiều ưu thế để rèn
kỹ năng nói cho học sinh và phù hợp với lứa tuổi tiểu học
Đóng vai, học sinh đƣợc hóa thân thành ngƣời khác, trong những tình
huống giả định để các em đƣợc trải nghiệm và nói hộ các nhân vật các em
đang đóng vai. Các em sẽ biết mình phải nói gì, nói bằng giọng điệu nào, phải
có vẻ mặt, động tác tay chân nhƣ thế nào là phù hợp. Đóng vai là tạo cơ hội


3

cho các em có môi trƣờng, tình huống, nhu cầu, cảm hứng để luyện kỹ năng
nói tự nhiên. Thông qua các “vai diễn” HS đƣợc bộc lộ khả năng tự nhận
thức, khả năng giao tiếp, khả năng tự giải quyết vấn đề trong các tình huống
cuộc sống.
Trong thực tiễn giáo viên chƣa nhận thức đúng đắn vai trò,vị trí của PP
đóng vai trong dạy học các phân môn TV đề rèn kỹ năng nói cho học sinh. Vì
vậy giờ học trở nên buồn tẻ, nặng nề, kém hiệu quả. Khi đóng vai HS đƣợc
bày tỏ quan điểm, ý kiến, thái độ của mình cùng lắng nghe ý kiến, quan điểm
của ngƣời khác về các vấn đề liên quan đến nội dung bài học. Đặc biệt đối với
HS lớp 2 việc đóng vai không chỉ giúp các em học tập hứng thú, sôi nổi hơn
mà còn rèn kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp cho các em một cách hiệu quả nhất.
Việc vận dụng phƣơng pháp đóng vai trong các phân môn TV thực sự tạo môi
trƣờng học tập tích cực, chủ động cho các em học sinh, đồng thời phát triển
khả năng sáng tạo trong các vai diễn. Nếu ngay từ lớp 2 các em đã có kỹ năng
nói tốt, các em sẽ chủ động, tự tin trong học tập, trong cuộc sống riêng và
trong giao tiếp xã hội khi học các lớp trên.
Với mong muốn các em học sinh lớp 2 đã có khả năng nói tốt, chúng
tôi chọn đề tài “Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Tiếng Việt

Về PP đóng vai trong dạy học có thể kể đến công trình “Dạy học và
phương pháp dạy học trong nhà trường” (2005) của Phan Trọng Ngọ, Nhà
xuất bản Đại học Sƣ phạm Hà Nội.
Nhằm phục vụ cho nhu cầu đổi mới PP dạy học môn TV, cuốn sách
“Trò chơi đóng vai” (1999) của Muchielli Alex, Dự án Việt Bỉ “Hỗ trợ học từ
xa” (tài liệu dịch) và “Phương pháp sân khấu Becton Brech” (1983) của Đình
Quang cung cấp những kiến thức về đóng vai, nghệ thuật diễn kịch rất bổ ích,
lý thú.
Trên đây là những công trình viết về dạy học TV nói chung và PP đóng
vai nói riêng. Các công trình đó tuy không viết riêng về vấn đề rèn kỹ năng


5

nói cho HS nhƣ đề tài luận văn này quan tâm, nhƣng ngƣời nghiên cứu vẫn có
thể tiếp thu những điều bổ ích. Đó là các vấn đề có tính lý luận về nguyên tắc,
hình thức, PP dạy học môn TV nói chung. Bởi vậy Sử dụng PP đóng vai trong
dạy học TV để rèn kỹ năng nói cho HS lớp 2 là một vấn đề mới mẻ, thú vị.
Chúng tôi sẽ tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi
trƣớc để làm sáng tỏ các vấn đề mà đề tài chúng tôi quan tâm.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nâng cao năng lực nói và hoàn thiện năng lực giao tiếp bằng TV
cho HSTH.
- Đề xuất các HTTC dạy học có sử dụng PP đóng vai trong dạy học
TV để rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu:
Chƣơng trình TV và hoạt động dạy học các phân môn Tập đọc, Kể
chuyện, Tập làm văn.
Các tài liệu phƣơng pháp dạy học TV, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Lý

2- Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát chƣơng trình
sách giáo khoa, phƣơng pháp chuyên gia, thống kê, so sánh.
3- Phƣơng pháp quan sát: Đƣợc cụ thể bằng các hình thức dự giờ đối
với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 2, khảo sát hứng thú và khả năng
nói của học sinh trên lớp, ngoài lớp, nội khóa, ngoại khóa.
4- Phƣơng pháp thực nghiệm: Để đánh giá và rút ra kết luận cụ thể.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Tổ chức đóng vai trong dạy học Tiếng Việt để rèn kỹ năng
nói cho học sinh lớp 2.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.


7

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề chung về phương pháp đóng vai
1.1.1.1. Phương pháp đóng vai là gì
Đóng vai là một PP dạy học thông qua mô phỏng và thƣờng có tính
chất trò chơi (còn gọi là trò chơi đóng vai). Có nhiều hình thức trò chơi dạy
học nhƣ trò chơi tự do, trò chơi đóng vai, các trò chơi quy tắc, trò chơi lập kế
hoạch, biểu diễn kịch, biểu diễn tự do.
Nhƣ vậy PP đóng vai liên quan đến các khái niệm mô phỏng và trò
chơi. Ở các mô phỏng, ngƣời học đảm nhận các vai - thƣờng có tính trò chơi và/hoặc làm việc trong những môi trƣờng đƣợc mô phỏng, nhằm trƣớc tiên là
phát triển năng lực hành động, năng lực quyết định trong những tình huống
gắn với cuộc sống nhƣng đã đƣợc đơn giản hóa.
Các đặc điểm của các trò chơi mô phỏng:

những ngƣời quan sát. Điểm khác biệt của đóng vai với tƣ cách là một PP dạy
học ở chỗ nó là một hoạt động học tập có kế hoạch đƣợc thiết kế nhằm đạt
đƣợc những mục tiêu giáo dục cụ thể”.
Chúng tôi quan niệm đóng vai là phƣơng pháp giáo viên tổ chức cho
học sinh hóa thân thành ngƣời khác để học sinh luyện nói, nhằm thực hành
những cách ứng xử ở một tình huống giả định. Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ
sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào sự kiện cụ thể mà các em phải
trải nghiệm và quan sát đƣợc. Sau việc “trình diễn”, học sinh cần thảo luận để
rút ra kiến thức và kỹ năng của bài học.
PP đóng vai là cách thức tổ chức cho HS tham gia giải quyết một tình
huống của nội dung học tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách diễn
xuất một cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trƣớc nhằm


9

giải quyết tình huống này trên cơ sở óc tƣởng tƣợng và ý nghĩ sáng tạo của
các em. PP này đƣợc thực hiện theo chủ đề của một tình huống cụ thể. Xây
dựng kịch bản phải phù hợp, đơn giản và dễ hiểu. Việc giải quyết tình huống
đó không cần xây dựng thành kịch bản, các “diễn viên” phải nhập vai nhanh
chóng, phải phát huy óc tƣởng tƣợng và tƣ duy sáng tạo, linh hoạt để giải
quyết tình huống ngay trong khi biểu diễn mà không đƣợc luyện tập trƣớc.
Nhƣ vậy, mục đích của PP đóng vai là cụ thể hóa bài học bằng sự diễn xuất để
GV có cơ sở phân tích nội dung bài giảng chi tiết và sâu sắc hơn.
1.1.1.2. Đặc điểm của phương pháp đóng vai
Đóng vai là một PP dạy hội thoại, tuy mang tính chất kịch nhƣng không
hoàn toàn là một vở kịch. Đây chỉ là một cách thức một phƣơng pháp để học
sinh học tập. Nó diễn ra ngay trong lớp học, không đòi hỏi sự trang trí, phông
màn phức tạp. Các đoạn thoại kể tiếp nhau đƣợc tạo ra để phát triển bài hội
thoại, thúc đẩy cuộc giao tiếp mà không tuân theo một kịch bản có sẵn nhƣ

- Giúp phát triển tƣ duy cho ngƣời học đặc biệt là tƣ duy sáng tạo, phản
biện - một phẩm chất hết sức quan trọng với con ngƣời hiện đại.
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thể hiện hiểu biết, kỹ năng và cách ứng
xử của mình, thể hiện cá tính của mình trƣớc ngƣời khác. Đặc biệt ngay cả
những học sinh ít nói cũng có dịp để thể hiện bản thân một cách thẳng thắn
và thoải mái.
Tuy nhiên PP này cũng có nhƣợc điểm đó là đòi hỏi ngƣời học phải
mạnh dạn, sáng tạo; dễ gây cƣời cho cả ngƣời diễn và ngƣời xem và không
quan tâm đƣợc hết diễn biến, cách giải quyết tình huống của các nhân vật.
PP đóng vai bao gồm 3 khía cạnh cơ bản đó là: ngƣời tham gia đóng
vai, cách tổ chức đóng vai và nội dung của hoạt động đóng vai.
- Ngƣời tham gia đóng vai:
Ngƣời tham gia đóng vai là HS trong tổ, trong lớp. Các em đóng vai
không nhằm luyện tập các kỹ năng biểu diễn để đạt đƣợc mục đích sau này


11

trở thành diễn viên kịch. Các em đóng vai chủ yếu nhằm mục đích tập dƣợt
theo đề tài hội thoại, sản phẩm của các lần đóng vai là các màn hội thoại hoặc
giao tiếp để sau đó cả lớp cùng phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm. Mục
đích gần, hẹp của việc đóng vai là hoàn thành một BT hội thoại, còn mục đích
xa, rộng là hình thành kỹ năng hội thoại, tích lũy kinh nghiệm ứng xử trong
hội thoại để chuẩn bị cho các cuộc hội thoại đích thực các em sẽ trải qua trong
cuộc đời.
Sở dĩ có thể huy động HS tham gia đóng vai trong các tình huống giao
tiếp giả định vì các tình huống đó chỉ khai thác kỹ năng, kinh nghiệm hội
thoại và giao tiếp đã đƣợc HS tiếp nhận một cách tự phát trong cuộc sống.
Sau đó sẽ nâng cao và phát triển các kỹ năng, kinh nghiệm hội thoại của các
em. Điều kiện tiên quyết là tình huống giao tiếp giả định đƣa ra dạy ở Tiểu

này có thể thực hiện đƣợc thông qua việc sử dụng hoạt động đóng vai trong
lớp học. Vai trò của việc đóng vai đƣợc nhà nghiên cứu Wagner (1990) khẳng
định: “Đóng vai một câu chuyện vừa mới đọc hay đóng vai câm giúp trẻ tiếp
thu được ý nghĩa của ngôn ngữ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân, biến
những từ ngữ không quen thuộc thành từ ngữ của riêng mình. Giống như nói
chuyện, hoạt động đóng vai trong lớp học có những ảnh hưởng tích cực tới
hoạt động viết và đọc”.
Đóng vai không chỉ phát triển kỹ năng nghe - nói mà việc thảo luận sau
vở kịch có tác dụng hỗ trợ các kỹ năng đóng vai. Trẻ em cần có cơ hội phản
biện lại những gì các em đã làm và thảo luận về những điều diễn ra, đặc biệt
đó là cơ sở để trẻ thể hiện cảm xúc của bản thân về những sự kiện xảy ra
trong vở kịch.
Đóng vai giúp cho trẻ có cơ hội tự điều khiển hành động của bản thân
khi giao tiếp với ngƣời khác. Đóng vai cũng là sự tập dƣợt, thực hành sự kết
hợp giữa ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ cơ thể (tƣ thế, biểu cảm cảm xúc trên
khuôn mặt, hoạt động chân, tay,…) Các kĩ thuật này có thể đƣợc ứng dụng


13

trong cuộc sống thực tiễn. Khẳng định vai trò của biện pháp đóng vai, Sabasta
viết (1993): “Đóng vai có một tác dụng tích cực lên việc đọc, hiểu, viết, các
kỹ năng ứng dụng ngôn ngữ Nói và các kỹ năng tư duy phê phán”. Đóng vai
đã giúp HS hình thành và phát triển khả năng giao tiếp, khả năng thích ứng
với các tình huống giao tiếp. Thông qua các hoạt động của phƣơng pháp đóng
vai, HS có rất nhiều cơ hội để luyện tập kỹ năng nghe - nói trong từng tình
huống khác nhau với nhiều vai giao tiếp phong phú đa dạng. Một điều quan
trọng hơn, đóng vai là sự thể hiện khả năng giao tiếp kết hợp với khả năng
diễn xuất, là sự liên kết giữa ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ cơ thể. Đây chính
là cơ hội tuyệt vời giúp HS rèn kỹ năng nghe - nói ở mức độ cao.

Bƣớc 3: HS thực hiện đóng vai
- Các nhóm đóng vai sau khi đã hoàn thành bƣớc 2.
- Lớp thảo luận và đƣa ra nhận xét theo gợi ý:
+ Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chƣa phù hợp? Nếu chƣa
phù hợp thì là ở chỗ nào?
+ Cảm xúc của vai diễn đƣợc bộc lộ thế nào khi thực hiện cách ứng xử?
+Phát hiện thêm những cách ứng xử khác ? (phân tích, tranh luận về
ích lợi hoặc tác hại hay hạn chế của mỗi cách ứng xử…)
Bƣớc 4: GV nhận xét, đánh giá
GV nêu ý nghĩa của tình huống và kết luận về cách ứng xử, nhập vai
của HS, giúp các em rút ra bài học cho bản thân.
Tuy nhiên, khi sử dụng PP đóng vai để rèn kỹ năng nói cho HS, GV
cũng lƣu ý rằng:
+ PP đóng vai khác với loại hình đóng vai thông thƣờng, ở chỗ: không
có kịch bản, không cần diễn tập, điểm chủ yếu là thể hiện cảm xúc tức thời
khi nhập vai, nói lời của nhân vật và khi gặp phải tình huống có vấn đề.
+Đóng vai là bắt đầu cho một cuộc thảo luận, nên ngƣời đóng vai phải
thực hiện một nhiệm vụ khó khăn, là làm mẫu một cách trong số nhiều cách


15

giải quyết và ứng xử khác nhau.
- Nhiệm vụ của GV là duy trì và dẫn dắt cuộc thảo luận thú vị sau khi các
vai diễn kết thúc - bằng việc gợi ý cho HS các nhóm hoặc toàn lớp tranh luận.
- Tình huống đóng vai phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa
tuổi, trình độ HS và điều kiện và hoàn cảnh của lớp học. Tình huống giao tiếp
trong đóng vai không cần cho trƣớc kịch bản, lời thoại.
- GV phải dành thời gian cho các nhóm chuẩn bị đóng vai và nên khích
lệ những HS nhút nhát cùng tham gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status