Đề cương thể chế chính trị 2 - Pdf 36

Câu 1: Phân tích CĐCT theo Hiến pháp 2013
Chế độ chính trị của nước Cộng hòa XHCNVN được trình bày trong chương I của bản hiến
pháp 2013.
Điều 1 của Hiến pháp khẳng định Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước
độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và
vùng trời. Khẳng định quan điểm: Quyền lực Nhà nước là thống nhất, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước bao
gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất
là từ nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền, thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị
chung là xây dựng nhà nước.
Hiến pháp 2013 thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) theo tinh thần của Cương lĩnh. Kiểm
soát quyền lực là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp và
pháp luật, tránh việc lợi dụng, hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và mâu thuẫn chồng chéo hoặc
trùng lắp trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước giữa các cơ quan. Nguyên tắc này đã được
thể hiện trong các Chương V, VI, VII, VIII và IX của Hiến pháp và tạo cơ sở hiến định cho việc
tiếp tục thể chế hóa trong các quy định của các luật có liên quan. Mặc dù có sự phân định nhưng cả
3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau mà ràng buộc, phối hợp,
kiểm soát lẫn nhau để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn mà nhân dân giao mỗi quyền được
Hiến pháp quy định.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng
dân chủ trực tiếp được ghi nhận và phát triển thành nguyên tắc trong Hiến pháp.Theo đó, nhân dân
thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội,
Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6) mà không chỉ thông qua
Quốc hội và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1992. Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán
trong toàn bộ Hiến pháp, từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân đến các thiết chế trong bộ máy nhà nước cũng như trong việc sửa đổi Hiến pháp.
Hiến pháp khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá

Tiếp tục khẳng định và thể hiện rõ hơn tư tưởng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, coi
đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất
nước. Cụ thể, Hiến pháp tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của Nhân dân nhưng bổ sung vai trò của Mặt trận trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội;
đồng thời tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt
động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 9). Tiếp tục kế thừa Hiến
pháp năm 1992 về Công đoàn, Hiến pháp đã bổ sung vai trò, trách nhiệm của Công đoàn phù hợp
với giai đoạn phát triển mới của đất nước (Điều 10). Bên cạnh đó, Hiến pháp có sự bổ sung, phát
triển quan trọng trong việc ghi nhận vị trí, vai trò của Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ
chức chính trị - xã hội nòng cốt trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và
thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoản 2 Điều 10).
Hiến pháp nước CHXHCNVN đã sửa đổi, bổ sung chính sách đối ngoại của nước ta cho phù hợp
với tình hình mới; khẳng định nước CHXHCNVN thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội
nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc
tế mà CHXHCNVN là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng
quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội trên thế giới (Điều 12).


Câu 2: Phân tích khái niệm, đặc điểm của bộ máy chính trị Việt Nam
Khái niệm hệ thống chính trị: là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan
quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội) được xây dựng dựa trên các
quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo nguyên tắc,
cơ chế và quan hệ cụ thể nhằm thực nhiện mục tiêu chung của các hệ thống chính trị.


+ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các
tầng lớp nhân dân.
+Dân cử các nhà đại diện để trở thành các nhà lãnh đạo cấp cao trong nhà nước
+Dân giám sát hoạt động của nhà nước và phản biện thông qua các tổ chức chính trị- xã hội của
mình.
-HTCT được tổ chức rộng khắp, chặt chẽ theo nguyên tắc tập trung dân chủ:
+ Hiện nay cả nước ta có 63 tỉnh, thành phố, trên 500 quận, huyện và hàng chục nghìn xã,
phường, thị trấn. Hầu như ở đâu cũng có đầy đủ các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội của quần
chúng. Các tổ chức đảng, đoàn thể này được tổ chức theo hệ thống từ trên xuống dười có mặt ở mọi
cấp, hoạt động theo nguyên tắc cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới, cấp dưới phục tùng cấp trên.
Hệ thống chính trị còn tồn tại theo các đơn vị, các cơ quan, các tổ chức hành chính, sự nghiệp, các
doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh.
+Ngay trong một cơ quan, đoàn thể nào đó cũng có mặt các tổ chức của các đoàn thể khác,
nghĩa là các tổ chức không chỉ tồn tại bên cạnh nhau, mà còn tồn tại đan xen, lồng vào nhau. Tất cả
tạo nên một mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ.
-Các thành viên của HTCT do Đảng sáng lập ra có lịch sử đấu tranh vẻ vang
Các đoàn thể quần chúng đều do Đảng Cộng sản lập ra nhằm mục đích đấu tranh chống đế
quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc. Các thành viên của hệ thống chính trị gắn mình với sự nghiệp
cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc. Hội nông dân được lập ngày 14/10/1930, Hội Phụ
nữ thành lập ngày 20/10/1930, Đoàn thanh niên ngày 26/3/1930, Mặt trận Tổ quốc mà tiền thân là
Hội phản đế được lập ngày 18/11/1930, trước đó từ tháng 7/1929, tổ chức Công đoàn đầu tiên đã
được thành lập (Công hội đỏ Bắc Kỳ)
-Các thành viên của HTCT có địa vị pháp lý vững chắc:
Việt Nam các thành viên của hệ thống chính trị được xác định cụ thể. Vị trí, vai trò của mỗi tổ chức
trong
hệ
thống
chính
trị

nhiệm của các chủ thể liên quan sau giám sát. Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện nghị quyết, kết
luận, kiến nghị sau giám sát chưa được thường xuyên nên hiệu lực và hiệu quả giám sát của Quốc
hội còn chưa được như mong muốn.
- Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu
quả hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm
vụ mới. Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất
lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn,


bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ. Năng lực và phẩm
chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ
phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu
của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao.
- Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh
đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất
đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước
xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ
thống chính trị chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ; nội dung và phương thức
hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán
bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.
* Đề xuất 1 số hướng khắc phục trong xây dựng hệ thống chính trị nước ta
+ Đổi mới HTCT là một nhu cầu tất yêu và khách quan, với nguyên tắc đổi mới kinh tế và
chính trị phải đi đôi với nhau.
+ Đổi mới phải đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không gây bất ổn
về chính trị, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng
+ Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập.
+ Trong điều kiện một đảng cầm quyền, khâu mấu chốt của đổi mới HTCT là phân định rõ
chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và các đoàn thể

Câu 4: Trình bày các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước

sự tín nhiệm của nhân dân; bỏ phiếu trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ
quyền hạn của nhà nước.
c)

Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ giữa các dân tộc.

Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định "Nhà nước CHXH Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trong đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền
dùng tiếng nói chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền
thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mọi mặt,từng
bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DT thiểu số".
Thực hiện nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đòi hỏi, tất cả các dân
tộc phải có đại diện của mình trong các cơ quan nhà nước đặc biệt trong Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp. Các cơ quan nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, của các dân tộc,
bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các dân tộc. Nhà nước có chính sách ưu tiên giúp
đỡ để các dân tộc ít người mau đuổi kịp trình độ phát triển chung của toàn xã hội.


Bên cạnh đó, nhà nước nghiêm trị những hành vi miệt thị gây chia rẽ, hằn thù giữa các dân tộc
cũng như bất cứ hành vi nào lợi dụng chính sách dân tộc để phá hoại an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, nhà nước ta.
d) Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định "Quốc hội với Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà
nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ".
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung lợi ích của
nhà nước, sự trực thuộc, phục tùng của các cơ quan nhà nước cấp dưới trước các cơ quan nhà nước
cấp trên và chế độ dân chủ, tạo điều kiện cho việc phát triển sự sáng tạo, chủ động và quyền tự
quản của các cơ quan nhà nước cấp dưới.
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu chỉ chú


Câu 5: trình bày và phân tích các chức năng cơ bản của QUốc Hội nước CHXHCNVN
Về chức năng của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ hơn, khái quát hơn trên ba
phương diện: thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của
đất nước; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
* Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền ban hành, sửa đổi Hiến pháp và luật. Luật của Quốc
hội có khả năng điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng nhất.
Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi Quốc hội phải tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật để
khắc phục tình trạng vừa thiếu pháp luật, vừa mẫu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật,
thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Quốc hội đều
phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, không thể tự định cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn khác
ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn đã được Hiến pháp, pháp luật quy định.
- Nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội trong hoạt động lập hiến và lập pháp là rất lớn, không bị
giới hạn
- Có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, UBTV Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng,
TANDTC và VKSNDTC nếu các văn bản đó trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội
* Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
So với quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã quy định theo hướng khái
quát hơn, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
tạo cơ sở để cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong Hiến pháp và trong các đạo luật
chuyên ngành.
Theo đó, Quốc hội chỉ quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như:
Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - XH: quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách,
nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (khoản 3 Điều 70); quyết định chính sách
cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân
chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết
định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà
nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước (khoản 4 Điều

+ Hội đồng Bầu cử QG
+Tổng kiểm Toán nhà Nước
- phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng:
+ Các vị trí trong chính phủ: các P.thủ tướng, Các Bộ trưởng
+ phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch Nước: Thành viên hội đồng quốc phòng và an ninh
- Quyết định Thành lập hoặc Bãi bỏ:
+ Các Bộ và cơ quan ngang bộ của Chính Phủ
+ Nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương.
* Trong việc thực hiện chức năng giám sát tối cao
Về giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Đây là hoạt động mang tính chất chính
trị, thể hiện ý chí của cử tri và là một trong những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của
quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Thực hiện quyền giám sát tối cao với việc tuân theo Hiến pháp, Luật và Nghị quyết
của Quốc Hội
(1) phạm vi thẩm quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước của Quốc hội là có
giới hạn, không mở rộng đến “toàn bộ” hoạt động của Nhà nước (bao gồm các cơ quan thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương mà chỉ
tập trung vào các cơ quan ở trung ương như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
(2) Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan nhà nước
khác do Quốc hội thành lập.
(3) Quy định khái quát để các luật có điều kiện cụ thể hóa những hoạt động nào của Nhà
nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
- Xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, VBTVQH, Chính phủ, TANDTC,
VKSNDTC, Hội đồng bầu cử quốc gia, kiểm toán nhà nước
Việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội trên cơ
sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, bằng các hình thức: xét báo cáo công tác của các cơ


cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp
Bước 2: UB bầu cử ĐBQH và ĐB HĐND, hội đồng bầu cử báo cáo UBTVQH điều chỉnh lần thứ
nhất về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu. Trên cơ sở điều chỉnh của UBTVQH, Ủy ban mặt
trận Tổ quốc Việt Nam sẽ có nhiệm vụ sau:
+ Thông báo về việc phân bố số lượng ứng viên ở các cơ quan tổ chức.
+ Hướng dẫn các ứng cử viên làm hồ sơ ( lí lịch, đơn, bằng cấp, kê khai tài sản,...)
+ Hướng dẫn các cơ quan tổ chức làm các thủ tục để giới thiệu các ứng viên:
• Lãnh đạo cơ quan phối hợp với ban chấp hành cơ quan tổ chức giới thiệu ứng cử viên.
• Lấy phiếu tín nhiệm của cử tri nơi công tác.
Bước 3: Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ 2
- Thành phần tham gia: Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên được tiến
hành ở trung ương và địa phương


- Mục đích: Lập danh sách sơ bộ các ứng cử viên ĐBQH và ĐBHĐND ( điều 36, điều 38)
Bước 4:
- Tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú đối với những người được ứng cử, lấy ý kiến
nhận xét và tín nhiệm cử tri nơi làm việc đối với người tự ứng cử ( điều 39, 37)
- Tiến hành xong việc xác minh và trả lời về các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử
ĐBQH và ĐB HĐND các cấp ( điều 42, 38)
Bước 5: Tổ chức hội nghị hiệp thương lần 3
- Lập danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND
- Thành lập tổ bầu cử đồng thời thực hiện nhiệm vụ phụ trách bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND ( điều
17)
- Niêm yết danh sách cử tri bầu ĐBQH và bầu đại biểu HĐND các cấp ( điều 25)
- Ban thường trực TWMTTQVN gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ 3 và danh sách chính
thức những người ứng cử ĐB QH và ĐBHĐND ( điều 44, 45)
* Hội đồng bầu cử phân bố ĐBQH do TW giới thiệu về 63 tỉnh, thành phố, các tỉnh, thành phố
phân bố về các đơn vị bầu cử và lập danh sách người úng cử theo đơn vị bầu cử của tỉnh, thành phố
về Hội đồng bầu cử.

- Khi bắt đầu khám chỗ ở, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải
thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Người tiến hành khám
phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối
thì tiến hành khám.
- Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình
họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp
đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám
xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến.
- Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ
lý do vào biên bản
- Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm những người có mặt không được tự ý rời
khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến
khi khám xong
THAM KHẢO THÊM CHÍNH PHỦ
Điều 94
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
Điều 95
Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ.


Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định. Chính phủ làm việc theo chế
độ tập thể, quyết định theo đa số.
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt
động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của

7. Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch
nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh
Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
8. Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ
chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 97


Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính
phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ.
Điều 98
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành
pháp luật;
2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung
ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;
3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng
Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ
trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và
quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương;
4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến
pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;
5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status