A. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài :
Trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các
môn học khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng
đào tạo nên những con người phát triển toàn diện.
Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgic và tính chính xác cao, nó
mở ra sự phát triển của các bộ môn khoa học khác.
Muốn học sinh Tiểu học tốt được môn Toán thì mỗi người giáo viên
không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đó có sẵn trong Sách giáo
khoa, trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy
móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì
việc học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ
không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các
em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với
những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học
môn Toán ở bậc Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo
của học sinh. Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho các
em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Trò chơi học
tập là một hoạt động mà các em hứng thú nhất. Các trò chơi có nội dung toán
học lý thú và bổ ích phù hợp với việc nhận thức của các em. Thông qua các trò
chơi các em sẽ lĩnh hội những tri thức toán học một cách dễ dàng, củng cố, khắc
sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong
học tập, trong việc làm. Khi chúng ta đưa ra được các trò chơi toán học một cách
thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học môn toán sẽ ngày một
nâng cao.
Ở bậc Tiểu học, đặc biệt là lớp 1, khi các em vừa kết thúc lứa tuổi vui
chơi của mình mà bước vào học tập, vừa học, vừa chơi. Vì thế, việc tổ chức trò
chơi cho các em trong những giờ học là việc làm không thể thiếu, nó có vai trò
vô cùng quan trọng phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của lứa tuổi Tiểu học.
Đặc biệt, trong giờ học Toán, việc tổ chức trò chơi cho các em bên cạnh việc
chỉ giúp các em lĩnh hội được tri thức mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu
các tri thức đó.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu :
3.1. Nhiệm vụ :
- Nghiên cứu nội dung , cấu trúc chương trình sách giáo khoa Toán 1.
- Nghiên cứu phương pháp tổ chức, hướng dẫn trò chơi cho học sinh trong
giờ học toán lớp 1. Áp dụng thực tiễn trò chơi theo từng bài, từng phần của nội
dung chương trình SGK Toán 1.
- Soạn giáo án một bài với việc áp dụng trò chơi cho một giờ học cụ thể.
- Đề xuất những ý kiến riêng về việc tổ chức trò chơi Toán học và những
biện pháp giảng dạy có hiệu quả khi sử dụng trò chơi trong dạy học Toán lớp 1.
3.2. Phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng : Học sinh lớp 1
- Tài liệu : Sách giáo khoa Toán 1, sách giáo viên Toán 1, sách Trò chơi
toán học nói chung…
4. Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này, tôi đó sử dụng các phương pháp sau :
a. Nghiên cứu tài liệu :
-2-
- Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục .... có liên quan đến nội dung
đề tài.
- Đọc SGK, sách giáo viên, các loại sách tham khảo : Toán tuổi thơ, giúp
em vui học toán.
b. Nghiên cứu thực tế :
- Dự giờ, trao đổi ý kiến với giáo viên về nội dung các trò chơi toán học.
thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là khi hoạt
động quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí.
- Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi
chúng không tập trung cao độ. Vì vậy, người giáo viên phải tạo ra hứng thú
trong học tập và phải thường xuyên được luyện tập.
- Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện
tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh.
- Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các
em chóng chán. Do vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy
học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò
chơi xen kẽ ... để củng cố khắc sâu kiến thức.
III. Nhu cầu về đổi mới phương pháp dạy học :
Học sinh Tiểu học có trí thông minh khá nhạy bén sắc sảo, có óc tưởng
tượng phong phú. Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy toán học nhưng rất dễ
bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng, quá tải. Chính vì thế nội dung chương
trình, phương pháp giảng dạy, hình thức chuyển tải, truyền đạt làm thế nào cho
phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi là điều không thể xem nhẹ. Đặc biệt đối với học
sinh lớp 1, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ
hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo. Ở lứa tuổi mẫu giáo, các em
được học theo cách vui chơi là chủ yếu nên yêu cầu về kỷ luật học tập và kết quả
học tập không đặt ra nghiêm ngặt đối với mỗi em. Lên đến lớp 1 thì yêu cầu đó đặt
ra là thường xuyên đối với các em ở tất cả các môn học. Như vậy nói về cách học,
về yêu cầu học thì trẻ lớp 1 gặp phải một sự thay đổi đột ngột mà đến cuối năm lớp
các em mới quen dần với cách học đó. Do vậy giờ học sẽ trở nên nặng nề, không duy
trì được khả năng chú ý của các em nếu các em chỉ có nghe và làm theo.
Muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới
phương pháp dạy học tức là kiểu dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” hướng
tập trung vào học sinh, trên cơ sở hoạt động của các em. Kiểu dạy này người
cách.Chơi là một yêu cầu mang tính sinh học của trẻ em nhất là đối với lứa tuổi
mẫu giáo và lứa tuổi học sinh lớp 1. Có thể nói, nó quan trọng như ăn, ngủ, học
tập trong đời sống các em. Chính vì vậy các em luôn tìm mọi cách và tranh thủ
thời gian trong mọi điều kiện để chơi. Chính và lẽ đó mà trong mọi giờ học, mọi
tiết học, ở tất cả các môn nói chung và môn Toán nói riêng đều phải thiết kế trò
chơi vào trong từng tiết học nhằm khắc sâu kiến thức cũ, giới thiệu kiến thức
mới. Trò chơi trong giờ học được xem như nội dung, phương pháp, phương tiện
để giảng dạy các môn học nói chung và môn Toán nói riêng.
Trong quá trình chơi, đã xây dựng cho các em tác phong khẩn trương, nhanh
nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo… góp phần giáo dục đạo đức, hình thành nhân
cách cho học sinh. Khi tham gia trò chơi các em vận dụng kiến thức đã học, vận
dụng trí thông minh và sự sáng tạo của mình để khắc sâu kiến thức.Bên cạnh đó
người giáo viên có cơ hội động viên, khích lệ học sinh hăng say học tập tham
gia chơi nhiệt tình, từ đó tạo cho trẻ một tinh thần thoải mái vì trẻ “ học mà chơi,
chơi mà học”.
Như vậy, trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo
dục.
CHƯƠNG II.MỘT SỐ TRÒ CHƠI TOÁN
LỚP 1
I.Những nguyên tắc khi sử dụng phương pháp tổ chức trò
chơi:
-5-
Căn cứ nội dung kiến thức, trình độ học sinh và điều kiện hiện có, giáo viên
lựa chọn trò chơi để dựa vào dạy học như một hoạt động dạy học Toán. Giáo
viên phải thật đặc biệt chú ý xác định rõ mục đích học tập của trò chơi.
Để phục vụ cho bài giảng hoàn thành tốt, giáo viên cần soạn cả các bước tổ chức
+ Nêu tên trò chơi
+ Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rừ luật chơi.
- Chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi
- Chơi thật
-6-
- Nhận xét kết quả chơi, thái độ của ngươi tham dự, giáo viên có thể nêu
thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh.
-Đánh giá kết quả: Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét đánh giá kết
quả của học sinh. Để đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi giáo viên phải
thống kê ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng đội tham gia chơi.
Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi giáo viên đánh giá cuộc
chơi và phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng. Giáo viên phải hết súc lưu
ý vấn đề này vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật chơi rất khắt khe nhưng
khi đánh giá kết quả lại đại khái không chính xác hoặc không công bằng vì vậy
đã làm cho học sinh mất phấn khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự
đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của giáo viên.
Có thể nói điều khiển tiến trình một cuộc chơi ( nhất là với học sinh Tiểu
học, các em hiếu động và mức độ hiểu biết còn có hạn) sao cho sôi nổi, sinh
động, hấp dẫn lôi cuốn được học sinh tham gia chơi một cách thích thú đó là
nghệ thuật của nhà sư phạm. Có lẽ chỉ có lòng yêu nghề, mến trẻ, sự ham học
hỏi nghiên cứu, tích luỹ kinh nghiệm thì nghệ thuật đó mới ngày càng phong
phú và hoàn thiện được.
II. Giới thiệu một số trò chơi được áp dụng trong quá
trình dạy học Toán học lớp 1 :
+ Cấu trúc chương trình sách giáo khoa toán lớp 1 gồm 4 phần:
- Số học và các yếu tố đại số
+Cách chơi:
GV chia lớp làm ba nhóm:
- Giáo viên đưa hai nhóm đối tượng có số lượng khác nhau. Các nhóm
nhìn nhanh nêu nhanh xem nhóm đồ vật nào có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ
vật nào có số lượng ít hơn.
- Giáo viên đưa tranh vẽ: Một bên có 4 quyển vở, một bên có 3 cái bút
( cách vẽ tương ứng 1-1). Học sinh nêu nhanh xem vở nhiều hơn bút hay bút
nhiều hơn vở.
+ Tổng kết trò chơi:
Nhóm nào có số người nêu nhanh và đúng nhiều thì nhóm đó thắng. Giáo viên
khen thưởng học sinh nêu nhanh (có thể khen thưởng bằng vật thật như trong trò
chơi: quyển vở, cái bút)
Bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác:
-Giới thiệu cho học sinh nhận dạng tổng thể của các hình: Hình
vuông, hình tròn, hình tam giác. Thông qua các bài này còn dùng cho việc dạy
số học ( làm đồ dùng trực quan ).
-Giúp cho học sinh nhận ra và nêu đúng tên của hình vuông, hình
tròn, hình tam giác.
-Học sinh nhận ra hình vuông, hình tròn, hình tam giác từ các vật thật.
* Ví dụ: Trò chơi 1: Ai
nhanh hơn
+ Mục đích:
Nhằm củng cố cho bài hoc: Giúp học sinh nhận biết và đọc tên được các hình
vuông, hình tròn và hình tam giác. Từ đó nhận biết các hình này qua vật thật.
+Chuẩn bị:
5 hình vuông, 5 hình tròn, 5 hình tam giác.
+Cách chơi:
- Giáo viên gắn lên bảng 5 hình vuông, 5 hiònh tròn, 5 hình tam giác.
- Đây là 5 số trực giác mà được thế giới quan niệm nê chỉ dạy 2 tiết và
luyện tâp.
- Hình thành khái niệm ban đầu về số 1, số 2, số 3, số 4, số 5 ( mỗi số đại
diện cho 1 lớp các nhóm đối tượngcó cùng số lượng ).
- Học sinh biết đọc và viết các số: 1; 2; 3; 4; 5.
- Nhận biết số lượng các nhóm số có: 1; 2; 3; 4; 5 đồ vật và thứ tự của các
số 1; 2; 3; 4; 5.
* Ví dụ: Trò chơi: Ai
đúng, ai sai:
+ Mục đích:
-9-
Học sinh đọc, viết , sắp tứ tự các số từ 1 đến 5. Nhận biết được số lượng
các nhóm có 1; 2; 3; 4; 5 đồ vật.
+ Chuẩn bị:
Các tấm bìa vẽ 1; 2; 3; 4; 5 chấm tròn, mỗi nhóm chuẩn bị 1 bộ đồ dùng
thực hành Toán.
+ Cách chơi: ( 3 lượt chơi )
- Giáo viên chia lớp làm các nhóm 4 hoc sinh.
- Giáo viên giơ tấm bìa có vẽ 1; 2; 3; 4; 5 chấm tròn.
- Các nhóm bàn nhanh chọn số tương ứng với số chấm tròn mà
giáo viên đưa .
+ Tổng kết trò chơi:
Trong 3 lượt chơi nếu nhóm nào chọn số nhanh và đúng nhiều hơn thì nhóm đó
thắng.
- Giáo viên tuyên dương nhóm thắng và khen tinh thần tham gia
8
6
5
9
4
- 12 miếng bìa nhỏ, trong đó 5 miếng viết dấu “>” , 3 miếng viết dấu “=”
và 4 miếng viết dấu “;
làm nhanh và đúng
+Đáp án có thể:
1
3
2
5
0
Trò chơi :Bác đưa thư
(áp dụng dạy bảng cộng,bảng trừ)
Cụ thể: Dạy bài: phép trừ trong phạm vi 9
+ Mục đích: Giúp học sinh thuộc làu bảng trừ trong phạm vi 9. Kết hợp
với thói quen nói “cám ơn” khi người khác giúp một việc gỡ đó .
+ Chuẩn bị: - Một số thẻ, mỗi thẻ cú ghi 1 số : 1, 2, 3, 4, 5 ,6, 7, 8 là kết
quả của của phép trừ để làm số nhà.
- Một số phong bì có ghi phép trừ : 9 – 6; 9 – 5; 9 – 3; 9 – 2…
- Một tấm các đeo ở ngực ghi “Nhân viên bưu điện”
+Cách chơi:
- Gọi 1 số em lên bảng chơi giáo viên phát cho mỗi em 1 thẻ để làm số
nhà. Một em đóng vai “Bác đưa thư” ngực đeo “Nhân viên Bưu điện” tay cầm
tập phong bì.
+ Một số em đứng trên bảng , lần lượt từng em một nói:
Bác đưa thư ơi
Cháu có thư không?
Đưa giúp cháu với
Số nhà . . .là 8
9
+ 10 chị Ong trên mỗi mảnh có ghi phép tính, đằng sau có gắn nam châm.
9-3
10 - 5
4+5
10 - 3
0+8
7+5
+ Phấn màu
- Cách chơi :
+ Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em
+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú
Ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.
Có 2 bông hoa trên những cánh hoa la các kết quả của phép tính , còn
những chi Ong thì chở các phép tính đi tìm kết quả của mình.Nhưng nếu các chú
ong không biết tìm như thế nào? Các chú muốn nhờ các con giúp , các con có
giúp được không ?
- 2 đội xếp thành hàng. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu” thì lần lượt từng
bạn lên nối các phép tính với số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu
tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép tính.
Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.
- 13 -
* Lưu ý :
+ Trò chơi này không cần phải chuẩn bị đồ dùng, giáo cụ ..
+ Trò chơi này có thể áp dụng được vào nhiều bài (Ví dụ : Luyện tập các
bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 ) và có thể thay đổi hình thức “truyền”. Ví dụ :
1 em hô to “5 + 2” và chỉ vào em tiếp theo để truyền thì em này chỉ việc nói kết
quả “bằng 7”. Hay “17 - 7 ” truyền vào bạn tiếp theo nói “bằng 10”.
+ Trò chơi này không cầu kỳ nhưng vẫn tạo được không khí vui, sôi nổi,
hào hứng trong giờ học cho cỏc em.
Trò chơi : Ai nhiều điểm nhất
(Tiết 112; 113: Luyện tập)
+ Mục đích :
- 14 -
+ Luyện tập củng cố kỹ năng cộng 2 số không nhớ trong phạm vi 100
+ Tập cho học sinh cách đánh giá, cho điểm
+ Chuẩn bị :
+ 2 chậu cây cảnh có đánh số 1, 2
+ Một số bông hoa cắt bằng giấy màu cứng, mặt trước màu trắng ghi các
phép tính như :
25 + 64
18 + 20
45 + 30
6 + 32
12 + 35
53 + 21
34 + 14
37 + 12
5 + 10
giản.
- 15 -
-Giúp học sinh bước đầu biết dùng thước cạnh chia từng cm để vẽ đoạn
thẳng có độ dài cho trước.
+Khi dạy các dạng bài này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi qua đồ
dùng trực quan:
*Ví dụ:
Trò chơi: Bác nông dân giỏi:
+Mục đích:
Học sinh biết dùng thước chia cm để đo đoạn thẳng.
+ Chuẩn bị:
3 tờ bìa hình chữ nhật mặt sau có bông hoa điểm 10, 3 thước
thẳng chia cm.
+Cách chơi:
- Giáo viên chia lớp làm 3 nhóm, yêu cầu các nhóm cử đại diện 1
bạn tham gia chơi.
- Giáo viên treo tờ bìa đã định kích thước và nói: Một bác nông dân
được hợp tác xã chia cho một mảnh vườn hình chữ nhật nhưng chưa rõ kích
thước là bao nhiêu. Em hãy giúp bác ấy đo lại thửa ruộng nhà mình.
- Học sinh dùng thước đo các cạnh mẳnh vườn ( tờ bìa ).
+ Tổng kết trò chơi: Tuyên dương, khen thưởng cho học sinh đo nhanh
và chính xác tờ bìa có bông hoa điểm 10 đó.
2.Các ngày trong tuần lễ:
Đồng hồ, thời gian ( giờ )
- Cho học sinh làm quen với các đơn vị đo thời gian: Ngày, tuần lễ.
- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt ngày trong tuần, ngày trong tháng, tên
tháng được ứng dụng trong đời sống.
+ Chuẩn bị:
- Giáo viên chuẩn bị 2 bảng kẻ sẵn như sau:
Hôm qua
Thứ
Tư
Ngày Tháng
27
Hôm nay
Thứ
Ngày
Hai
28
Ngày mai
Tháng
Thứ
19
7
*Lưu ý: Trò chơi này có thể tổ chức chơi cả lớp thi đua giữa các cá nhân
( phôtô cho mỗi học sinh 1 bản ), cô giáo sẽ khen thưởng 3 cá nhân xong sớm
nhất.
III. Yếu tố hình học.
- 17 -
- Bước đầu nhận dạng về hình vuông, hình tròn, hình tam giác.
- Giới thiệu về điểm, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình, đoạn thẳng,
- Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông., gấp, ghép các
hình.
- Học sinh biết vẽ hình qua các điểm, đoạn thẳng.
- Có biểu tượng về dài hơn, ngắn hơn, từ đó có biểu tượng về độ dài đoạn
thẳngqua đặc tính dài - ngắn của chúng.
- Biết so sánh độ dài các đoạn ( trực tiếp hoặc gián tiếp )
- Học sinh nhận ra và nêu đúng tên các hình: Hình vuông, hình tròn, hình
tam giác.
- Bước đầu nhận ra hình ra hình vuông, hình tròn, hình tam giác thông qua
các vật thật vì sang phần này học sinh chỉ nhận biết trực quan qua các hình vẽ cụ
thể, cho nên trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên nên tổ chức các trò chơi
đơn giản.
Để sử dụng trò chơi khi dạy phần này tôi thường cho học sinh chơi các trò
chơi sau:
Trò chơi: Câu trả lời đúng.
+ Mục đích: Học sinh biết tìm số lượng hình tam giác, hình vuông.
+ Chuẩn bị: Tờ bìa có vẽ 2 hình: 1 tam giác và 1 hình vuông:
+Cách chơi: - Giáo viên chia lớp làm các nhóm 4 học sinh.
- Giáo viên treo tờ bìa có vẽ hình như trên và nêu: “ Bạn Lan nói
IV: Giới thiệu bài toán có lời văn.
-Giải các bài toán bằng 1 phép tính công, trừ. Chủ yếu các bài toán thêm,
bớ một số đợn vị.
- Bước đầu nhận biết các việc thường làm khi giải bài toán có lời văn.
+ Tìm hiểu bài: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?
+ Giải bài toán : Thực hiện phép tính để tìm điều chưa biết nêu trong câu
hỏi.
+ Trình bày bài giải ( lời giải, phép tính, đáp số )
- Bước đầu tập cho học sinh tự giải bài toán.
- Giúp học sinh củng cố kĩ năng giải và thực hiện bài giải toán có lời văn.
*Trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên tổ chức trò chơi cho học sinh, giúp
các em dựa vào mô hình tranh, ảnh để tự lập bài toán.
Trò chơi : Con vật nhà em
(Tiết: Giải bài toán có lời văn – trang 117, Luyện tập – trang 121,
122, 150, 151, …)
+ Mục đích : Rèn kỹ năng đọc, hiểu tóm tắt đề toán và giải bài toán có
lời văn
+Chuẩn bị :
- Một số tranh con vật : gà, ngan, ngỗng, thỏ (tranh nhỏ)
- Một số thẻ ghi tóm tắt đề toán ở mặt trước và đáp số ở mặt sau
- Sân chơi : vẽ các ô, mỗi ô đặt 1 thẻ theo thứ tự sơ đồ dưới đây :
Ga: 5 con
Ngan: 4 con
Co tat ca:…con ?
1
Sau cuộc chơi nếu ai được nhiều con vật nhất thỡ người đó sẽ thắng cuộc.
* Lưu ý : Sau mỗi em chơi giáo viên có thể đổi các thẻ để có đề toán khác.
V. Các bài ôn tập cuối năm
- Giúp học sinh củng cố, hệ thống lại kiến thức đã được học từ đầu năm,
rèn luyện tư duy trong giờ ngoại kkoá.
- Cấu tạo số trong phạm vi 10, 100.
- Củng cố phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10, 100 ( không nhớ ). Mối
quan hệ phép cộng và phép trừ.
- Khắc sâu các biểu tượng về hình vuông, hình tròn, hình tam giác, nối
các điểm cho trước, vẽ và đo đoạn thẳng có đơn vị cm.
- Củng cố giải toán có lời văn. Về thời gian: Ngày giờ.
+ Khi dạy các bài này tôi thường sử dụng 1 số trò chơi sau:
Trò chơi: Thi
đếm cách 2.
+ Mục đích: Giúp học sinh nhớ lại về thứ tự các số, sắp xếp các số theo
thứ tự tăng dần, giảm dần.
Luyện tập giúp học sinh cộng nhẩm với 2, trừ nhẩm đi 2.
+ Chuẩn bị: Không cần đồ dùng nào.
+ Cách chơi: Cho học sinh đứng vòng tròn. Một học sinh bắt đầu đếm
2, theo chiều kim đồng hồ, học sinh tiếp theo đếm 4, học sinh tiếp thei đếm 6…
Cứ như thế cho đến hết khi có lệnh dừng. Chẳng hạn: Lệnh dừng ở số 32 theô
chiều ngược chiều kim đồng hồ học sinh lần lượt đếm 30, 28, 26…khi có lệnh
dừng hoặc đến số 0 thì lại đổi chiều đếm.
+Tổng kết trò chơi: Học sinh nào đếm sai phải nhảy lò cò.
*Lưu ý : Trò chơi này có thể chuyển thành trò chơi đếm cách 3, cách 4…
Trò chơi :
Tìm đường về nhà cho 3 chú ếch
- Hướng dẫn: Có 3 chú ếch xanh mải đi tắm mưa nên bị lạc đường về nhà.
Em hãy chỉ đường cho mỗi chú ếch về đúng nhà của mình kẻo trời sắp tối. Biết
rằng muốn về được nhà phải giải đúng bài toán ghi trên lưng mỗi chú ếch.
Sau khi 3 học sinh mỗi đội dùng 3 bút màu khác nhau để tìm đường về nhà
cho ếch. Giáo viên cho từng em đọc lại để kiểm tra. Nhận xét đội thắng thua.
*Lưu ý : - GV có thể thay số để được nhiều học sinh tham gia chơi.
- Trò chơi này còn có thể áp dụng cho các bài ôn tập cộng trừ trong phạm vi
10, 100.
Trò chơi: Cùng leo dốc
(áp dụng trong những tiết ôn toán cuối năm)
+ Mục đích :
- 22 -
- Luyện kĩ năng tính nhẩm các phép tính cộng, trừ trong phạm vi
đó học
+ Chuẩn bị :
- 2 bảng phụ hoặc 2 tờ bìa cứng ghi nội dung như sau
- Phấn màu hoặc bút dạ
90 - 40 =
0 + 27 =
52 - 41 =
34 + 45 =
76 - 45 =
16 + 3 =
87- 56 =
II.
GIÁO ÁN MINH HỌA
Môn: Toán
Bài: Phép trừ dạng 17 – 3
I. Mục tiêu:
- Kiến thức: Học sinh biết làm tính trừ ( không nhớ ) trong phạm vi 20
Tập trừ nhẩm ( dạng 17 – 3 )
Ôn tập, củng cố lại phép trừ trong phạm vi 10.
- Kĩ năng: Rèn kĩ năng đặt tính và tính nhẩm cho học sinh.
- Thái độ: Biết vận dụng toán học vào cuộc sống.
II. Đồ dùng dạy - học:
+ Giáo viên: Bảng gài, que tính, bảng phụ, đồ dùng phục vụ trò chơi.
III. Các hoạt động dạy học chủ yếu
1. Kiểm tra bài cũ (5’)
- Gọi 3 học sinh đại diện cho 3 dãy lên bảng.
Dưới lớp làm bảng con theo bạn trong dãy của mình.
Đặt tính rồi tính: 13 + 5
11 + 6
15 + 4
- Gọi học sinh nhận xét bài trên bảng
- Giáo viên nhận xét chung , chấm điểm bài trên bảng.
2. Dạy học bài mới (30’)
3.
a, Giới thiệu bài (1’):
- GV viết phép trừ 17 – 3 lên bảng.
? Ai có thể tìm được kết quả của phép tính này ?
( Gọi học sinh khá, giỏi nêu )
? Để thực hiện được phép tính này bước thứ nhất
ta phải làm gì?
? Nêu cách đặt tính?
-Gọi HS khác nhắc lại.
? Bạn nào tính được?
-GV nhận xét và gọi HS khác nêu cách tính
-GV ghi bảng:
17
3
7 trừ 3 bằng 4, viết 4.
14
Hạ 1, viết 1
-Yêu cầu học sinh nhắc lại.
-GV đưa ví dụ: 15 – 4 yêu cầu cả lớp đặt tính
vào bảng con và tính.
-GV hướng dẫn chữa bài.
3.Luyện tập:
Bài 1: Bài yêu cầu gì?
-Yêu cầu 3 em lên bảng làm, dưới lớp làm vở
viết.
-GV gọi HS nhận xét, chữa bài trên bảng
-GV chỉ vào 1 phép tính và yêu cầu HS nêu lại
cách đặt tính và thực hiện tính.
Bài 2: Gọi HS nêu yêu cầu.
? So sánh sự giống và khác nhau của bài 1 và bài
2?
+Bài tập 2 đã cho các phép tính dưới dạng hàng
ngang. Các em hãy dựa vào phép trừ trong phạm
vi 10 để tính một cách nhanh nhất.Chẳng hạn:
- 25 -