TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
ĐỒ ÁN MÔN HỌC THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI
THỊ TRẤN CHỢ MỚI HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN
Lớp
: ĐH3QM1
Nhóm thực hiện
: Nhóm 01
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2016
1
Mục lục
DANH MỤC BẢNG
2
DANH MỤC HÌNH ẢNH
3
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
1.1.Điều kiện tự nhiên:
1.1.1.Vị trí địa lý:
- Thị trấn Chợ Mới là trung tâm kinh tế, văn hoá chính trị của huyện Chợ Mới,
nằm cách thành phố Thái Nguyên 43 km và thị xã Bắc Kạn 43 km trên QL3, với tổng
diện tích tự nhiên 233,2 ha. Là cửa ngõ phía nam của tỉnh Bắc Kạn. Sông Chợ
Chu chảy từ tỉnh Thái Nguyên ở phía tây hợp lưu với sông Cầu trên địa bàn thị trấn
Chợ Mới Với 7 tổ dân phố, có 2.474 nhân khẩu.
- Địa giới hành chính của thị trấn được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Yên Đĩnh và xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái
Nguyên;
+ Phía Nam giáp xã Yên Đĩnh của huyện Chợ Mới;
+ Phía Đông giáp xã Yên Đĩnh của huyện Chợ Mới;
+ Phía Tây giáp xã Yên Ninh của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Thị trấn Chợ Mới có vị trí tương đối thuận lợi, là cầu nối giữa Thành phố Thái
Nguyên và Thị xã Bắc Kạn, với vị trí này thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng
hoá, thúc đẩy các hoạt động thương mại - du lịch, phát triển kinh tế của Thị trấn và
toàn huyện Chợ Mới.
5
Hình 1.1 Bản đồ Thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
1.1.2. Địa hình, địa mạo:
Địa hình Thị trấn Chợ Mới có những khác biệt so với các xã trên địa bàn huyện,
đồi núi nằm về 2 hướng Đông và Tây, phần diện tích còn lại là đất khu dân cư và hạ
tầng kỹ thuật, bao gồm các cơ quan hành chính của huyện. Có sông Cầu, sông Chu
quan hành chính đóng trên địa bàn.
1.1.5. Các nguồn tài nguyên:
a. Tài nguyên đất:
Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn,
Thị trấn Chợ Mới có 2 loại đất chính sau:
- Đất bằng trồng cây hàng năm: Là do tích tụ phù sa của sông Cầu và các suối.
Đất có tầng phù sa dày thích hợp cho các loại cây lương thực và cây hoa màu;
- Đất đồi: Là đất Feralits màu vàng, nghèo dinh dưỡng và thường ở những nơi có
độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích hợp cho cây công nghiệp lâu năm và trồng
rừng.
b. Tài nguyên nước:
+ Nước mặt: Trên địa bàn thị trấn Chợ Mới nguồn cung cấp nước chính cho thị
trấn là 2 sông Cầu và sông Chu cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất nông
nghiệp của nhân dân.
+ Nước ngầm: qua khảo sát các giếng đào trong thị trấn cho thấy trữ lượng và
chất lượng nước ngầm ở độ cao khoảng 10m khá dồi dào có quanh năm và chất lượng
đảm bảo vệ sinh. Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn thị trấn các hộ gia đình và các cơ
quan hành chính đã và đang sử dụng toàn bộ hệ thống nguồn nước máy được xử lý
tương đối tốt.
7
c. Tài nguyên rừng:
Theo kết quả thống kê hiện trạng và sử dụng đất lâm nghiệp tính đến ngày
01/01/2011 của toàn thị trấn là 100,05 ha, chiếm 43,01% diện tích tự nhiên, toàn bộ là
diện tích đất rừng sản xuất. Trong đó: Đất có rừng trồng sản xuất là 72,75 ha và đất
khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 27,30 ha. Nhìn chung, tài nguyên rừng có vai trò
rất quan trọng nhưng do quá trình khai thác lợi dụng rừng chưa thực sự hợp lý, công
tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ít nhiều còn bất cập, nên tài nguyên rừng bị suy
khi năm 2005 con số này là 3.600.000 đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo của thị trấn
giảm xuống còn 53 hộ (2005 là 107 hộ). Mặt khác cơ sở hạ tầng của địa phương đang
tiếp tục được đầu tư sửa chữa, nâng cấp hoặc xây mới.
a. Phát triển kinh tế công nghiệp:
Với tổng diện tích tự nhiên 233,2 ha thị trấn Chợ Mới không có các khu công
nghiệp sản xuất với quy mô lớn mà chỉ có các điểm sản xuất nhỏ theo mô hình hộ gia
đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong giai đoạn quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 thị trấn Chợ Mới sẽ quy hoạch mở rộng diện tích về phía Bắc của huyện gồm 2
xã Yên Đĩnh và Thanh Bình và tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng tại khu công nghiệp
Thanh Bình để thu hút đầu tư vào các dự án có quy mô lớn mang tầm vóc của một khu
công nghiệp trọng điểm của tỉnh Bắc Kạn.
b. Phát triển nông nghiệp:
- Trồng trọt:
Theo thống kê, khoảng 10 ha sử dụng vào mục đích nông nghiệp, trong đó có
gần 6 ha đất soi để trồng ngô, còn lại là đất trồng màu. Với việc áp dụng có khoa học
các phương pháp tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp như áp dụng mô hình sản xuất
nông nghiệp chất lượng cao kết hợp với việc các giống cây trồng ngày càng được nâng
cao về chất lượng. Đối với cây lúa, tổng diện tích thực hiện được 1.42ha, sản lượng
thóc đạt trên 8.449 tấn, tăng trên 100 tấn so với cùng kỳ năm 2013. Tổng diện tích cây
ngô thực hiện được 5,7ha, năng suất đạt gần 40 tấn/ha; sản lượng đạt 228 tấn. Tổng
sản lượng lương thực có hạt năm 2014 đạt 21.449 tấn.
Ngoài ra, thị trấn còn quan tâm, đầu tư đưa các dự án cây có giá trị kinh tế cao
đưa vào sản xuất như: Chè Shan tuyết, chè Phúc vân tiên, cây dược liệu, cây cam,
quýt… Những mô hình này đã mang lại kết quả khả quan về năng suất, chất lượng và
giá thành sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần tích cực vào công tác
xóa đói, giảm nghèo tại địa phương. Trong năm qua, cùng với ngành trồng trọt, ngành
chăn nuôi cũng được phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tính đến nay, tổng đàn
trâu, bò của thị trấn hiện có trên 1.300 con, tổng đàn lợn có hơn 5.800 con, tổng đàn dê
hơn 400 con.
thông bước đầu được hình thành đã đáp ứng được phần nào nhu cầu giao thông đi lại
và phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên do điều kiện địa hình phức tạp, khí
hậu thời tiết, đặc điểm phân bố dân cư nên việc đầu tư mở mới một số tuyến đường
liên tổ gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó nguồn vốn đầu tư có hạn chính vì vậy hiện tại
một số tuyến đường hiện có bị xuống cấp, mặt đường hẹp, hư hỏng nặng giao thông đi
lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa bão. Trong những năm tới cần mở mới và nâng cấp
một số tuyến đường nhằm đáp ứng tốt nhu cầu giao thông đi lại của người dân.
10
CHƯƠNG 2. SỨC ÉP Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
2.1. Nước thải:
2.1.1. Nước thải sinh hoạt:
Nhiều nghiên cứu cho thấy lượng nước tối thiểu cần thiết cho nhu cầu nước
uống, sinh hoạt của người dân trong một ngày là 20 lít nước. Trong khi đó lượng nước
thải sinh hoạt thải ra môi trường trong thực tế xấp xỉ bằng 80% lượng nước ban đầu.
Như vậy, lượng nước thải sinh hoạt của thị trấn Chợ Mới được ước tính như
bảng sau:
Bảng 2.1. Lượng nước sử dụng và nước thải trong sinh hoạt ở Thị trấn Chợ Mới
STT
Chỉ tiêu
1
Lượng nước cấp
2
có hàm lượng N và P cao.
-Nước thải từ hoạt động tắm giặt. Loại nước thải này hoàn toàn khác biệt với
những loại nước thải trên, hàm lượng chất hữu cơ có trong chất thải này không đáng
kể, nhưng chủ yếu là hóa chất dùng tẩy rửa, nếu không được xử lý sẽ gây ra tình trạng
ô nhiễm môi trường, mầm móng cho các bệnh truyền nhiễm, sức khỏe con người bị đe
dọa.
Tải lượng các chất gây ô nhiễm trung bình do mỗi người hàng ngày đưa vào môi
trường khi chưa được xử lý như bảng sau:
Bảng 2.2. Tải lượng ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
Chất ô nhiễm
Khối lượng (g/người/ngày)
Chất rắn lơ lửng
107
BOD5
50
COD
87
Amoni
3,6
Tổng Nito
87
3,6
9
2,4
20
12
Lượng chất ô nhiễm
trong nước thải sinh
hoạt của Thị trấn Chợ
Mới (kg/ ngày)
264,718
123,700
215,238
8,906
22,266
5,937
49,480
2.1.2. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp:
Đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thị trấn Chợ Mới chiếm tỷ lệ không
đáng kể so với cơ cấu kinh tế của thị trấn. Tuy nhiên hoạt động này cũng gây ra lượng
thải gây ô nhiễm môi trường nước đáng kể.
Theo Sở quy hoạch xây dựng Hà Nội 25% lượng nước cung cấp được sử dụng
cho nông nghiệp. Như vậy, lượng nước thải nông nghiệp của thị trấn Chợ Mới được
ước tính như bảng sau
Bảng 2.4.Lượng nước sử dụng và nước thải trong nông nghiệp
ở Thị trấn Chợ Mới
Thông số
Tải lượng ô nhiễm
1
(mg/L)
245,80
2
COD (mg/L)
2827,5
3
SS(mg/L)
1069,3
4
(mg/L)
37,7
5
(kg/ngày)
0,497
5
P tổng(kg/ngày)
1,0282
2.1.3. Rác thải từ hoạt động sinh hoạt:
Với dân số thị trấn Chợ Mới là 2.474 người, lượng rác thải sinh hoạt bình quân
đầu người trong ngày là 0,5kg/người/ngày. Vì vậy trong một năm một người thải ra là
0,5kg/ng x 365 ngày = 182,5kg/người/năm, trong đó 60 – 70% là rác thải hữu cơ. Và
toàn Thị Trấn là 451.505 kg rác thải sinh hoạt. Hai loại rác thải đáng lo ngại nhất là
phân người, phân gia súc, gia cầm và rác. Chúng dễ bị phân hủy, thối rữa thành các
hợp chất hữu cơ và vô cơ khác gây mùi hôi thối, ruồi nhặng, vi trùng, vi khuẩn... có
thể gây nên những bệnh nguy hiểm cho con người.
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch
ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương
động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải , giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả… Thành
phần của rác thải sinh hoạt có chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy vậy nên dưới điều
kiện môi trường nắng nóng, chúng sẽ phân hủy, sinh mùi gây ô nhiễm môi trường.Trời
mưa, nước mưa, nước từ rác thải theo dòng chảy đi vào các nguồn nước mặt làm ô
nhiễm nước mặt hoặc ngấm xuống đất làm ô nhiễm nước ngầm. Thông thường sẽ
mang vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, chất hữu cơ…từ rác thải vào nguồn nước.
Điều đáng chú ý là các chất ô nhiễm này sẽ có mặt trong nước sinh hoạt hoặc nước
canh tác từ đó đi vào cơ thể người dân, tích lũy qua thời gian và gây các bệnh nguy
hiểm.
•
•
Ký hiệu
Vị trí
1
M1
Đoạn chảy qua Thác Giềng phường Xuất Hóa, TP Bắc Kạn
2
M2
Đoạn chảy qua Thị trấn Chợ mới: quan trắc tại tổ 6 Thị Trấn
Chợ Mới.
3
M3
Xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Các thông số quan trắc: BOD5, COD, DO, TSS, NH4, Coliform
Bản đồ các điểm quan trắc:
Hình 3.2. Bản đồ các vị trí quan trắc chất lượng nước sông Cầu
Coliform
(MPN/100ml)
Thác Giềng
1,2
4
6,8
55
0,85
5000
Chợ Mới
1,7
14,5
6,5
15
0,7
Hình 3.4: Diễn biến nồng độ COD trong nước sông Cầu năm 2011
A2
Nhìn vào hình biểu diễn trên, ta thấy hàm lượng COD quan trắc được tại Thác
Giềng là thấp nhất (4mg/l) nằm trong tiêu chuẩn cho phép của QCVN 08A1 lượng
MT:2015/BTNMT cột A1(10mg/l), cột A2 (15mg/l). Tại thị trấn Chợ Mới, hàm
COD là 14.5 mg/l, cao nhất trong 3 vị trí quan trắc, vượt QCCP 1.45 lần theo cột A.
Đoạn sông từ thị trấn Chợ Mới đến xã Văn Lăng, hàm lượng COD có xu hướng giảm.
Xã Văn Lăng có hàm lượng COD là 8 mg/l nằm trong QCCP theo cột A1. Như vậy có
thể thấy, tại TT Chợ Mới, chất lượng nước sông đang bị suy giảm mạnh nhất so với 2
17
địa điểm quan trắc, nguyên nhân là do người dân tại đây vẫn tiếp tục xả thải, xả rác
xuống dòng sông, làm môi trường nước sông ngày càng ô nhiễm.
Nồng độ DO:
Hình 3.5. Diễn biến nồng độ DO trong nước sông Cầu năm 2011
Quan sát hình trên, ta thấy hàm lượng DO có xu hướng giảm dần. Ở cả
A1 3 điểm
quan trắc, hàm lượng DO đều nằm trong giới hạn cho phép theo giá trị cột A1 ( mg/l),
A2
cột A2 ( 5 mg/l). Tại Văn Lăng, hàm lượng DO quan trắc được là 5 mg/l thấp nhất
trong 3 vị trí, nằm trong giới hạn cột A2.Còn 2 vị trí Thác Giềng và thị trấn Chợ Mới,
hàm lượng DO nằm trong giới hạn cho phép cột A1. Như vậy có thể thấy rằng chất
lượng nước sông vẫn khá tốt, chưa bị ô nhiễm nhưng nếu không có biện pháp quản lý
phù hợp thì trong tương lai nước sông có thể bị ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt, sản
xuất của người dân.
Nồng độ TSS:
Căn cứ vào hình trên, ta thấy hàm lượng Coliform tại 3 điểm quan trắc đều vượt
A2 lượng
quá QCCP A1 (2500 MPN/100ml), chỉ có điểm quan trắc Văn Lăng hàm
Coliform vẫn ở dưới mức QCCP A2 (5000 MPN/100ml), trong khi tại điểm quan trắc
Thác Giềng hàm lượng Coliform đã chạm ngưỡng A2, và tại Chợ Mới đã vượt quá
A1
ngưỡng A2 1,2 lần. Do đó cần thực hiện ngay các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
Coliform để tránh ô nhiễm lan rộng.
Nhận xét: Như vậy, theo bảng số liệu và hình biểu diễn nồng độ các thông số
quan trắc tại 3 điểm quan trắc cho thấy, chất lượng nước sông tại thị trấn Chợ Mới
ngày càng có dầu hiệu suy giảm tuy nhiên ô nhiễm ở mức nhẹ. Các địa điểm quan trắc
phía ngoài Trị Trấn Chợ Mới là Thác Giềng và Văn Lăng cũng bị ô nhiễm nhưng ở
mức độ nhẹ hơn. Nguyên nhân là do người dân tại địa phương vẫn chưa có ý thức bảo
vệ môi trường, xả rác thải, nước thải sinh hoạt, nước thải từ hoạt động chăn nuôi gia
cầm, gia súc chưa qua xử lý xuống sông, hồ. Do đó đã làm suy giảm khả năng đồng
hóa, tự làm sạch của nước sông, và khiến cho dòng nước ở đây đang ngày càng trở nên
ô nhiễm. Vì vậy việc kiểm soát các chất ô nhiễm tại đoạn lưu vực sông này là cần
thiết, và có những biện pháp quản lý kịp thời để kiểm soát các nguồn thải, tránh cho
đoạn sông rơi vào tình trạng bị ô nhiễm nặng trong những năm tới.
3.2.Vấn đề môi trường bức xúc tại địa phương:
Thông qua các kết quả quan trắc ta có thể thấy được ở Thị trấn Chợ Mới thì
nguồn gây ô nhiễm môi trường nước chính là do các chất hữu cơ được sinh ra trong
quá trình sinh hoạt của người dân.
Thị trấn Chợ Mới là một vùng nông thôn nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn
các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị
rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày
càng cao.Rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn trong giai đoạn hiện nay ngày càng trở
thành nỗi quan ngại rất lớn, gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm ở Chợ
Mới. Nó đã thực sự đe dọa đến sức khoẻ của người dân trong khu vực, nhất là ở các
khu vực dân cư tập trung đông người Trước thực trạng này, các ngành chức năng thị
mặt làm ô nhiễm nước mặt hoặc ngấm xuống đất làm ô nhiễm nước ngầm. Thông
thường sẽ mang vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, chất hữu cơ…từ rác thải vào
nguồn nước. Điều đáng chú ý là các chất ô nhiễm này sẽ có mặt trong nước sinh hoạt
hoặc nước canh tác từ đó đi vào cơ thể người dân, tích lũy qua thời gian và gây các
bệnh nguy hiểm.
Hiện nay trên địa bàn thị trấn Chợ Mới hiện tượng vứt rác, xác động vật chết
bừa bãi ở khu đất trống, vứt xuống cỗng rãnh vẫn còn tồn tại. Gây tắc ống thoát nước,
mất cảnh quan, mùi hôi thối từ rác thải bốc lên gây khó chịu, ảnh hưởng đến chất
lượng nguồn nước và sức khỏe của người dân, làm cho môi trường không khí, đất,
nước bị ô nhiễm.
21
3.3.2. Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt:
Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh
hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ,tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,… Chúng thường được thaỉ
ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, và các công trình công cộng
khác chứa đựng các chất thải trong quá trình sống của con người.
Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học, ngoài ra
còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Chất
hữu cơ chứa trong nước thải bao gồm các hợp chất như protein (40-50%); hydrat
cacbon(40-50%). Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong
khoảng 150-450mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng 20-40% chất hữu cơ khó bị
phân huỷ sinh học. Nước thải sinh hoạt ở đây chưa qua xử lí mà được thải trực tiếp ra
môi trường nó đã gây tác hại đến môi trường nước là:
• COD, BOD: sự khoáng hoá, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây
thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường
nước. Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình
phân huỷ yếm khí sinh ra các sản phẩm như H2S, NH3, CH4,.. làm cho nước có mùi
hôi thúi và làm giảm pH của môi trường.
23
CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
4.1.
Tác động đến sức khỏe con người:
Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe con người có thể thông qua hai
con đường. Thứ nhất là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả và thủy
hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm và thứ hai là do tiếp xúc với môi trường
nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động.
Hình 4.1.Tình hình bệnh tật trong dân cư do có liên quan đến
chất lượng môi trường (2007)
Nguồn: Phạm Thị Linh, 2007
Thị trấn Chợ Mới có sông Cầu, sông Chu chảy qua cùng với hệ thống suối nhỏ
dốc tụ chảy vào sông Cầu. Nguồn nước này phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
của nhân dân. Do địa bàn thị trấn không có các ao hồ như các xã khác nên nước từ con
sông Cầu là chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân và các cơ quan hành chính
đóng trên địa bàn. Vì thế, việc ô nhiễm môi trường nước hiện nay tại thị trấn có ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, nhất là các hộ sống xung quanh sông.
Nước thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và thương mại-dịch
vụ thường có mùi hôi thối khó chịu, chứa nhiều các loại tạp chất, vi khuẩn cùng hóa
chất độc hại, có khả năng gây các bệnh cho con người như bệnh tả, lỵ, thương hàn,
bệnh về mắt, ung thư, bệnh phụ khoa…
Theo kết quả điều tra khảo sát ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước mặt đến
sức khỏe người dân cho thấy các bệnh hay gặp ở địa bàn thị trấn bao gồm:
24
hiệu bị ô nhiễm. Ở những khu vực tiếp nhận trực tiếp nguồn thải là các ao hồ trong địa
bàn Thị Trấn nước có màu lạ so với bình thường.
Sông là nguồn tiếp nhận và vận chuyển các chất ô nhiễm trong nước mặt. Điều
kiện KT - XH, hệ sinh thái và các vấn đề biến đổi khí hậu có liên quan mật thiết tới
chất lượng nước. Việc nguồn nước mặt tại các sông trên địa bàn thị trấn bị ô nhiễm
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường sống của người dân và sinh vật. Một
trong những nguyên nhân gây ô nhiễm là do nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình,
trạm y tế, trường học...tại thị trấn chưa được quan tâm xử lý mà xả thẳng ra sông Cầu
và sông Chu nên chất lượng môi trường nước ở đây đã bị suy giảm nghiêm trọng.
Nước thải này chứa hàm lượng các chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cao gây ra tình
25