NGHIÊN cứu THÀNH PHẦN LOÀI, đặc TRƯNG PHÂN bố của mối (INSECTA ISOPTERA) tại KHU vực hà nội - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGUYỄN HẢI HUYỀN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC TRƢNG
PHÂN BỐ CỦA MỐI (INSECTA: ISOPTERA) TẠI
KHU VỰC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội – Năm 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA: SINH HỌC
----------oOo----------

Nguyễn Hải Huyền

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, ĐẶC TRƢNG
PHÂN BỐ CỦA MỐI (INSECTA: ISOPTERA)
TẠI KHU VỰC HÀ NỘI

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1............................................................................................................
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu mối trên thế giới ................................................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu mối tại Việt Nam .................................................. 9
1.3. Tình hình nghiên cứu mối tại khu vực Hà Nội ...................................... 14
CHƢƠNG 2........................................................................................................ 17
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 17
2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu ................................................................ 17
2.2. Khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội của khu vực Hà Nội ......................... 17
2.1.1. Vị trí địa lý ..................................................................................... 17
2.1.2. Địa hình, địa mạo ........................................................................... 17
2.1.3. Khí hậu........................................................................................... 19
2.1.4. Thủy văn ........................................................................................ 19
2.1.5. Thổ nhƣỡng .................................................................................... 20
2.1.6. Tài nguyên sinh vật ........................................................................ 21
2.1.7. Kinh tế xã hội ................................................................................. 22
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 23
2.2.1. Phƣơng pháp thu mẫu ..................................................................... 23
2.2.1.1. Phƣơng pháp thu mẫu định tính ...................................................... 23
2.2.1.2. Phƣơng pháp thu mẫu định lƣợng................................................ 25
2.2.2. Phƣơng pháp định loại mẫu vật...................................................... 27
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu .............................................................. 28
CHƢƠNG 3........................................................................................................ 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................................... 30
3.1. Thành phần loài mối tại khu vực Hà Nội .............................................. 30
3.3. Cấu trúc thành phần loài mối theo nhóm chức năng ................................. 45


3.4. Phân bố của mối theo sinh cảnh tại vùng đồng bằng................................ 49


Hình 2.1. Sơ đồ các khu vực thu mẫu tại khu vực Hà Nội........................................... 18
Hình 2.2. Một số sinh cảnh thu mẫu mối trong khu vực Hà Nội................................. 24
Hình 2.3. Thu thập mẫu vật mối ngoài tự nhiên .......................................................... 26
Hình 3.1 Tỉ lệ % số loài của các phân họ mối trong khu vực Hà Nội .......................... 35
Hình 3.2. Sơ đồ hình cây thể hiện mối tƣơng quan giữa các quần xã mối khu vực
nghiên cứu ................................................................................................. 39
Hình 3.3. Biểu đồ phân bố các phân họ mối theo vùng cảnh quan khu vực Hà Nội ..... 44
Hình 3.4. Tỉ lệ % số loài mối theo nhóm chức năng tại các vùng cảnh quan khu vực
Hà Nội ....................................................................................................... 48
Hình 3.5. Mối Coptotermes hại cây trồng và Odontotermes hại công trình kiến trúc... 51
Hình 3.6. Các sinh cảnh thu mẫu tại khu vực Hà Nội.................................................. 53
Hình 3.7. Sự biến đổi độ phong phú tƣơng đối của các nhóm mối theo sinh cảnh
nghiên cứu ................................................................................................. 58


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

cs.: Cộng sự
DTTN: Diện tích tự nhiên
ĐC: Đồi chè
ĐPP TĐ: Độ phong phú tƣơng đối
KBTTN: Khu bảo tồn thiên nhiên
RTTL: Rừng trồng thuần loại
RTHT: Rừng trồng hỗn tạp
sl/SL: Số lƣợng
TC: Trảng cỏ
VQG: Vƣờn Quốc gia



Hà Nội cùng với cả nƣớc đang đi lên trong xu thế phát triển về mọi mặt.
Thực tế đã chứng minh rằng sự phồn thịnh của đất nƣớc, một vùng miền, một khu
vực luôn phải gắn liền với việc bảo tồn và duy trì tính bền vững về đa dạng sinh
học. Để có cơ sở cho việc bảo tồn phát huy thế mạnh về tiềm năng đa dạng, ổn định
trong xu thế phát triển, hạn chế những thiệt hại gây ra do sinh vật nói chung và côn
trùng nói riêng trong đó có mối thì việc điều tra xác định đầy đủ thành phần loài và
nhóm loài sinh vật, các loài côn trùng và mối ở khu vực Hà Nội là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu mối ở khu vực Hà Nội trƣớc đây đã đƣợc tiến hành, nhƣng chỉ là
những nghiên cứu mang tính chất riêng lẻ, tập trung vào một vài khu vực đặc thù
hoặc vào một số đối tƣợng cần bảo vệ khỏi sự phá hại của mối nhƣ công trình kiến
trúc, đê v.v. Phần lớn các nghiên cứu thƣờng đƣợc triển khai theo hƣớng xác định
các loài gây hại, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái học của chúng để tìm kiếm
các giải pháp phòng trừ. Các điều tra về thành phần loài, xác định mức độ đa dạng
còn khá ít ỏi, đặc biệt là các nghiên cứu sử định lƣợng sử dụng mối làm chỉ thị cho
mức độ tác động của con ngƣời làm thảm thực vật thì hầu nhƣ chƣa có một nghiên
cứu nào đƣợc triển khai ở Hà Nội.
Do đó, để có đƣợc những dẫn liệu chung tƣơng đối đầy đủ về khu hệ mối ở
Hà Nội, góp phần bổ sung cho sự đầy đủ về đa dạng sinh học của côn trùng khu vực
thành phố nói chung và về mối nói riêng, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu thành phần loài, đặc trưng phân bố của mối (Insecta: Isoptera) tại
khu vực Hà Nội” với các mục tiêu chính:
- Xác định thành phần loài mối tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định các đặc trƣng phân bố của mối theo vùng cảnh quan
khu vực Hà Nội.
- Tìm hiểu về vai trò chỉ thị sinh học của mối đối với sự tác động
của con ngƣời lên thảm thực vật.
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và hiểu biết nên kết quả trong luận văn
này mới chỉ là những tiếp cận bƣớc đầu cho những nghiên cứu sâu hơn về sau.

2


1913, 1914, 1915) đã cung cấp dữ liệu về mối tại khu vực Ceylon; Petch (1906,
1913) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nấm và mối của khu hệ này; Holmgren
(1912, 1913) đã nghiên cứu phân loại và mội phần sinh học mối khu hệ Ấn Độ;
Oshima (1919) đã nghiên cứu khu hệ mối Đài Loan và Philippin; John (1913, 1925)
đã tiến hành nghiên cứu phân loại và sinh học mối ở Ceylon, Malaysia và Indonesia
[8]
Holmgren (1911, 1912) là ngƣời đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền
móng cho phân loại học hiện đại về mối. Sự sắp xếp thành lập các họ của ông đƣa
ra cơ bản vẫn đƣợc sử dụng cho đến ngày nay. Ông chia mối thành 4 họ chính là
Mastotermitidae, Protermitidae, Mesotermitidae, Metatermitidae. Trên cơ sở này
các nhà phân loại học nhƣ Light (1921), Grasse (1949)… đã hiệu đính và xác lập bộ
Cánh đều tƣơng đối ổn định.
Snyder (1949) đã xuất bản cuốn “Danh mục về mối trên thế giới”, trong đó
ông lập đƣợc một danh sách các loài thuộc 5 họ (Mastotermitidae, Kalotermitidae,
Hodotermitidae, Rhinotermitidae và Termitidae) và hơn 130 giống, bao gồm cả
những loài hóa thạch [15].
Năm 1949, Snyder liệt kê tổng cộng đƣợc 1745 loài mối trên toàn thế giới.
Nhƣng theo số liệu Constantinho (2007), tổng số loài mối đƣợc phát hiện trên toàn
thế giới đã là 2858 loài, thuộc 286 giống [53]. Các danh mục thành phần loài của bộ
Isoptera hoặc của một họ cho từng khu vực cũng lần lƣợt đƣợc công bố, thƣờng
kèm theo khóa phân loại riêng và mô tả cho từng loài.
Những nghiên cứu mối ở khu vực Đông phƣơng về sau tập trung vào các vấn
đề phân loại học, địa động vật học cũng nhƣ vai trò và ý nghĩa kinh tế của từng họ
hoặc phân họ cụ thể. Thakur (1979, 1983) tiến hành nghiên cứu về họ mối
Macrotermitidae và giống Heterotermes; Bose (1979) nghiên cứu về tập tính xây tổ,
sinh học, sinh thái học của 27 loài và 5 giống mối thuộc họ Apicotermitidae.
Krishna (1968) bàn về nguồn gốc phát sinh và phân loại giống của nhóm
Capritermes. Chotani (1979) nghiên cứu về phân bố của họ Rhinotermitidade gồm


cứu cũng tìm các phƣơng pháp khác để tiến hành định lọai một cách chuẩn xác hơn.
Belyaeva (2005) sử dụng các cấu trúc của cơ quan sinh dục ngoài để phân biệt các

5


loài thuộc họ Kalotermitidae, Hodotermitidae, Termitidae, Macrotermitidae và
Nasutermitidae. Burham (1978) công bố dẫn liệu điều tra các loài hóa thạch côn
trùng xã hội trong đó có 48 loài mới. Alliens et al. (2004) sử dụng AND ti thể để
làm chỉ thị phân tử phân loại và xây dựng cây phả hệ của giống mối Heterotermes ở
Đông Ấn Độ. Phƣơng pháp này cũng đƣợc James et al. (2004) sử dụng cho định
loại giống Reticulitermes ở Oklahoma. Benjamin et al. (2007) đã sử dụng phổ xạ
sóng cận hồng ngoại trên lớp hydrocarbon biểu bì để phân tích 4 loài thuộc giống
Zootermopsis, nhờ đó có thể định loại nhanh chóng giống mối này. Chow Yang Lee
et al. (2005) đã thẩm tra lại tính chính xác của việc phân loại hình thái và các mẫu
mối ở Malaysia bằng cách phân tích phát sinh loài qua các chuỗi gen Cytochrome
oxidase (COII) [8].
Nửa cuối thế kỉ XX, các nghiên cứu mối tập trung vào xác định các đặc
điểm sinh học, sinh thái của mối, vai trò của chúng đối với hệ sinh thái và con
ngƣời và các biện pháp phòng trừ. Từ năm 1906, Petch đã có nhận xét cho rằng
nhiệt độ bên trong tổ mối Odontotermes redemani tƣơng đối ổn định so với sự dao
động của nhiệt độ bên ngoài. Tuy nhiên, theo Holdaway et al. (1948) thì nhiệt độ ở
tổ Eutermes exitiosus tuy ổn định nhƣng cũng thay đổi trong biên độ nhất định theo
nhiệt độ môi trƣờng trong ngày. Ông cũng cho rằng độ ẩm tƣơng đối trong tổ mối là
một hằng số tuyệt đối. Scott Turner (1994) đã nghiên cứu về sự bất biến trong quá
trình thông hơi và giữ nhiệt của tổ mối (O. transvaalensis) ở miền Nam châu Phi.
Tác giả nhận thấy dƣờng nhƣ sự thông hơi của tổ mối không thực sự đóng vai trò
quan trọng trong quá trình duy trì nhiệt độ của quần tộc mối [12]. Abe (1979) đã
nghiên cứu mối quan hệ về đặc điểm hình thái ngoài của mối, đặc điểm làm tổ của
từng loài và nhóm loài mối với vai trò quan trọng của chúng trong hệ sinh thái cây

theo nhóm thức ăn của mối trong các khu vực nghiên cứu, phát hiện thấy rằng số
lƣợng loài thu đƣợc qua các ô định lƣợng chỉ chiếm 31 – 36% tổng số loài có trong
khu vực nghiên cứu [36]. Một kết luận quan trọng đƣợc rút ra từ nghiên cứu trên
cho rằng có thể sử dụng các chỉ số định lƣợng của mối làm chỉ thị đánh giá mức độ
tác động của con ngƣời lên môi trƣờng sinh thái. Nghiên cứu định lƣợng theo
hƣớng trên cũng đƣợc triển khai ở một số quốc gia khác nhƣ ở Maylaysia để đánh
giá mức độ giàu có của thành phần loài ở một số vùng khác nhau [43], ở Brazil để
xem xét ảnh hƣởng của canh tác nông nghiệp đến khu hệ mối ở đồng cỏ [49]. Năm

7


2006, Tetsushi et al. đã nghiên cứu đa dạng sinh học và xác định độ phong phú
tƣơng đối của mối theo độ cao tại Thái Lan. Nghiên cứu đã chỉ ra sự biến đổi của
các nhóm mối ƣu thế theo đai độ cao tại khu vực này [35].
Mối hại luôn là vấn đề lớn đối với cây trồng nông, lâm nghiệp, với đê đập
cũng nhƣ công trình kiến trúc. Do đó phòng trừ mối luôn là vấn đề đƣợc quan tâm.
Để có thể phòng chống mối một cách có hiệu quả, việc điều tra nghiên cứu thành
phần loài, xác định các loài hại chính và đặc điểm sinh học, sinh thái học của chúng
là công việc đầu tiên trong phòng chống mối.
Dean (1979) nghiên cứu về sinh học và sinh thái học 2 loài mối thuộc giống
Odontotermes và Microtermes gây hại mía ở Banglades. Smith (1979) nghiên cứu
mối hại cây Coca. Rajpreecha (1980) nghiên cứu về mối hại cây điều ở Thái Lan.
Samra (1990) nghiên cứu ảnh hƣởng của mối tới cây xoài ở Ấn Độ. Kết quả nghiên
cứu về mối hại cây bạch đàn ở các nƣớc châu Á, châu Phi đƣợc kể đến là của Nair
(1981), Mitchell (1989) và Wylie (1987). Nhiều công trình nghiên cứu mối hại cây
rừng của các tác giả đã đƣợc công bố, nhƣ Harris (1971), Lee (1971), Sen Sarma
(1974), Wood (1987), Roonwal (1984), Thakur (1980), Wood (1987), Robert
(1989), Tania (2004), Nair (2001), Chotani (1980), Huang (2000) và Varma (2007)
(dẫn theo Nguyễn Thúy Hiền, 2008) [8].

vƣờn nấm hại đê tại Trung Quốc. Đây là phƣơng pháp sử dụng bả độc làm rối loạn
hệ vi sinh vật đƣờng ruột của mối. Ngoài ra còn có các biện pháp phòng trừ mối xử
dụng những loài thiên địch nhƣ thằn lằn, rắn, chim… đặc biệt là kiến và giun tròn.
(dẫn theo Nguyễn Quốc Huy, 2010) [12].
Nghiên cứu mối luôn đƣợc quan tâm trên thế giới. Ngoài các nghiên cứu về
sinh học, sinh thái học, phòng trừ mối, thì các nghiên cứu về khu hệ, sự đa dạng,
đặc biệt là tầm quan trọng của mối trong hệ sinh thái đang là vấn đề đƣợc tập trung
nghiên cứu gần đây.
1.2. Tình hình nghiên cứu mối tại Việt Nam
Công trình nghiên cứu mối đầu tiên ở Việt Nam là của Bathellier J. thực hiện
vào năm 1927. Ông đã mô tả hình thái, sinh thái của 19 loài của khu hệ mối Đông
Dƣơng trong đó Việt Nam có 17 loài, riêng thành phần loài mối miền Bắc mới chỉ

9


phát hiện đƣợc 4 loài [10]. Sau đó mƣời năm (1937), Bathellier đã bổ sung một số
tài liệu về tác hại của mối ở Đông Dƣơng. Cũng trong năm này, Caresch L. đã có
một báo cáo nhỏ về phƣơng pháp phòng chống mối hại cây cao su. Công trình có
giá trị nhất về phòng trừ mối cho đến nay vẫn còn đƣợc áp dụng là của tác giả
Allouard công bố vào năm 1947. Tuy nhiên công trình này là kết quả nghiên cứu
chung về mối c ủa vùng Đông Dƣơng [9], [10]. Năm 1927, Harris đã điều tra mối tại
21 điểm ở Việt Nam, phát hiện thêm 2 loài M. carbonarius ở Ban Mê Thuột, Côn
Đảo và M. maesodensis ở biên giới của Hà Tiên với Campuchia [12].
Giai đoạn từ 1954 – 1975, nghiên cứu mối thật sự phát triển ở Việt Nam, đă ̣c
biê ̣t là ở miền Bắc , chính thức đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc thƣc ̣ hiê n ̣ . Các
chuyên gia lâm nghiệp là những ngƣời đầu tiên ở miền Bắc nghiên cứu phòng
chống mối. Nhiều công trình của các tác giả nhƣ Nguy ễn Thế Viễn (1960, 1964),
Đỗ Ngọc Thảo (1962), Bùi Duy Dƣỡng (1963), Nguyễn Xuân Khu (1964), Phạm
Văn Phúc (1965), Nguyễn Chí Thanh (1966, 1968, 1971), Nguyễn Đức Khảm

nƣớc. Nghiên cứu về mối cũng đƣợc triển khai theo nhiều hƣớng khác nhau. Ƣu
tiên trƣớc tiên là các nghiên cứu phòng chống mối cho các đối tƣợng cần bảo vệ. Vũ
Văn Tuyển và cộng sự (1975 – 1990) đã tiến hành điều tra về thành phần loài mối
hại đê, đập. Tác giả đã phát hiện đƣợc 52 loài mối thuộc 4 họ phân bố ở các đập
chứa nƣớc và một số đê trong phạm vi cả nƣớc [26]. Ông cũng là ngƣời đầu tiên ở
Viê ̣t Nam nghiên cƣƣu đề xuất biê ̣n pháp tổng hơ p ̣ thăm dò phát hiê n ̣ xƣƣ lý tổ mối
trong thân đê, đâ p ̣ đem la ̣i hiê ̣u quả cao trong phòng chống mối . Trong thời gian gần
đây có các công trình nghiên cứu về mối hại đê trên các hệ thống sông Hồng, sông
Thái Bình và sông Mã của Ngô Trƣờng Sơn, Tạ Huy Thịnh, Nguyễn Tân Vƣơng,
̣ phần loài mối ha ̣i đê nói
Nguyễn Thúy Hiền (2009). Không chỉ xác đinh thành
chung, nghiên cƣƣu của các tác giả đã phát hiê ̣n các loài mối gây ha ̣i cho tƣƣng khu
vƣc ̣ đê nhƣ : vùng đồng bằng , trung du và m iền núi của các hê ̣ thống đê riêng rẽ ,
đồng thời đƣa ra các dẫn liệu về cấu trúc tổ của mối Odontotermes hainanensis, loài
gây ha ̣i chiń h trên hệ thống đê sông miền Bắc [23].
Mối ha ̣i cây trồng đƣơ ̣c quan tâm nghiên cƣƣu muô ̣n hơn . Năm 1991, Vũ Văn
Tuyển đã tiến hành nghiên cứu mối hại cây cà phê và công b ố nhƣƣng kết quả bƣ ớc
đầu. Nguyễn Chí Thanh và cs. (1986 – 1992) nghiên cƣƣu phòng ch ống mối trên cây
chè. Nguyễn Ngọc Bình (2006) nghiên cứu mối hại rừng trồng bạch đàn và keo
Năm 2007, Nguyễn Tân Vƣơng và cs. đã cung cấp dẫn liệu điều tra thành phần loài
mối trong khu vực trồng cây cao su , cà phê và ca cao ở mô ̣t số tinƣ h khu vƣc ̣ Tây
Nguyên. Cùng thời gian này, Nguyễn Dƣơng Khuê (2007) cũng đã tiến hành nghiên
cứu mối hại cây chè. Mới đây (2010), trong luận án tiến sĩ của mình Nguyễn Quốc
Huy cũng đã tiến hành điều tra khu hệ mối ở Tây Nguyên, trên cơ sở các đặc điểm
sinh học, sinh thái học của các loài hại chính, tác giả đã đề xuất và tiến hành một số
biện pháp phòng trừ mối trên cây trồng và đê đập ở khu vực này [12].

11



trƣởng thành trong tổ mối nuôi luôn đƣợc điều chỉnh ổn định, trung bình khoảng
80,6% mối thợ 13,3% mối lính và 6,3% mối non. Tỷ lệ mối thợ trong đàn mối kiếm
ăn ngoài tự nhiên trung bình nằm trong khoảng 79,2 - 91,1% [7]. Nguyễn Thị My

12


và cs. (2011) đã tiến hành các nghiên cứu xác định số lƣợng cá thể mối Coptotermes
trong quần tộc bằng cách sử dụng phƣơng pháp Đánh dấu - thả ra - bắt lại [18]. Nhƣ
vâ y ̣ , có thể thấy hai loài thuộc về hai nhóm mối khác nhau có tỉ lệ đẳng cấp và sự
phân công lao đô n ̣ g không giống nhau . Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên
là cơ sở quan trọng trong quá trình lựa chọn các biệ n pháp phòng chống mối t hông
qua con đƣờng lây nhiêm.ƣ
Ngày nay, do yêu cầu bảo vê ̣ môi trƣờng , các hóa chất có độc tính cao , đô ̣
tồn lƣu lâu dùng trong xƣƣ lý mối nhƣƣng năm gần đây đã bị cấm sử dụng. Diệt trừ
mối thiên về áp dụng các biện pháp ít độc hay không độc đối với môi trƣờng và con
ngƣời và thƣờng đƣợc gọi là các biện pháp thân thiện với môi trƣờng. Sử dụng nấm
ký sinh diệt côn trùng trong phòng chống mối là hƣớng đƣợc nhiều chuyên gia
nghiên cứu mối quan tâm. Tạ Kim Chỉnh và Nguyêñ Đƣƣc Khảm (1996) đã bƣ ớc
đầu thử nghiệm độc tính của m ột số chủng vi nấm diệt mối hại kiến trúc và cây vải
thiều [2]; Tạ Kim Chỉnh và cs. (2001) đã công bố các dâñ liê ̣u về đ ặc điểm sinh học
của hai chủng vi nấm Metarhizium anisoplae Ma6 và Baeuveria Bb phân lập từ các
mẫu khác nhau cùng với hi ệu lực diệt mối (Coptotermes) của chúng [3]; Chế phẩm
Metarhizium để diệt mối Odontotermes hainannensis trên đê đã đƣơ ̣c Tr ịnh Văn
Hạnh và cs. (2005) nghiên cƣƣu và thƣƣ nghiê ̣m khá thà nh công đã và đang dần thay
thế cho các hóa chất trong quá trình xƣƣ lý mối ha ̣i đê [50]. Ngoài ra, Nguyễn Quốc
Huy và cs. (2011) đã tiến hàng thử nghiệm loại bả chống mối ức chế quá trình tổng
hợp kitin của mối [13]. Cùng năm này (2011), Brain, chuyên gia nghiên cứu mối
của Hoa Kỳ, kết hợp với các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và bảo vệ công
trình, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đã nghiên cứu chế phầm sử dụng nấm

[15]. Tài liệu này đã tổng kết, mô tả khái quát đặc điểm sinh học, sinh thái học và
phân bố của 101 loài mối thuộc 33 giống, 8 họ có mặt tại Việt Nam; cuốn sách cũng
đã đƣa ra đƣợc khóa phân loại tƣơng đối đầy đủ cho khu hệ mối Việt Nam và tổng
kết các chỉ tiêu định loại dùng cho phân tích. Dẫn liệu về thành phần loài này đã
đƣợc Trịnh Văn Hạnh và cs. bổ sung vào năm 2010, nâng số loài mối đƣợc ghi nhận
đƣợc tại Việt Nam lên 141 loài (120 loài đã đƣợc định danh) thuộc 38 giống, 8 họ
và đã bổ sung 5 giống cho khu hệ mối Việt Nam [51].
1.3. Tình hình nghiên cứu mối tại khu vực Hà Nội
Tổng quan về mối trƣớc đây ở khu vực Hà Nội thƣờng chỉ nhắc đến các
nghiên cứu mối tập trung vào những khu vực khác nhau chủ yếu trong nội thị. Sau
này khi Hà Nội đƣợc mở rộng về địa giới vào năm 2008 thì tổng quan tình hình
nghiên cứu mối trong địa bàn Hà Nội cũng có chiều phong phú hơn. Bởi lẽ các
nghiên cứu trƣớc đây ở vùng lân cận nhƣ Hà Tây vốn không đƣợc tính vào khu vực
Hà Nội ngày nay cũng đƣợc đề cập đến trong lịch sử nghiên cứu mối ở Thủ đô.
Trƣớc tiên các nghiên cứu về mối trong khu vực Hà Nội thƣờng tập trung
vào tìm hiểu các loài mối gây hại cho công trình kiến trúc, cây trồng và đê đập. Vũ

14


Văn Tuyển và cs. (1993) đã khảo sát điều tra thành phần loài mối và mức độ gây hại
của chúng cho khu di tích Phủ Chủ Tịch. Vào năm 1990, Nguyễn Văn Quảng và
Nguyễn Thị Lâm đã tiến hành điều tra về thành ph ần loài mối gây hại cho công
trình kiến trúc vùng Hà Nội. Nguyễn Văn Quảng và cs. (1995) đã công bố kết quả
nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của mối Coptotermes ceylonicus, là một trong
những loài mối gây hại cho nhà cƣƣa, kho tàng.
Nghiên cứu phòng trừ mối tại khu vực Hà Nội tập trung khá nhiều vào phòng
trừ mối trên đê đập. Bùi Công Hiển và cs. (2000) đã công bố thành phần loài mối
hại đê vùng Hà Nội và một số đặc điểm cấu trúc tổ của loài Odontotermes
hainanesis, là một trong những loài gây hại nghiêm trọng. Các nghiên cứu mối hại


16


CHƢƠNG 2

THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 10/2010 đến
tháng 11/2012, tại khu vực Hà Nội. Các địa điểm điều tra thu thập vật mẫu bao
gồm: Vƣờn Quốc Gia Ba Vì: đại diện cho vùng núi; khu vực Xuân Mai, Chƣơng
Mỹ: đại diện cho vùng đồi; khu vực nội thị thành phố Hà Nội: đại diện cho vùng
đồng bằng (Hình 2.1), với khu vực này chúng tôi tiến hành thu mẫu trong các công
trình cần bảo vệ nhƣ trong các công trình kiến trúc, trong đê và trên cây trồng.
Phân tích mẫu đƣợc tiến hành tại phòng thí nghiệm bộ môn Động vật không
xƣơng sống, Khoa Sinh học, trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội.
2.2. Khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội của khu vực Hà Nội
2.1.1. Vị trí địa lý
Hà Nội nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng. Có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ
Đông. Ở phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía Nam với các
tỉnh Hà Nam, Hòa Bình, phía Đông với Bắc Giang, Bắc Ninh, Hƣng Yên, phía Tây
với Hòa Bình, Phú Thọ. Tháng 8/2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính bao
gồm Hà Tây cũ, Lƣơng Sơn, Mê Linh… có diện tích 3.324,92 km2, nằm ở cả hai
bên bờ sông Hồng.
2.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hƣớng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông. Ba phần tƣ diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông
Đà, hai bên sông Hồng và chi lƣu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status