VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
----------
-----------
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
SÀNG LỌC VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ CHỦNG NẤM SỢI CÓ
HOẠT TÍNH KHÁNG VI SINH VẬT ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ CÁC
MẪU THU THẬP Ở VỊNH BÁI TỬ LONG.
Giáo viên hướng dẫn 1 :
TS. Lê Thị Hồng Minh
Giáo viên hướng dẫn 2 :
NCS. Vũ Thị Quyên
Sinh viên thực hiện
:
Nguyễn Thị Xuân Linh
Lớp
:
3
Agar
Agarose
1
ADN
Axit deoxyribonucleotit
2
ARN
Axit ribonucleotit
4
BLAST
Basic Local Alignment Search Tool
5
CMC
Carboxymethyl cellulose
11
SDS
Sodium dodecyl sulfate
12
SEM
Scanning Electron Microscope
13
TAE
Tris-acetate-EDTA
14
Tm
Nhiệt độ biến tính
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần chính của thành tế bào nấm…………………………………
Bảng 2.2: Phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học từ nấm biển………………
Bảng 4.2: Ký hiệu 20 chủng nấm đã được làm sạch…………
Bảng 4.3: Kết thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của ba chủng nấm có hoạt
tính cao……………………………………………………………………
Bảng 4.4: Trình tự và thông số các cặp mồi sử dụng cho phản ứng PCR…
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Hình dạng của vi nấm…………………………………………………..
Hình 2.2: Rễ giả ở nấm Rhizopus…………………………………………………
Hình 2.3: Thể đệm (stroma)……………………………………………………….
Hình 2.4: Hạch nấm (sclepotium)…………………………………………………
Hình 2.5: Các kiểu bào tử đảm…………………………………………………….
Hình 4.1 : Một số hình ảnh nơi lấy mẫu và các mẫu thu được
Hình 4.2: Một số hình ảnh khi phân lập nấm
Hình 4.3: Hình ảnh nấm được làm sạch trên môi trường nấm
Hình 4.4: Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định
Hình 4.5: Kết quả thử khả năng phân giải tinh bột
Hình 4.6: Kết quả thử khả năng phân giải protein
Hình 4.7: Kết quả thử khả năng phân giải cellulose
Hình 4.8: Penicillium citrinum:(A) Khuẩn lạc(MEA); (B) Cơ quan sinh bào tử trần
và bào tử trần (x 400).
Hình 4.9: Penicillium steckii:(A) Khuẩn lạc(MEA); (B) Cơ quan sinh bào tử trần và
bào tử trần (x 400).
Hình 4.10: Aspergillus sydowi:(A) Khuẩn lạc(MEA); (B-C) Cơ quan sinh bào tử trần và
bào tử trần (x 400); (D) Hüll cell(x 400)
Hình 4.11: Aspergillus flavus:(A) Khuẩn lạc(MEA); (B) Cơ quan sinh bào tử trần và
bào tử trần (x 400).
Hình 4.12: Kết quả điện di đồ AND tổng số của ba chủng nấm
Hình 4.13: Điện di đồ sản phẩm PCR gen 5,8S của 3 chủng
ATCC12228), 3 chủng Gram + (Enterococus faecalis ATCC13124, Stapphylococus
aureus ATCC25923, Bacillus cereus ATCC 13245), 1 chủng Nấm Canida albicans
ATCC1023.
- Tuyển chọn được 3 chủng vi nấm có hoạt tính kháng vi sinh vật cao nhất.
- Kiểm tra hoạt tính enzyme: amylase, protease, cellulase của các chủng vi nấm đã
tuyển chọn
- Định danh bằng hình thái và trình tự 5,8S ARN riboxom của các chủng nấm được
tuyển chọn.
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG……………………………………………..
DANH MỤC HÌNH………………………………………………
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU…………………………..
PHẦN I: MỞ ĐẦU……………………………………………….
1.1: Đặt vấn đề……………………………………………………………………
1.2: Mục tiêu của đề tài…………………………………………………………..
1.3: Ý nghĩa của đề tài……………………………………………………………
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……………………………..
2.1
:Vi nấm (Microfungi)…………………………………………………….
2.1.1 :Vị trí của vi nấm trong vi sinh vật và đặc điểm chung…………………
2.1.2 : Đặc điểm và phân bố của nấm men và nấm sợi………………………..
2.1.2.1: Nấm men………………………………………………………………..
2.1.2.2: Nấm sợi…………………………………………………………………
: Vật liệu và hóa chất…………………………………………………….
3.1.1 : Vật liệu nghiên cứu……………………………………………………..
3.1.2 : Hóa chất và thiết bị……………………………………………………..
3.2
: Phương pháp nghiên cứu………………………………………………
3.2.1 : Thu thập các mẫu trầm tích, hải miên biển……………………………
3.2.2 : Phương pháp phân lập nấm…………………………………………….
3.2.3 : Phương pháp thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định bằng phương pháp
khuếch tán đĩa thạch……………………………………………………………
3.2.4 : Phương pháp xác định các đặc điểm sinh lý , sinh hóa của chủng nấm có
hoạt
tính
đối
kháng
với
một
số
vi
sinh
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………...
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………..
LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………...
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Nấm được tìm thấy ở mọi nơi trong môi trường. Chúng thực hiện hàng loạt
các chức năng sinh thái quan trọng, đặc biệt là những đối tượng có liên quan tới sự
phân hủy các chất hữu cơ ở trên cạn và cả dưới biển , cả kể trong những môi trường
khắc nghiệt. Các loài nấm có tầm quan trọng với đa dạng sinh học lên tới hàng triệu
loài. Nấm sống ở biển được xác định là bắt buộc sống ở môi trường biển hoặc tùy ý.
Nấm biển mọc và sinh bào tử trong môi trường biển. Một số loài nấm biển ngẫu
nhiên có thể tiến hóa và thích nghi với môi trường biển và cuối cùng trở thành nấm
biển bắt buộc. Nấm biển có thể sống kí sinh hoặc hoại sinh trên động vật hoặc các
loài tảo hay cây gỗ chết [5]. Hiện nay nấm biển chưa được nghiên cứu nhiều như
các loài nấm sống trên cạn.
Có nhiều lý do đã đặt ra sự cấn thiết để kiểm tra sự đa dạng sinh học của
nấm. Một số nấm biển lại là nguồn enzyme dùng trong xử lý sinh học. Một số nấm
biển được công nhận là cung cấp các chất thứ cấp có hoạt tính sinh học mới như
chống khối u, chống virus, kháng viêm, các hợp chất ức chế enzyme... Nấm biển chỉ
mới thực sự được chú ý nghiên cứu ở vài thập kỷ trở lại đây. Nấm biển cho thấy khả
năng tiềm tàng giống như một nguồn thuốc mới dù chất chuyển hóa chỉ ở nồng độ
thấp.
Môi trường biển chiếm 70% bề mặt trái đất nên là nguồn chứa khổng lồ các
nguồn đa dạng sinh học. Mặc dù hình dáng bên ngoài của các đại dương như một
tấm thảm thủy sản thống nhất, các khu vực nằm ở các cực hay bất cứ gì ở đáy biển
đều đồng nhất nhưng trong mỗi hốc của đại dương tập hợp cụ thể các điều kiện vật
lý phù hợp cho một sự tồn tại của đa dạng sinh học đáng kinh ngạc. Trầm tích biển
PHẦN II. TỔNG QUAN
2.1. Vi nấm (Microfungi)
2.1.1 : Vị trí của vi nấm trong vi sinh vật và đặc điểm chung của vi nấm.
Vi nấm là vi sinh vật nhân thật , gồm tất cả các loài nấm men và nấm sợi
không sinh thể quả lớn (mũ nấm). Nấm nói chung thộc một giới riêng biệt (giới
Nấm -Fungi), chúng có các đặc điểm chung sau đây:
Cơ thể là một tản (thallus), tức là một cơ thể có bộ máy dinh dưỡng chưa
phân hóa thành các cơ quan riêng biệt. Tản của nấm có thể là đơn bào hay đa bào,
đa số có dạng sợi gọi là sợi nấm hay khuẩn ti (hypha). Sợi nấm có thể có hay không
có vách ngăn (sept). Sợi nấm có đường kính trung bình 5-10 µm, đôi khi rất lớn (tới
25µm) nhưng cũng có khi rất nhỏ (1-2µm). Có sợi nấm trong suốt không màu, có
sợi có màu. Một số sợi nấm tiết sắc tố vào môi trường nuôi cấy. Một số sợi nấm
khác có thể tiết ra các hợp chất hữu cơ , kết tinh trên bề mặt sợi nấm. Đa số sợi nấm
phân nhánh nhiều lần nhưng cũng có loại sợi nấm không phân nhánh. Từ một bào tử
hay một đoạn sợi nấm gặp điều kiện thuận lợi sợi nấm sẽ phát triển ra theo cả ba
chiều tạo thành một khối sợi nấm , ta gọi là hệ sợi nấm hay khuẩn ti thể (mycelium).
Ở một số nấm các sợi nấm sẽ quấn chặt với nhau , thậm chí dính liền với nhau theo
chiều dọc tạo ra những hình thái đặc biệt của nấm như thể đệm (stroma), hạch nấm
(aclerotium), rễ giả (synnema), thể quả (fruiting body hay sporocarp)...
Hình 2.1: Hình dạng của vi nấm
Các vách ngang ở sợi nấm ngăn vách đều có lỗ thông. Tùy loại nấm mà vách
ngang có thể có thể có một lỗ thông khá lớn ở chính giữa (ví dụ ở Nấm túi và Nấm
bất toàn), có thể có nhiều lỗ thông tương đối nhỏ (ví dụ ở Geotrichun candidum và
nhiều loài Fusarium), cũng có thể có một lỗ thông ở chính giữa nhưng mép lỗ dày
lên bên ngoài có một màng mỏng che phủ (màng parenthesome). Qua lỗ thông
không những chất nguyên sinh có thể đi qua mà nhân tế bào cũng có thể thót nhỏ lại
để chui qua. Nhân tế bào trong sợi nấm thường di chuyển đến những phần nấm sợi
Kitin
- Oomycetes
Cellulose – Glucan
- Hyphochytridiomycetes
Cellulose – Kitin
- Chytridiomycetes
Kitin- Glucan
+ Ngành phụ Zygomycetes
- Zygomycetes
Kitin- Kitozan
- Trichomycetes
Poligatactozamin – Galactan
+
Ngành
phụ
rất đa dạng, có thể kể đến bào tử noãn, bào tử tiếp hợp, bào tử túi, bào tử đảm.
Nấm không có chu trình phát triển chung. Có 5 kiểu chu trình phát triển ở
nấm : chu trình lưỡng bội, chu trình hai thế hệ, chu trình đơn bội, chu trình đơn bội
– song nhân, chu trình vô tính [2].
2.1.2 : Đặc điểm và phân bố của nấm men và nấm sợi
2.1.2.1: Nấm men
Nấm men (Yeast, Levure) là tên gọi thông thường của một nhóm nấm có vị trí phân
loại không thống nhất nhưng có chung các đặc điểm sau đây: Nói chung có tồn tại
trạng thái đơn bào. Đa số sinh sôi nảy nở theo lối nảy chỗi, cũng có hình thức phân
cắt tế bào. Nhiều loại có khả năng lên men đường. Thành tế bào chứa mannan.
Thích nghi với môi trường chứa đường cao, có tính axit cao. Nấm men phân bố
rộng rãi trong tự nhiên, nhất là trong môi trường có chứa đường, có pH thấp như
trong hoa quả, rau dưa, mật mía, rỉ đường, mật ong, mật mía, trong đất ruộng mía,
đất vườn cây ăn quả, trong các đất có nhiễm dầu mỏ.
2.1.2.2: Nấm sợi
Nấm sợi là tất cả các nấm không phải nấm men và cũng không sinh mũ nấm
(thể quả có kích thước lớn) như ở các nấm lớn. Tuy nhiên ở tất cả các giai đoạn
chưa sinh mũ nấm thì khuẩn ti của nấm lớn vẫn được coi là nấm sợi và được nghiên
cứu về các mặt sinh lí, sinh hóa, di truyển … như các nấm sợi khác.
Nấm sợi còn được gọi là nấm mốc, tức là chỉ tất cả các mốc mọc trên thực
phẩm, trên chiếu, quần áo, giấy dép...Chúng phát triển rất nhanh trên nguồn cơ chất
hữu có khi gặp khí hậu nóng ẩm. Trên nhiều vật liệu vô cơ do dính bụi bặm (như
các thấu kính ở ống nhòm, máy ảnh, kính hiển vi nấm mốc có thể phát triển, sinh
axit và làm mờ các vật liệu này.
Nhiều nấm sợi kí sinh trên người, trên động vật, thực vật và gây ra các bệnh
nấm khá nguy hiểm. Nhiều nấm sợi sinh ra các độc tố có thể gây bệnh ung thư và
nhiều bệnh tật khác.
Trong tự nhiên nấm sợi phân bố rộng rãi và tham gia tích cực vào các vòng
suất thẩm thấu của tế bào [2].
2.2.2: Hình thái và cấu tạo của nấm sợi
Các sợi nấm có chiều ngang tương tự đường kính nấm men. Cấu trúc của sợi
nấm cũng tương tự cấu trúc tế bào nấm men. Bên ngoài có thành tế bào, rồi đến
màng tế bào, bên trong là tế bào chất với nhân phân hóa. Màng nhân có cấu tạo 2
lớp và trên màng có nhiều lỗ nhỏ. Trong nhân có hạch nhân. Bên trong tế bào nấm
còn có không bào, ti thể, mạng lưới nội chất, bào nang, thể màng biên… Thể mang
biên là kết cấu màng đặc biệt, nằm ở giữa thành tế bào và màng tế bào chất, bao bọc
bởi một lớp màng đơn và có hình dạng biến hóa rất nhiều (hình ống, hình túi, hình
cấu, hình trứng hoặc hình nhiều lớp) Công dụng của thể màng biên còn chưa được
làm sáng tỏ, có thể là có liên quan đến sự hình thành thành tế bào.
Đỉnh sợi nấm bao gồm một chóp nón, không tăng trưởng và có tác dụng che
chở bảo vệ cho phần ngọn của sợi nấm. Đây là phần mà chất nguyên sinh không có
nhân và ít chứa các cơ quan tử. Phần này rất dễ tách rời với các phần còn lại của
ngọn sợi nấm vì dưới chop nón là một phần có thành rất mỏng. Dưới nữa là phần
tạo ra thành tế bào. Các sợi nhỏ trên thành tế bào xếp ngang (chéo góc với trục sợi
nấm). Dưới nữa là phần tăng trưởng. Thành của phần này có cấu trúc sợi dạng
mạng lưới. Ngọn sợi nấm tăng trưởng được là nhờ phần này. Dưới nữa là phần
thành cứng hay còn gọi là phần thành thục của sợi nấm. Thành tế bào ở phần này
ngoài các sợi ngang còn được tăng cường bởi các sợi dọc. Bắt đầu từ phần này trở
xuống là chấm dứt sự tăng trưởng của sợi nấm. Giữa hai phần nói trên là một miền
yếu và dễ gãy. Ở phần tăng trưởng của sợi nấm chứa đầy các chất nguyên sinh với
nhiều nhân, nhiều cơ quan tử, nhiều enzim, nhiều axit nucleic. Đây là phần quyết
định sự tăng trưởng và sự phân nhánh của sợi nấm.
Ở các loại nấm khuẩn ti không có vách ngăn đương nhiên là bên trong khuẩn
ti có nhiều nhân. Người ta gọi đó là các tế bào đa nhân. Ở các loài nấm có vách
ngăn di chuyển của nhân mà từng tế bào có thể chứa 1 nhân , 2 nhân, nhiều nhân
hoặc chẳng có nhân nào [2].
của các bọng này phình to ra thành bọng hình cầu. Bọng này tiết ra một chất dính
trên khắp bề mặt. Khi một con mồi chạm vào chất dính này sẽ bị giữ chặt lại và mọc
ra một nhánh đâm xuyên qua vỏ ngoài của con vật. Các nhánh còn lại phồng lên
thành một bọng nhỏ bên trong cơ thể con vật và tiếp tục phân nhánh thành sợi hút.
Vòng nấm có dạng các sợi thòng lọng có khuyên tròn dọc sợi nấm. Mỗi khuyên cấu
tạo bởi 3 tế bào xếp nối với nhau và nối với sợi nấm chính bằng một đoạn ngắn. khi
mặt trong của 3 tế bào này tiếp xúc với con mồi thì lập tức các không bào sẽ phồng
to ra và căng mạnh về phía trong , thắt chặt con mồi lại. Sâu đó lại mọc ra các
nhánh xuyên sâu vào cơ thể con mồi và tiếp tục phát sinh ra các sợi hút. Mạng nấm
hay còn gọi là lưới dính làm một mạng sợi dính với nhau như tấm lưới nhỏ. Các con
côn trùng chạm vào sẽ bị giữ chặt. Sau đó một tế bào của mạng nấm sẽ phát triển
thành một bọng nhỏ và các sợi hút để tiêu hóa dần có thể con mồi.
- Đầu bào tử trần ( conidial head): Các cơ quan sinh sản vô tính có thể có cấu
tạo chứa các bào tử vô tính. Ở nấm thuộc các chi Penicillium và Aspergillus có các
đầu bào tử trần với nhiều sợi nấm phân hóa khác nhau. Chẳng hạn ở chi Penicillium
bắt đầu từ đoạn sợi chưa phân nhánh gọi là cuống nấm rồi các các sợi phân nhánh
bậc một gọi là cành tiếp đó là sợi phân nhánh bậc hai gọi là cành nhánh. Phần sinh
ra các bào tử trần gọi là thể bình. Thể bình có thể có một lớp hoặc hai lớp.
- Nang bào tử kín (sporangia) : Là dạng biến đổi ở bộ Mucorales, mọc lên từ
cuống nang. Mỗi nang bào tử kín có một nang trụ nối tiếp với cuống nang và nằm
bên trong của nang bào tử kín. Các bào tử kín được sinh ra bên trong các nang này.
- Đảm (basidia) : Là cơ quan sinh sản hữu tính do tế bào song nhân ở đỉnh
sợi phình to ra mà tạo thành. Trong đảm hai nhân sẽ phối hợp với nhân để hình
thành một nhân lưỡng bội. Sau đó do phân cắt giảm nhiễm mà sinh ra 4 nhân đơn
bội.Khi đó trên đảm sẽ mọc ra 4 cuống nhỏ đầu phình to ra. Các nhân đơn bội sẽ đi
vào 4 cuống nhỏ này và về sau phát triền thành 4 bào tử đảm.
- Túi giá (picmidium): Là dạng hình thái có hình cầu hay hình chai mà vỏ
cấu tạo bởi các lớp sợi nấm quấn chặt lại với nhau. Thành trong của vỏ mang các
hình trong dính chặt với nhau, không tách rời được thành từng sợi.
- Quả túi (fruit – bodes) : Là loại thể đệm gặp nhiều ở Nấm túi. Có dạng quả
túi hình cầu (cleistothecium) có loại quả túi hình chai (perithecium) , có loại quả túi
hình đĩa (apothecium), loại túi hình cầu gặp ở lớp Plectomyces, loại túi hình chai
gặp ở lớp Pyrenomycetes, loại quả túi hình đĩa gặp ở lớp Discomycetes.
Hình 2.2: Rễ giả ở
nấm Rhizopus
Hình 2.4: Hạch nấm
(sclepotium)
Hình 2.3: Thể đệm
(stroma)
Hình 2.5: Các kiểu bào tử đảm
2.3. Giới thiệu sơ lược về nấm biển
2.3.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu nấm biển
Các loại nấm biển tuỳ ý đầu tiên, Phaeosphaeria Typha rum, được mô tả bởi
Desmazières (1849) như Sphaeria scirpus var.typha rum từ Typha trong nước ngọt.
Durieu và Montagne (1869) đã phát hiện nấm biển bắt buộc đầu tiên trên thân rễ
của cỏ biển, Posidonia oceanica, và ngạc nhiên đáng chú ý nhất là chúng sống
theo phong cách của Sphaeria Posidonia (=Haworthia Posidonia),
dành tất cả
các phần của chu kỳ ở dưới đáy biển. Mô tả về các loài sinh vật biển trong suốt
những thế kỷ đầu được cung cấp chủ yếu từ các tác giả làm việc trên loạt các loại
hiện. Môi trường biển với các đặc tính khác nhau cung cấp các cộng đồng nấm rất
khác nhau. Nấm có thể được tìm thấy trong các hốc từ đáy đại dương tới các vùng
nước ven biển nước ngọt , nước lợ hay vùng ngập mặn,vùng đầm lầy và cửa sông
có độ mặn thấp hoặc những vùng có độ mặn cao, điều kiện sống khắc nghiệt. Nấm
biển có thể hoại sinh hoặc ký sinh trên động vật, hoại sinh hoặc ký sinh trên các loài
tảo, hoại sinh trên cây hoặc hoại sinh trên cây gỗ chết [7].
2.3.3. Kích thước của nấm biển
Hầu hết các loài nấm tìm thấy ở môi trường biển là vi nấm. Loài có quả túi
lớn nhất hiện nay thuộc Amylocarpus encephaloides không vượt quá 3mm và
Basidiomycetes Ditatispora marina và Nia vibrissa với thể quả có độ dài 4mm và
đường kính 3mm. Rõ ràng môi trường biển không cho phép sự phát triển của các
thể quả lớn và nhiều thịt bởi sự bào mòn của sóng biển và các hạt cát làm cản trở
việc hình thành các cấu trúc. Macromycetes phát triển ở lớp lá rụng tại các khu rừng
vì nó cần nguồn cung cấp lớn nguồn dinh dưỡng cho hệ sợi nấm và môi trường sống
không bị xáo trộn. Tương tự như thế , các thể quả ngắn của phần lớn các loài nấm
biển (A. encephaloides, Eiona tunicata, D. marina, N. vibrissa và Halocyphina
villosa) phát triển phần lớn cở môi trường sống có mái tre bảo vệ, cụ thể là, đoạn gỗ
neo vững chắc, trong dòng thủy triều ẩn, trong các vết nứt và dưới vở cây. Vùng
biển sâu xuất hiện là một môi trường khác nơi mà phần lớn các thể quả có thể phát
triển được vì nước có dòng chảy yếu ớt. Thật vậy, Ascomycete Oceanitis scuticella
hiện đang phát triển ở độ sâu 4000m và có thịt thể quả dày tời 2mm [3].
2.3.4. Các đặc tính độc đáo của môi trường biển và lợi ích, tiềm năng của nấm
biển
2.3.4.1. Các đặc tính độc đáo của môi trường biển
Các tính chất độc đáo của môi trường biển được coi là quan trọng với ngành
hải dương học bởi nhiều lí do:
+ Sự thích ứng tốt của hệ sinh thái ở môi trường biển sẽ giúp đỡ trong việc
phát triển các hệ gen mới.
chống khối u, kháng khuẩn, kháng vius, kháng nấm, kháng viêm, hoạt động chống
ung thư, và các hợp chất ức chế enzyme. Clodepsipeptide được phân lập từ nấm
biển, Clonostachys sp có khả năng chống lại hoạt động ung thư (Samuel et al.,
2011).
Giữa năm 2000 và năm 2005 có khoảng 100 chất chuyển hóa từ nấm biển đã
được mô tả và từ năm 2006 đến năm 2010 đã có 690 sản phẩm tự nhiên đã được
phân lập từ nấm trong môi trường biển (Katia et al., 2012). Nấm biển đã thu hút
được sự chú ý đáng kể như là nguồn tài nguyên lớn chỉ từ vài thập kỷ nay. Điều tra
gần đây trên nấm sợi biển nhằm tìm kiếm các hoạt tính sinh học của các chất
chuyển hóa thứ cập cho thấy tiềm năng của chúng như một nguồn thuốc mới thậm
chí chất chuyển hóa chỉ ở nồng độ thấp (Swathi et al., 2013). Điều tra liên tục chứng
minh rằng vi sinh vật biển là một nguồn cung cấp không giới hạn các chất chuyển
hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học mới . Nấm có nguồn gốc từ biển, đặc biệt, đã
mang lại một số lượng ngày càng tăng các sản phẩm tự nhiên có hoạt tính sinh học
[8][4][17][10][19].
2.4. Các hợp chất có hoạt tính sinh học có nguồn gốc từ nấm biển
Bảng 2.3: Các hợp chất có hoạt tính sinh học có nguồn gốc từ biển [12].
Nấm
Hoạt tính sinh học
Ascomycetous
Hoạt tính kháng virut
Fusarium sp.
Gây độc cho hoạt động thần kinh
Phoma sp.
Gây độc cho hoạt động thần kinh