Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC

CHU NGỌC QUỲNH

SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO
TÀNG
MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƢ PHẠM LỊCH
SỬ

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC

CHU NGỌC QUỲNH

SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO
TÀNG
MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƢ PHẠM LỊCH
SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY

Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Trung học phổ thông

THPT

ii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ý kiến đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt động
ngoại khóa Lịch sử tại bảo tàng cho HS THPT (%) .................................................33
Bảng 1.2: Ý kiến đánh giá của HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng Bảo tàng
Mĩ thuật Việt Nam trong học tập Lịch sử (%) .........................................................35
Bảng 1.3: Tổng hợp ý kiến đề xuất của HS về hình thức sử dụng Bảo tàng Dân tộc
học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (%) ..............................40
Bảng 2.1: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong dự án
"Tìm kiếm tài năng Việt Nam" (%) ..........................................................................86
Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong chương
trình ngoại khóa "Hồn quê đất Việt" (%) .................................................................89

iii



1.2.2. Thực trạng sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt
Nam trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay .............................30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1......................................................................................44
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ
BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 10 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN) ............................................45
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam.................45
2.1.1. Mục tiêu...................................................................................................45
2.1.2. Nội dung ..................................................................................................46

v


2.2. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam...............................................................................................................47
2.2.1. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học ................................47
2.2.2. Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.....................51
2.3. Các biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt
Nam .......................................................................................................................59
2.3.1. Trong hoạt động ngoại khóa ..................................................................60
2.3.2. Trong bài nội khóa .................................................................................72
2.4. Thử nghiệm sƣ phạm ...................................................................................80
2.4.1. Mục đích..................................................................................................80
2.4.2. Đối tượng và địa bàn thử nghiệm ..........................................................80
2.4.3. Nội dung, phương pháp và tiến trình thử nghiệm ................................81
2.4.4. Kết quả thử nghiệm ................................................................................82
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2......................................................................................91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................95
PHỤ LỤC .................................................................................................................98

lưu giữ kí ức của dân tộc. Là cơ quan văn hóa - giáo dục thực hiện chức năng giáo dục,
tuyên truyền, bảo tàng đã, đang và sẽ góp

1


phần giáo dục nhằm nâng cao dân trí, tăng cường sự hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào
về truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng đất nước giàu
đẹp. Cùng với nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, rạp hát, rạp chiếu phim và các khu vui
chơi giải trí khác, bảo tàng thuộc hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, có chức năng
giáo dục quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách con người. Nhiệm vụ giáo
dục con người là nhiệm vụ chung cho toàn xã hội. Do đó, tất cả các bảo tàng đều có trách
nhiệm giáo dục công chúng mà bảo tàng phục vụ.
Hà Nội - nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước. Mỗi bảo tàng đều có nội
dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng trong việc phục vụ công tác dạy và
học tập Lịch sử. Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm Khoa học
Xã hội và Nhân văn Quốc gia với một khối lượng đồ sộ những tư liệu, hiện vật được sưu
tầm, bảo quản, bảo tàng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời,
trở thành một trung tâm thông tin, tư liệu đặc thù, cho phép tất cả mọi người trực tiếp quan
sát, nghiên cứu các dân tộc trên mọi miền đất nước ngay tại Thủ đô Hà Nội. Các hiện
vật trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học, trước hết giúp học sinh hiểu thêm những sự kiện
về đời sống văn hóa của các dân tộc mà các em chưa có điều kiện tiếp cận nhiều trong
chương trình, sách giáo khoa. Việc quan sát các tài liệu, hiện vật được trưng bày ở đây
giúp các em hiểu được toàn cảnh về đời sống văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần
của 54 dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
giúp học sinh hiểu rằng: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa đa dạng
trong thống nhất thì đến với Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, các em học sinh được tiếp
cận với di sản nghệ thuật, biết trân trọng những giá trị truyền thống, có kiến thức cơ
bản để thưởng thức văn hóa nghệ thuật dân tộc thông qua trên 18.000 tài liệu hiện vật đang
được trưng bày tại đây. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với cấu trúc nội dung trưng bày

con người và cảnh vật của quê hương đất nước, với một phong cách Việt Nam mang đậm
đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách"Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông"
do Vũ Quang Hiển - Hoàng Thanh Tú chủ biên (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014)
đã khái quát vị trí, ý nghĩa của hình thức dạy học tại bảo tàng và hoạt động ngoại khóa
Lịch sử. Đồng thời, tác giả đề xuất các biện pháp và hình thức tiến

3


hành dạy học và tổ chức hoạt động ngoại khóa phù hợp tại bảo tàng cho HS ở
trường THPT.
Trong cuốn "Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông" của Nguyễn Thị Côi (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006) đề cập
đến vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng lịch sử, cách
mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Tác
giả khẳng định, thông qua các hiện vật trưng bày hoặc đồ phục chế về quá khứ giúp
học sinh được trực quan sinh động những sự kiện lịch sử, làm giàu cho các em những
biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗ dựa để hình thành các kết luận khái quát. Đặc biệt,
học sinh được liên hệ kiến thức lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với xã hội.
Trong cuốn "Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử" do Nguyễn Thị
Côi chủ biên (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2011) đã đề cập đến ý nghĩa của hoạt
động ngoại khóa, rèn luyện năng lực tổ chức và cách thức tiến hành tổ chức hoạt động
ngoại khóa. Trong đó, tác giả có đưa ra ví dụ xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa
tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Cuốn sách "Bảo tàng, di tích nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học Lịch sử cho
học sinh phổ thông" của tác giả Nguyễn Thị Kim Thành (NXB Giáo dục Việt Nam,
2014) đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ hỗ trợ giữa việc truyền thụ
kiến thức về lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mới trong việc dạy và
học Lịch sử từ bảo tàng và di tích. Tác giả với những trải nghiệm từ thực tế của mình đã

HS; trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sử dụng bảo tàng này trong dạy học Lịch sử, tác giả
tiến hành xây dựng các chương trình hoạt động ngoại khóa Lịch sử phù hợp với đối
tượng HS lớp 10 THPT.
Như vậy, thông qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan đến đề tài, chúng tôi
thấy rằng các tác giả đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của bảo tàng trong dạy học Lịch sử;
đánh giá được thực trạng sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử; xác định yêu cầu cơ
bản cũng như cách thức tiến hành sử dụng bảo tàng để dạy học. Tuy nhiên, chưa có
một tác phẩm hay một công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc sử dụng hai bảo
tàng: Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam để tổ chức bài học nội khóa
và hoạt động ngoại khóa Lịch sử cho HS ở trường THPT. Đó là cơ sở, động lực để
chúng tôi thực hiện đề tài này, với mong muốn góp phần

6


bổ sung nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho GV, HS THPT và sinh viên các
trường sư phạm.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ
thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử lớp 10 THPT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung , đề tài tập trung vào phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 - chương
trình chuẩn.
- Về hình thức tổ chức dạy học: tập trung vào bài học nội khóa và hoạt động
ngoại khóa.
- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và tiến hành thử nghiệm tại trường
THPT Tây Hồ (Hà Nội), THPT Kim Liên (Hà Nội), THPT Ninh Giang (Hải Dương),
THPT Trung Giã (Sóc Sơn, Hà Nội), THPT Sơn Tây (Hà Nội), THPT Tây Tiền Hải
(Thái Bình).
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS; phân tích nội dung chương
trình, SGK lớp 10.
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, điều
tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và Bảo
tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường
trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên
cứu của luận văn.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu GV sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam theo
hướng dạy học tích cực sẽ đáp ứng được mục tiêu dạy học lịch sử nói chung, dạy học
phần Lịch sử Việt Nam (lớp 10) nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
Lịch sử ở trường THPT hiện nay.
7. Đóng góp của đềtai
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

8


- Khẳng định được vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng tư liệu của
bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng
trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
- Đánh giá được thực trạng dạy học LS nói chung, thực trạng sử dụng tư liệu
của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng
trong dạy học Lịch sử.
- Đề xuất biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt
Nam phù hợp với mục tiêu dạy học.
- Thử nghiệm một số biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ
thuật Việt Nam tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài nội khóa cho phần Lịch sử
Việt Nam (chương trình Lịch sử lớp 10).
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: bảo tàng "cũng như một cuốn sử… cho ta thấy rõ ông
cha ta đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay" [18, tr.1].
Bàn về quá trình nhận thức của con người, V.I Lênin đã viết: "Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan". Quá
trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng không ngoài quy luật nhận thức chung đó.
Một đặc điểm điển hình của việc học tập lịch sử là học sinh không trực tiếp quan sát
các sự kiện lịch sử như nó đã từng diễn ra, vì vậy, yếu tố trực quan có ý nghĩa rất quan
trọng trong dạy học. Các nhà giáo dục học đã chứng minh rằng, càng có nhiều giác
quan tham gia vào quá trình tri giác thì sự lĩnh hội tri thức ngày càng nhanh, càng bền
vững và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành biểu tượng, khái niệm, rút ra
quy luật và bài học lịch sử. Khi được tri giác các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng, nhất là
các tài liệu, hiện vật gốc, HS dễ dàng có được biểu tượng cụ thể về những sự kiện lịch
sử đã qua, HS được tiếp xúc với những "mảnh"

10


lịch sử được để lại, có giá trị xác nhận tính hiện thực, tính chính xác của những sự
kiện, những thời kì lịch sử mà các em đã được học. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong
việc khắc sâu tri thức lịch sử, giáo dục niềm tin, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS.
Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của GV và dựa trên cơ sở quan sát tài liệu, hiện vật của
bảo tàng, HS cũng được rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn như: kĩ năng quan sát,
miêu tả, giới thiệu nội dung tranh ảnh, bản đồ, hiện vật… một cách ngắn gọn, xúc tích,
rõ ràng và từ đó biết rút ra kết luận về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở
trường THPT không chỉ cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng mà còn có ý nghĩa giáo dục
thái độ cho HS. Dạy học Lịch sử ở các bảo tàng là rất cần thiết bởi các tài liệu, hiện vật
ở bảo tàng không chỉ cung cấp một khối lượng kiến thức phong phú, sinh động, củng cố
kiến thức đã học cho HS, mà còn cung cấp kiến thức mới, tài liệu tham khảo, đồ dùng

bày trong bảo tàng tuyệt đối không định mức được giá trị. Nó chỉ có giá trị khi HS phải tự
tìm hiểu, tự khám phá và trải nghiệm với nó.
Như vậy, sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT về bản chất là
sử dụng tư liệu của bảo tàng. Trong đó, GV đóng vai trò tìm hiểu, lựa chọn các nguồn
tư liệu của bảo tàng phù hợp với mục tiêu bài học Lịch sử, phù hợp với từng trường,
từng lớp và từng đối tượng HS. Từ đó, GV thiết kế kế hoạch bài dạy với các phương
pháp, hình thức tổ chức đa dạng và phù hợp nhằm hướng dẫn HS khám phá sự kiện,
hiện tượng Lịch sử được phản ánh qua tư liệu, hiện vật trưng bày trong bảo tàng.
Tư liệu lịch sử được chia thành bảy loại: tư liệu chữ viết, tư liệu vật chất, tư liệu
truyền miệng dân gian, tư liệu ngôn ngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi
hình và tư liệu băng ghi âm. Theo phân loại như trên, tại bảo tàng có
những nguồn tư liệu lịch sử như sau:
Tư liệu chữ viết là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra
được ghi lại bằng kí tự trên các kênh thông tin khác nhau như: giấy, xương, đá, mai rùa,
vỏ cây... Đây là nguồn tư liệu có khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm địa
vị chủ yếu trong các loại tư liệu. Các nhà nghiên cứu đã phân chia

12


tư liệu chữ viết thành các loại khác nhau như theo đặc điểm, theo ngành, theo lĩnh
vực... Tuy loại tư liệu này có thể dễ dàng thu thập dưới nhiều hình thức hơn các loại tư
liệu khác, nhưng chúng ta cần nghiên cứu và xử lý trước khi đem vào sử dụng. Vì lịch
sử mang tính giai cấp nên lịch sử cũng mang tính chủ quan, chịu ảnh hưởng tư tưởng của
các thời kì lịch sử. Khi tìm hiểu loại tư liệu này chúng ta cần phải đối chiếu với các loại
tư liệu khác để có cái nhìn toàn diện, chân thực nhất về lịch sử. Ngoài ra, tư liệu chữ
viết còn bao gồm cả những bảng số liệu thống kê từ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân
sự, văn hóa, giáo dục. Thông qua những bảng số liệu đó, phần nào đó lịch sử được cụ thể
hóa.
Tư liệu vật chất là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận

Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủ các sự kiện, hiện tượng lịch sử
đã xảy ra. Tuy nhiên, với sự phát triển của kĩ thuật công nghệ nguồn tư liệu này dễ bị
xuyên tạc, làm giả nên khi sử dụng cần lưu ý đến độ chân thực nguyên bản. Nếu sử dụng
được đúng tư liệu băng ghi âm, ghi hình gốc sẽ rất có giá trị.
Trong các nguồn tư liệu lịch sử, loại tư liệu chữ viết chiếm đa số, dễ cho việc tìm
kiếm hơn các loại tư liệu khác nên được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, trong dạy học lịch
sử hiện nay, bên cạnh việc tiếp cận nguồn tư liệu chữ viết, GV cần chú ý đến việc sử
dụng các nguồn tư liệu khác như tư liệu vật chất, tư liệu hình ảnh, băng ghi âm, ghi hình...
mà các bảo tàng là một trong những nơi lưu trữ, bảo tồn những nguồn tư liệu đó để
giúp cho bài học lịch sử không còn khô khan mà trở nên sinh động, hấp dẫn đối với HS.
Vì vậy, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả đi sâu vào đề xuất sử dụng tư liệu của
bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT theo hai hình thức: Một là tổ chức các
hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS tại bảo tàng hoặc ở
trên lớp thông qua "bảo tàng ảo" được thiết kế bằng phần mềm Photo 3D Album; hai là
sử dụng tư liệu của bảo tàng trong việc hướng dẫn HS tìm hiểu bài nội khóa trên lớp học.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học,
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Khác với kiến thức của các bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, kiến
thức lịch sử có đặc trưng riêng, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính
hệ thống, tính thống nhất giữa "sử" và "luận". Do đó, trong việc học tập môn

14


Lịch sử, học sinh không được trực tiếp chứng kiến những sự kiện, hiện tượng lịch
sử. Trong giờ học, lời nói của giáo viên dù có sinh động, giàu hình ảnh đến đâu cũng
khó có thể tạo được hình ảnh cụ thể, chính xác, đầy đủ về hiện thực lịch sử như nó đã
từng diễn ra. Chính vì vậy, bảo tàng "một bằng chứng vật chất xác thực về con người
và môi trường xung quanh con người" (Hội đồng Bảo tàng thế giới (ICOM), năm 1946)
đóng một vai trò và có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên những biểu tượng sinh

đồng và giao thoa với nhau. Điều đó làm nên bản sắc của văn hóa Việt Nam và đặc trưng
văn hóa riêng của từng dân tộc.
Thông qua các phần trưng bày, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thể hiện được
cuộc sống, sinh hoạt, một số đặc trưng văn hóa của các dân tộc, bảo tàng là nơi có ưu thế
đặc biệt trong việc giúp học sinh có cái nhìn toàn diện và nâng cao tri thức khoa học về
nền văn hóa của các dân tộc, mở rộng giao lưu và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa
các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.
Đến với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, học sinh sẽ hiểu được toàn bộ quá trình
phát triển của lịch sử mỹ thuật Việt Nam thông qua trên 18.000 tài liệu hiện vật đang
được trưng bày tại đây thể hiện qua các chuyên đề: Mỹ thuật thời Tiền sử - Sơ sử; Mỹ
thuật từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX (Mỹ thuật thời Lý - Trần, mỹ thuật thời kỳ Lê Sơ Mạc - Lê Trung Hưng, mỹ thuật thời Tây Sơn - thời Nguyễn); Mỹ thuật đương đại, Mỹ
thuật ứng dụng; Mỹ thuật dân gian; Gốm nghệ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỉ
XX. Cấu trúc nội dung trưng bày mạch lạc, khúc triết theo trục dọc thời gian của lịch
sử mỹ thuật, với sự trưng bày theo loại hình, chất liệu: gốm, tranh sơn mài, sơn dầu,
lụa, giấy. Mặt xuyên suốt của mỹ thuật từ truyền thống tới hiện đại, chính là cái bảo lưu
bản sắc văn hóa dân tộc. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam giúp HS có thể cảm thụ, hiểu và
phân tích được những nét hay, nét đẹp của những tác phẩm mỹ thuật Việt Nam tiêu biểu.
Đồng thời khẳng định những đặc điểm của một nền mỹ thuật dân tộc. Nền mỹ thuật đó có
chịu ảnh hưởng của một số nền văn hóa xung quanh ở một vài nội dung và trong những
thời kì nhất định, nhưng phong cách sáng tạo hoàn toàn mang đặc điểm, tinh thần, tư
tưởng và quan niệm tạo hình của người Việt Nam. Thông qua các tác phẩm nghệ thuật
đó, HS có thể tìm hiểu về các nhân vật lịch sử, về những người anh hùng có công với
cách mạng, với dân tộc; tìm hiểu về các sự hiện, hiện tượng lịch sử từ cội nguồn đến các thời
kì xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng; đồng thời, HS

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status