ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ LUYỆN
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ
TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
VŨ THỊ LUYỆN
cảnh HIV/AIDS và các quyền con ngƣời của phụ nữ có HIV/AIDS ..........27
1.2.1
Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS............................................................................................27 Các
1.2.2
quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS .........................................37
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS Ở VIỆT NAM .... 49
2.1
Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền con ngƣời của
phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS ............................................................49
2.1.1
Thành tựu của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của phụ nữ trong
bối cảnh HIV/AIDS......................................................................................50
2.1.2
Hạn chế của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của phụ nữ trong
bối cảnh HIV/AIDS......................................................................................60
2.2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO...............................................................80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS:
Aquired ImmunoDeficiency Syndrome
CEDAW:
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
HIV:
Human Immunodeficiency Virus
ICCPR:
Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị
ICESCR:
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
ILO:
Tổ chức lao động quốc tế
PLTMC:
ở những người sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình và mới có khoảng
gần một nửa những người sống với HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của bản thân
[57]. Trong số 33,4 triệu người đang sống chung với HIV trên toàn thế giới có 17,5 triệu là
phụ nữ [44,6].
Trong suốt những năm đầu thập kỷ 1980 sự kỳ thị, phân biệt đối xử với những
người có HIV/AIDS và người thân của họ diễn ra khá phổ biến trên thế giới. Các biện
pháp như giam giữ, cách ly người nhiễm HIV/AIDS khỏi cộng đồng với mục đích ngăn
ngừa sự lây lan của đại dịch đã tỏ ra không hiệu quả, bởi số lượng người nhiễm HIV
ngày càng tăng trên thế giới, mặt khác làm tăng sự kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội
đối với người nhiễm HIV/AIDS và như vậy là vi phạm nghiêm trọng các quyền con
người của những người nhiễm HIV/AIDS.
Cũng giống như những căn bệnh khác, người nhiễm HIV có nhu cầu thiết yếu
về ăn, mặc, ở, đi lại, được chăm sóc y tế, được đảm bảo an ninh cá nhân, giáo dục, lao
động …để sống một cuộc sống có nhân phẩm, nhưng những nhu cầu thiết yếu này luôn bị vi
phạm bởi các chủ thể khác trong xã hội.
1
Cùng với sự phát triển của y học thì con người nhận thức rõ hơn về cơ chế
lây truyền HIV/AIDS và sự đấu tranh bền bỉ của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực quyền con người đã tạo sự chuyển biến lớn trong cách đối xử với những người
có HIV/AIDS. Dần dần, quan điểm cho rằng việc chống kỳ thị, phân biệt đối xử, thừa
nhận và bảo đảm các quyền, tự do cơ bản của người có HIV/AIDS là một yếu tố cốt yếu
để phòng ngừa sự lây lan của đại dịch mặt khác, góp phần bảo đảm quyền con người của
những người nhiễm HIV/AIDS. Thực tế cho thấy sự kỳ thị, phân biệt đối xử đã đẩy
những người có HIV/AIDS vào "bóng tối" từ đó làm tăng nguy cơ với cộng đồng do họ
tìm cách che dấu tình trạng của bản thân, thậm trí có người còn tìm cách trả thù cộng đồng.
Trong bối cảnh HIV/AIDS, phụ nữ là đối tượng phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất,
do phụ nữ là đối tượng dễ bị lây nhiễm HIV và phải chịu những hậu quả nghiêm trọng
quyền của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS.
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về quyền của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS dưới
góc độ quyền con người còn chưa phổ biến. Do vậy tác giả đã chọn đề tài "Bảo đảm
quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS ở Việt Nam" là đề tài luận văn
thạc sỹ của mình, với mục đích trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc
tế và pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS, tìm hiểu thực trạng ở Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người
của phụ nữ và qua đó đề xuất các biện pháp về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tiễn
nhằm bảo đảm tốt hơn nữa các quyền con người của phụ nữ để hạn chế nguy cơ lây
nhiễm HIV và giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS đến đời sống của phụ nữ nhiễm
HIV/AIDS.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng HIV/AIDS thường được tiếp
cận dưới góc độ là một vấn đề y học, vấn đề xã hội nhằm các mục tiêu y tế công.
Một cách tiếp cận mới là phòng chống HIV/AIDS dựa trên quyền con người, theo
đó Chương trình hỗn hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS và Văn phòng cao ủy Liên
hợp quốc về quyền con người đã thông qua "Hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và
quyền con người" năm 2001 nhằm hỗ trợ các quốc gia xác lập một cách ứng xử với
HIV/AIDS mang tính tích cực và dựa trên quyền, điều mà sẽ tạo hiệu quả trong việc
giảm thiểu sự lây truyền và ảnh hưởng của đại dịch trong khi vẫn đảm bảo được sự tôn
trọng các quyền và tự do cơ bản của con người.
3
Có thể nói ở Việt Nam hiện nay, các tài liệu nghiên cứu về quyền con người
của người nhiễm HIV/AIDS còn chưa phổ biến, đặc biệt là quyền của phụ nữ. Các bài
nghiên cứu chủ yếu mới dừng lại ở việc đưa ra thực trạng cũng như những khó khăn mà
phụ nữ gặp phải trước đại dịch HIV/AIDS như bài "Phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam trước
đại dịch HIV/AIDS" hay bài "Phụ nữ và HIV/AIDS - đương đầu với khủng hoảng" của tác
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Nghiên cứu một cách tổng quát các quyền con
người của phụ nữ có HIV/AIDS được ghi nhận trong các công ước quốc tế về quyền
con người và trong các quy định của pháp luật Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp
mang tính pháp lý để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Việt Nam với các quy định
của pháp luật quốc tế về quyền con người của phụ nữ và đưa ra các giải pháp thực tiễn
để thực thi có hiệu quả hơn nữa các quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh
HIV/AIDS.
Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện mục đích trên của luận văn, tác giả
đưa ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu khái quát về HIV/AIDS và các tác động xã hội của HIV/AIDS.
Phân tích các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS
Phân tích các bảo đảm về chính trị, về kinh tế và bảo đảm bằng pháp luật đối
với phụ nữ có HIV/AIDS.
Phân tích rõ cơ sở pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về bảo đảm quyền
con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS.s
Đánh giá thực trạng của việc bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh
HIV/AIDS, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp pháp luật và biện pháp thực tiễn về bảo
đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quan điểm, chính sách của Đảng, pháp
luật của nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người của phụ nữ.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh,
nhận xét, đánh giá để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu.
5
5. Những nét mới của luận văn
Phân tích các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS, phân tích những
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết
cấu gồm 02 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của
phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS: Chương này tác giả trình bày khái quát về
HIV/AIDS. Nội dung của sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, phân tích các
quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS theo quy định của pháp luật quốc tế và đưa ra
những bảo đảm đối với phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS đó là những bảo đảm về chính
trị, bảo đảm bằng pháp luật và bảo đảm về kinh tế.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong
bối cảnh HIV/AIDS. Chương này tác giả đánh giá thực trạng của pháp luật Việt Nam và
thực trạng bảo đảm thực tế các quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS và
đưa ra các giải pháp pháp lý và giải pháp thực tiễn nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con
người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS
1.1 Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền con ngƣời của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS
1.1.1 Khái quát về HIV/AIDS
HIV (viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Human Immunodeficiency
Virus) là tên gọi tắt của một loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.
Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu, dẫn đến hệ miễn dịch của cơ
thể bị suy giảm dần, cuối cùng là bị "vô hiệu hóa" và điều đó có nghĩa là cơ thể con người không
còn được bảo vệ nữa. Lúc đó, mọi mầm bệnh khác như vi trùng, siêu vi trùng nhân cơ hội gây
nên nhiều bệnh nguy hiểm cho người có HIV... và dẫn đến tử vong.
AIDS (viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Aquired
thường phải truyền máu vì bị giảm sút hồng cầu hay do những bất trắc trong sinh nở làm
tăng khả năng nhiễm HIV cao hơn nhiều so với nam giới.
Về k i n h t ế : P h ụ nữ t hư ờ n g ph ụ th u ộ c v à o na m g i ớ i v ề mặ t ki n h tế . H ơ n 2/3
phụ nữ trên thế giới mù chữ và 70% sống trong đói nghèo [29,41], vì vậy họ khó có cơ
hội thực hiện quyền tự chủ, dẫn đến họ khó có thể chủ động về địa đ i ể m c ũ n g n h ư c á c
h th ứ c q u a n h ệ t ìn h d ụ c a n t o à n . D o đ ó n g u y c ơ p h ơ i n h i ễ m H I V l à k h ó tr á n h k h ỏ i .
Về xã hội: Nam giới thường có nhiều quyền lực hơn nữ giới trong gia đình và
ngoài xã hội. Phụ nữ thường không có nhiều quyền quyết định đến những việc có liên
quan đến cơ thể của họ như đàn ông. Thông thường, đàn ông cảm thấy mình có quyền
lực đối với phụ nữ, đặc biệt là với vợ và bạn tình của mình. Vì vậy, một người phụ nữ
khi có quan hệ tình cảm với một người đàn ông thì người đàn ông có thể kiểm soát việc
khi nào họ quan hệ tình dục và có sử dụng biện pháp bảo vệ hay không. Người phụ nữ
thường cảm thấy mình không có quyền để nói "không" với quan hệ tình dục hoặc yêu
cầu bạn tình của mình sử dụng biện pháp bảo vệ. Mặt khác, đàn ông thường có nhiều
bạn tình hoặc có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Đây là yếu tố làm tăng nguy cơ lây
nhiễm HIV từ chồng hoặc bạn tình đối với phụ nữ. Hơn nữa, ở Việt Nam, những chuẩn
mực xã hội lâu đời không
9
khuyến khích thảo luận cởi mở về tình dục, điều này hạn chế cơ hội của phụ nữ để
có được tình dục an toàn.
HIV không lây qua tiếp xúc thông thường. Như vậy, chúng ta có thể sống, làm
việc, học tập... chung với người nhiễm HIV.
Ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào năm 1980 tại Mỹ, sau đó
đã lây lan nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Theo thống kê của UNAIDS cho đến gần
đây trên thế giới có hơn 33,4 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS và hơn 30
triệu người chết vì HIV/AIDS, ước tính khoảng 16 triệu trẻ em bị mồ côi vì AIDS và
hơn 7.000 ca nhiễm HIV mới mỗi ngày chủ yếu xảy ra ở những người sống tại các quốc
Thế hệ thứ hai: Là những người bị lây nhiễm từ người thân của thế hệ thứ nhất
(vợ, chồng).
Thế hệ thứ ba: Bao gồm con cái của những người có HIV/AIDS và những
người bị lây nhiễm bởi nhiều lý do khác như rủi ro nghề nghiệp hoặc phơi nhiễm.
Thế hệ thứ hai và thứ ba đang có xu hướng mở rộng. Hai thế hệ này hoàn toàn
không liên quan đến ma túy, mại dâm, không vi phạm pháp luật xong họ vẫn bị kỳ thị,
phân biệt đối xử.
Nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn những người có HIV/AIDS thuộc tầng lớp
nghèo, thiếu hiểu biết, thiếu điều kiện tự bảo vệ mình dẫn đến họ phải chịu ảnh hưởng
nghiêm trọng hơn như không có điều kiện để được chăm sóc sức khỏe, thất
nghiệp, đói nghèo…
Thế hệ thứ hai bị nhiễm HIV/AIDS trong hoàn cảnh sinh hoạt gia đình bình
thường, hoàn toàn lành mạnh. Do thời gian ủ bệnh kéo dài, do không có điều kiện xét
nghiệm, do bất bình đẳng về giới đã vô tình nhiễm HIV từ người thân của mình. Nhóm thế
hệ lây nhiễm này đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt là đối với phụ nữ.
Như vậy, những người có HIV/AIDS rất đa dạng về nhóm xã hội, điều kiện
kinh tế và hoàn cảnh lây nhiễm. Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu bao trùm dẫn đến sự lây
nhiễm là do trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và nhận thức chung của xã hội còn thấp.
Những quan niệm về HIV/AIDS gắn liền với tệ nạn xã hội, những người có
HIV/AIDS là những người thoái hóa về đạo đức, lối sống đã không còn phù hợp.
Khi dịch HIV mới xuất hiện trên thế giới, do sự hiểu biết hạn chế về
HIV/AIDS nên biện pháp cô lập, tách biệt người có HIV/AIDS với cộng đồng đã được
áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học và nhận thức của con
người về HIV/AIDS thì biện pháp cô lập người có HIV/AIDS trở nên bất cập trước diễn
biến của đại dịch. Bởi số lượng người nhiễm HIV/AIDS vẫn tăng lên mặt khác làm tăng
gánh nặng cho nhà nước và vi phạm nghiêm trọng các quyền con người của người có
HIV/AIDS.
13
tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc
dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác.
Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 qui định: "Mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật".
Điều 63 Hiến pháp qui định: "công dân nữ và nam có quyền ngang
nhau về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình."
Thứ hai, bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người. Dưới
góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật là một quan
hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quyền
bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật.
Điều 6 UDHR quy định, mọi người đều có quyền được công nhận tư cách
là con người trước pháp luật ở mọi nơi. Quy định này được tái khẳng định
nguyên văn trong Điều 16 ICCPR.
Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật có nội dung là quyền không bị
pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Như
trên đã nói, con người sinh ra có sự khác nhau về chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn
giáo và địa vị xã hội. Tuy nhiên, đó không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong
việc hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý. Ngược lại, pháp luật luôn đặt giá trị
bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình đẳng đó bằng
việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Quyền bình đẳng trước pháp
luật, không bị pháp luật phân biệt đối xử còn có khía cạnh khác đó là quyền được hưởng
tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh.
Thứ tư, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng: Quyền con người luôn
đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ nhiều phía. Đó có thể là các cá nhân, tổ chức khác trong
xã hội cũng có thể từ phía công quyền. Khi những quyền đó bị xâm hại, dưới góc độ bình
đẳng trước pháp luật, con người đều có quyền được pháp luật bảo vệ như nhau với các
quyền pháp lý nhất định. Bảo vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ
việc ghi nhận và thực thi các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS tránh bị vi
phạm bởi các chủ thể khác trong xã hội và tạo điều kiện cho nhóm đối
16
tượng dễ bị tổn thương này có điều kiện để thực hiện các quyền của mình. Theo đó
các đảm bảo quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS được bảo đảm về chính trị, bảo
đảm về kinh tế và bảo đảm bằng pháp luật.
1.1.3.1 Bảo đảm về chính trị
Bảo đảm quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS về mặt chính trị bao
gồm những cam kết của nhà nước ở cấp độ quốc tế và cấp độ quốc gia. Ở cấp độ quốc
tế là những cam kết của nhà nước với cộng đồng quốc tế và cấp độ quốc gia là những cam
kết của nhà nước với nhân dân.
Ở cấp độ quốc tế, tiêu biểu là cam kết của các quốc gia nỗ lực trong việc thực
hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Bao gồm 8 mục tiêu của
Liên hợp quốc được 189 quốc gia thành viên cam kết đạt được vào năm 2015. Những
mục tiêu này được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại
Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng 9
năm 2000 tại trụ sở của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Liên quan đến việc bảo đảm
quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS: mục tiêu thứ ba về nâng cao bình đẳng giới
và vị thế, năng lực của phụ nữ: Xóa bỏ tình trạng chênh lệch về giới tính ở giáo dục tiểu
học và trung học cơ sở tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp không chậm hơn năm
2015; mục tiêu thứ năm là cải thiện sức khỏe bà mẹ: Giảm ba phần tư tỷ lệ tử vong ở bà
mẹ trong giai đoạn 1990 - 2015 và đến năm 2015, phổ cập chăm sóc sức khỏe sinh sản;
trong đó mục tiêu trực tiếp nhất trong việc bảo đảm quyền con người của phụ nữ có
HIV/AIDS đó là mục tiêu sáu: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác,
theo đó các quốc gia sẽ chặn đứng và bắt đầu thu hẹp sự lây lan của HIV/AIDS vào năm
2015, đến năm 2010, mọi đối tượng có nhu cầu đều được điều trị HIV/AIDS.
Các mục tiêu Thiên niên kỷ là cơ sở quan trọng cho việc các quyền con người
90% và đến năm 2010 ít nhất 95% nam, nữ thanh niên từ 14-24 tuổi được tiếp cận giáo
dục về HIV/AIDS, mục tiêu đến năm 2010 bảo đảm 80% phụ nữ mang thai được tiếp
cận với dịch vụ chăm sóc tiền sản, được cung cấp dịch vụ tư vấn và phòng chống HIV.
Tuyên bố thừa nhận hiện thực hóa các quyền con người là cần thiết để làm giảm
nguy cơ trước HIV/AIDS. Các quốc gia cam kết, đến năm 2003, ban hành,
18
tăng cường hoặc thực hiện pháp luật, các quy định và những biện pháp khác để xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử và đảm bảo sự thụ hưởng đầy đủ các quyền con người
và tự do căn bản của người sống chung với HIV/AIDS, đặc biệt bảo đảm cho họ tiếp cận
các dịch vụ giáo dục phục hồi, lao động, y tế, xã hội và sức khỏe, phòng chống, hỗ trợ và
điều trị, thông tin và bảo vệ pháp luật, đồng thời tôn trọng cuộc sống riêng tư của họ và
đảm bảo bí mật. Đặc biệt, Tuyên bố nhấn mạnh đến việc thực hiện các chiến lược quốc
gia nhằm mục tiêu đến năm 2005, thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ và sự thụ hưởng đầy đủ
tất cả các quyền con người của phụ nữ bằng cách nâng cao quyền năng cho phụ nữ để
kiểm soát và quyết định tự do và có trách nhiệm về những vấn đề liên quan đến tình dục
của họ để nâng cao khả năng tự bảo vệ trước sự lây nhiễm HIV, bằng việc thông qua các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe và y tế kể cả sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản, thông
qua giáo dục nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và bằng cách xóa bỏ tất cả các hình thức
phân biệt đối xử cũng như mọi hình thức bạo lực chống lại phụ nữ và trẻ em gái.
Trên phương diện nghiên cứu và phát triển ứng dụng, Tuyên bố này khuyến
khích các quốc gia tăng cường nghiên cứu các loại thuốc vắc-xin về HIV, thuốc về phòng
chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con đảm bảo người dân đặc biệt là phụ nữ có thể tiếp
cận an toàn, đáp ứng được về mặt chi phí đối với các thuốc này.
Tuyên bố cũng nhấn mạnh đến việc các quốc gia cam kết sẽ bảo đảm các nguồn
lực dành cho hành động toàn cầu nhằm giải quyết HIV/AIDS là thỏa đáng, bền vững và
tập trung hướng tới đạt kết quả.
Như vậy, Tuyên bố cam kết này, có vai trò quan trọng đối với hoạt động phòng
Vào tháng 6 năm 2011, Liên Hợp quốc đã thông qua Tuyên bố chính trị về phòng,
chống HIV và AID với mục tiêu tăng cường mạnh mẽ nỗ lực của cộng đồng quốc tế để xóa
bỏ HIV và AIDS bằng cách thúc đẩy việc tiếp tục các cam kết chính trị và sự tham gia
của các nhà lãnh đạo vào một ứng phó toàn diện tại cấp độ cộng đồng, địa phương, quốc
gia, khu vực và quốc tế nhằm ngăn chặn và đẩy lùi dịch HIV và giảm thiểu tác động của
dịch. Yêu cầu các quốc gia xây dựng và triển khai các kế hoạch tài chính và chiến lược
quốc gia đa ngành để chống HIV/AIDS, chú trọng vào những vấn đề trọng tâm như:
xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử và cách ly xã hội, lôi kéo sự tham gia của các nhóm
có nguy cơ cao, đặc biệt là phụ nữ, lồng
ghép quan điểm về giới …
20