Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV, AIDS ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ LUYỆN

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ
TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cn b hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái

HÀ NỘI - 2014




 








MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS 8
1.1 Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền con ngƣời của phụ nữ trong bối cảnh
HIV/AIDS 8
1.1.1 Khái quát về HIV/AIDS 8
1.1.2 Sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật 14
1.1.3 Các bảo đảm quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS 16
1.2 Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con ngƣời của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS và các quyền con ngƣời của phụ nữ có HIV/AIDS 27
1.2.1 Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS 27
1.2.2 Các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS 37

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƢỜI CỦA PHỤ NỮ TRONG BỐI CẢNH HIV/AIDS Ở VIỆT NAM 49
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền con ngƣời của
phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS 49

ILO: Tổ chức lao động quốc tế
PLTMC: Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
UDHR: Tuyên ngôn nhân quyền
UNAIDS: Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS
WHO: Tổ chức y tế thế giới
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
HIV là một loại vi rút gây suy giảm hệ thống miễn dịch cơ thể người, làm
cho cơ thể không có khả năng chống chọi với các bệnh tật khác, giai đoạn cuối cùng
của HIV là AIDS và dẫn đến tử vong. Khác với các bệnh dịch khác, HIV có khả
năng lây nhiễm và hiện tại chưa có vắc xin phòng bệnh và chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu, mặt khác nguồn gốc lây nhiễm HIV là do tiêm chích ma túy, do quan hệ
tình dục và do mẹ truyền sang con khi mang thai. Chính vì những lý do dịch tễ học
nêu trên mà dẫn đến tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV.
Ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện tại Mỹ vào năm 1980,
sau đó lây lan nhanh chóng và được coi là một đại dịch mang tính toàn cầu. Theo
thống kê của UNAIDS và WHO cho đến gần đây trên thế giới có hơn 33,4 triệu
người đang sống chung với HIV/AIDS và hơn 30 triệu người chết vì HIV/AIDS,
ước tính khoảng 16 triệu trẻ em bị mồ côi vì AIDS và hơn 7.000 ca nhiễm HIV mới
mỗi ngày chủ yếu xảy ra ở những người sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và
trung bình và mới có khoảng gần một nửa những người sống với HIV biết được tình
trạng nhiễm HIV của bản thân [57]. Trong số 33,4 triệu người đang sống chung với

được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người
như: Tuyên ngôn nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966)…
Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền đã khẳng định: “Mc
t ng v n”, Điều 2 tiếp tục ghi nhận: “Mi
ng tt c  
t k s i x  chng t,
 hon gc hoi,
n xua v ”.
Vì vậy, phụ nữ nhiễm HIV được hưởng đầy đủ các quyền con người đã được
cộng đồng quốc tế ghi nhận và trách nhiệm của nhà nước, của các cá nhân, tổ chức
trong xã hội phải tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền đó, được ghi nhận trong
pháp luật quốc gia và bảo đảm thực thi trên thực tế.
Kinh nghiệm quốc tế trong quá trình phòng, chống lây nhiễm HIV đã chỉ ra 3
rằng, việc bảo đảm các quyền con người của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS góp phần
quan trọng vào việc ngăn chặn sự lây lan của đại dịch.
Mặc dù vậy, trên thực tế quyền con người của những phụ nữ nhiễm
HIV/AIDS vẫn bị vi phạm nghiêm trọng bởi nhiều chủ thể trong xã hội. Đòi hỏi các
quốc gia phải có những biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm hơn nữa quyền của
nhóm xã hội dễ bị tổn thương này.
Việt Nam, với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc, thành viên của các
công ước quốc tế về quyền con người, do đó hệ thống pháp luật quốc gia không
ngừng được hoàn thiện để ghi nhận và thực thi các quyền con người đã được thừa
nhận, trong đó có quyền của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS.
Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về quyền của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS
dưới góc độ quyền con người còn chưa phổ biến. Do vậy tác giả đã chọn đề tài
“Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS ở Việt Nam” là

phòng ngừa lây nhiễm HIV đối với phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam như bài
“a nhim HIV  ph n   gii”của tác giả Nguyễn
Trần Hiển trên tạp chí Lao động xã hội số 271 năm 2005, bài “V  nhim
” của tác giả Khuất Thu Hồng đăng trên tạp chí Lao
động xã hội số 289 năm 2006. Đặc biệt bài viết “Quyi ca ph n trong
bi cnh HIV/AID của tác giả Hoàng Mai Hương và Chu Thị Thúy Hằng đăng
trên tạp chí Khoa học về phụ nữ số 3 năm 2006 đã đề cập đến quyền của phụ nữ
trong bối cảnh HIV/AIDS, tuy nhiên bài viết chưa đi sâu phân tích các quyền cụ thể
và cơ sở của việc bảo đảm các quyền này và cũng chưa đề cập đến các giải pháp
nhằm bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS.
Gần đây Viện nghiên cứu quyền con người đã phát hành ấn phẩm
“i” trong đó một phần cuốn sách đã phân tích cơ sở
pháp luật, chính trị, đạo đức của việc bảo đảm quyền con người trong bối cảnh
HIV/AIDS và đảm bảo quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương trong bối
cảnh HIV/AIDS trong đó có đối tượng là phụ nữ. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu
phân tích toàn diện các quyền của phụ nữ có HIV/AIDS trên cơ sở các quy định của
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Với mục đích trên cơ sở nghiên cứu các cam kết quốc tế, các quy định của
pháp luật quốc tế về quyền con người và quy định của pháp luật Việt Nam để thấy 5
được các quyền con người của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS được ghi nhận và
bảo đảm thực thi, vì vậy tài liệu này là một tài liệu tham khảo quan trọng giúp tác
giả hoàn thành luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Nghiên cứu một cách tổng quát các quyền con
người của phụ nữ có HIV/AIDS được ghi nhận trong các công ước quốc tế về
quyền con người và trong các quy định của pháp luật Việt Nam từ đó đề xuất các
giải pháp mang tính pháp lý để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Việt Nam với

đánh giá thực trạng của việc đảm bảo các quyền con người của phụ nữ trong bối
cảnh HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp pháp lý cũng như
những giải pháp thực tiễn để bảo đảm tốt hơn nữa các quyền con người của phụ nữ
trong bối cảnh HIV/AIDS.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức cơ bản
về cơ sở bảo đảm các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS trên các lĩnh vực
chính trị, pháp luật và kinh tế đồng thời làm rõ các quyền con người của phụ nữ có
HIV/AIDS được quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật Việt
Nam, qua đó đưa ra những điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp của pháp
luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế trong việc bảo đảm thực thi các quyền con
người của phụ nữ có HIV/AIDS. Trên cơ sở phân tích những hạn chế của pháp luật
Việt Nam, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong việc bảo đảm các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS. Trên cơ sở đánh
giá hiệu quả của các hoạt động thực tiễn, luận văn đưa ra một số giải pháp thực tiễn
nhằm thực thi tốt hơn nữa các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS.
Các kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo về luật học và phần nào có ý
nghĩa đối với cán bộ làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật về quyền con
người của phụ nữ có HIV/AIDS để tìm hiểu, vận dụng để xây dựng quy định và
thực thi các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS. 7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết
cấu gồm 02 chương:
1: Cơ sở lý luận và pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người
của phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS: Chương này tác giả trình bày khái quát về
HIV/AIDS. Nội dung của sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, phân tích

sức khỏe và không có hành vi nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV.
Nhiễm HIV không phải là thành AIDS ngay mà nó diễn ra trong một khoảng
thời gian nhất định, có thể lên đến hàng chục năm và trong khoảng thời gian này,
người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn sống, lao động và học tập bình
thường, nhưng họ có thể làm lây truyền HIV từ người này sang người khác. Quá
trình từ nhiễm HIV thành AIDS dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sức
đề kháng của người nhiễm, lối sống và sinh hoạt của họ sau khi nhiễm bệnh, sự
chăm sóc của gia đình, người thân, mức độ kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội.
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa nghiên cứu và sản xuất được vắc xin phòng
ngừa và thuốc điều trị triệt để HIV/AIDS. 9
Trên thực tế HIV chỉ có thể lây truyền qua ba con đường đó là:
- Đường máu;
- Đường tình dục
- Đường truyền từ mẹ sang con;
Phụ nữ dễ bị tổn thương với lây nhiễm HIV hơn so với nam giới, cụ thể:
Về mặt sinh học: Phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn nam giới do đặc
điểm đặc thù về sinh học. Phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV do quan hệ tình dục cao
gấp 2 đến 4 lần so với nam giới do diện tích cơ thể tiếp xúc với vi rút HIV cao
hơn nam giới.
Về y học: Khi có thai, hệ thống miễn dịch trong cơ thể phụ nữ bị giảm sút,
sức đề kháng đối với bệnh tật giảm vì vậy vi rút HIV dễ dàng xâm nhập hơn. Mặt
khác, phụ nữ thường phải truyền máu vì bị giảm sút hồng cầu hay do những bất trắc
trong sinh nở làm tăng khả năng nhiễm HIV cao hơn nhiều so với nam giới.
Về kinh tế: Phụ nữ thường phụ thuộc vào nam giới về mặt kinh tế. Hơn
2/3 phụ nữ trên thế giới mù chữ và 70% sống trong đói nghèo [29,41], vì vậy họ
khó có cơ hội thực hiện quyền tự chủ, dẫn đến họ khó có thể chủ động về địa
điểm cũng như cách thức quan hệ tình dục an toàn. Do đó nguy cơ phơi nhiễm

khách hàng của họ và nam tình dục đồng giới. Tuy nhiên dịch HIV/AIDS tại nhiều
khu vực của châu Á đang dần lan sang các nhóm có nguy cơ lây nhiễm thấp như
thông qua sự lây nhiễm HIV sang bạn tình của những người thuộc nhóm có nguy cơ
lây nhiễm cao. Năm 2008, tại Châu Á có 4,7 triệu người sống với HIV/AIDS, ước
tính khoảng 35% trong số đó là phụ nữ trong khi đó tỷ lệ phụ nữ có HIV/AIDS năm
2000 chiếm khoảng 19% [44,6]. Bằng chứng thực tiễn từ nhiều quốc gia châu Á
cũng chỉ ra rằng hầu hết số phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS không phải do hành vi tình
dục của bản thân họ mà do chồng hoặc bạn tình của họ đã tham gia vào các hành vi
không an toàn. Ước tính có đến hơn 90% số phụ nữ sống với HIV/AIDS bị lây
nhiễm từ chồng hoặc bạn tình nam của họ [44,6].
Tại Việt Nam, dịch HIV/AIDS hiện đang tập trung ở các nhóm có nguy cơ
lây nhiễm cao như người tiêm chích ma túy, phụ nữ bán dâm và nam tình dục đồng
giới. Theo thống kê, đến cuối năm 2011, cả nước có 197.335 người nhiễm HIV
đang còn sống, đã có 52.325 người chết do HIV/AIDS, dịch HIV/AIDS đã xuất 11
hiện ở 100% tỉnh, thành phố [22]. Năm 2007, số nam giới trong độ tuổi trưởng
thành (từ 15 tuổi trở lên) nhiễm HIV/AIDS cao gấp 3 lần so với phụ nữ và nam giới
vẫn chiếm đa số các ca nhiễm mới [44]. Nhưng theo ước tính của Bộ Y tế, khoảng
cách này giảm xuống còn 2,6% vào năm 2012 [44].
Như vậy, HIV/AIDS đang là hiểm họa hàng đầu về việc gây ra chết chóc, đói
nghèo, lạc hậu ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều thế hệ ở nhiều quốc gia, dân tộc.
Ở Việt Nam, Chị thỉ 54 ngày 30/11/2005, của Ban Bí thư đã nhận định “Cho



Chiến lược quốc gia về phòng,
chống HIV/AIDS phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài.
Khác với nhiều căn bệnh khác HIV/AIDS là một vấn đề y học – xã hội.

người có HIV kinh tế gia đình giảm sút do thu nhập của những thành viên có HIV
bị mất hoặc giảm đi mặt khác phải tăng thêm chi phí cho việc chăm sóc, thuốc điều
trị cho người có HIV. Đồng thời họ cũng phải gánh chịu sự phân biệt, kỳ thị của
cộng đồng. Đối với xã hội, cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do năng suất lao động
xã hội giảm, những chi phí cho y tế, cho phòng ngừa, ngăn chặn HIV cũng tăng lên,
kèm theo đó là những vấn đề về đói nghèo, thất học, mồ côi …cũng là những gánh
nặng cho xã hội.
Giai đoạn ba: Người có HIV chuyển sang giai đoạn AIDS – là giai đoạn cuối
cùng của quá trình nhiễm HIV trong cơ thể. Giai đoạn này thường kéo dài từ 6
tháng đến 2 năm và kết quả là người bệnh sẽ tử vong. Giống như giai đoạn trước,
người bệnh, gia đình họ và xã hội đều bị tác động to lớn về nhiều mặt.
Giai đoạn bốn: Là những hậu quả sau cái chết của người có AIDS. Sự kỳ thị,
phân biệt đối xử với người thân của người chết vì AIDS, cũng như gây ra các vấn
đề xã hội như trẻ em mồ côi, đói nghèo, thất học, góa bụa…
Về mặt xã hi: Cho rằng HIV/AIDS là một căn bệnh do suy đồi đạo đức, lối
sống, gắn liền với các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, ngoại tình và đây cũng là
một nguyên nhân dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS.
Những người có HIV/AIDS theo một số nghiên cứu được chia làm ba thế hệ: 13
Thế hệ thứ nhất: Đó là những người bị lây nhiễm do tiêm chích ma túy và
mại dâm không an toàn.
Thế hệ thứ hai: Là những người bị lây nhiễm từ người thân của thế hệ thứ
nhất (vợ, chồng).
Thế hệ thứ ba: Bao gồm con cái của những người có HIV/AIDS và những
người bị lây nhiễm bởi nhiều lý do khác như rủi ro nghề nghiệp hoặc phơi nhiễm.
Thế hệ thứ hai và thứ ba đang có xu hướng mở rộng. Hai thế hệ này hoàn
toàn không liên quan đến ma túy, mại dâm, không vi phạm pháp luật xong họ vẫn bị
kỳ thị, phân biệt đối xử.

người di cư…
Như vậy, những người nhiễm HIV/AIDS rất đa dạng về nhóm xã hội, điều
kiện kinh tế và hoàn cảnh lây nhiễm. Nhưng xuất phát từ những đặc điểm về dịch tễ
học của căn bệnh này mà cộng đồng thậm chí người thân của người có HIV/AIDS
xa lánh, kỳ thị, phân biệt đối xử với họ dẫn đến sự vi phạm nghiêm trọng các quyền
con người của những người có HIV/AIDS và phụ nữ là đối tượng phải chịu hậu quả
nặng nề nhất.
1.1.2 Sự bình đẳng của mọi công dân trước php luật
Bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người, quyền công dân và cũng
là nguyên tắc chung của mỗi quốc gia trong quá trình lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Đó là quyền của mỗi người được xác lập tư cách công dân trước pháp luật,
không bị pháp luật phân biệt đối xử và quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật
và được pháp luật bảo vệ như nhau.
Trước hết, bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một
chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có. Trong
xã hội, sẽ không thể có tự do nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành
viên trong xã hội. Bản chất của sự bình đẳng là công nhận các giá trị như nhau
của các thành viên xã hội trong tất cả các lĩnh vực: dân sự, chính trị, kinh tế, văn
hóa và xã hội.
Điều 1 UDHR nêu rõ, mc t ng
v n
Điều 2 UDHR quy định, mng tt c 
t t k s i x  chng ti 15
 hon gc
c hon xua v .
Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 qui định: u


Về khía cạnh này, Điều 7 UDHR quy định, mc
  t bo v m  t k s
 Điều 8 UDHR cụ thể hóa một khía cạnh quy định ở Điều 7 khi nêu
rằng, mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng
các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của
họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.
Điều 26 ICCPR tái khẳng định hai quy định kể trên của UDHR, đồng thời
nêu rõ, về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm
bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân
biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính
trị hoặc quan điểm khác.
Như vậy, trách nhiệm của nhà nước trong vấn đề này là ghi nhận trong pháp
luật các quyền một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử và tạo ra cơ chế bảo vệ
quyền khi nó bị xâm phạm. Nội dung của quyền bình đẳng trong bảo vệ quyền đòi
hỏi mọi hành vi vi phạm phạm đều phải bị xử lý như nhau trước pháp luật.
Như vậy, sự bình đẳng của công dân trước pháp luật, là một quyền cơ bản
của con người và cũng là cơ sở, nguyên tắc chung của mỗi quốc gia trong việc ghi
nhận, thực thi và bảo vệ quyền của mỗi công dân quốc gia mình. Đặc biệt, trong bối
cảnh HIV/AIDS, quyền này của công dân phải được nhà nước thi hành triệt để bởi
quyền này dễ bị vi phạm nghiêm trọng nhất và trong trường hợp bị vi phạm sẽ ảnh
hưởng đến việc thực thi các quyền con người khác của người có HIV/AIDS.
1.1.3 Cc bảo đảm quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS
Mặc dù các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS là quyền tự nhiên,
vốn có nhưng các quyền đó luôn đứng trước nguy cơ bị vi phạm bởi các cơ quan
nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội, vì vậy cần có các biện pháp để bảo
đảm cho việc ghi nhận và thực thi các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS
tránh bị vi phạm bởi các chủ thể khác trong xã hội và tạo điều kiện cho nhóm đối 17


18
HIV/AIDS năm 2001- “Khủng hoảng toàn cầu – Hành động toàn cầu” được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết S-26/2 ngày 27/06/2001. Đây là
một văn kiện nổi bật, chứa đựng những nguyên tắc, tiêu chuẩn và đề ra những mục
tiêu cơ bản về bảo vệ quyền con người của những người sống chung với HIV/AIDS,
đặc biệt với đối tượng là phụ nữ và đây là cam kết khẳng định lại một lần nữa cam
kết về HIV/AIDS trong tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
Nội dung của Tuyên bố này khá toàn diện. Trước tiên, Tuyên bố nhận định
tình hình, diễn biến của đại dịch, thừa nhận sự quan ngại sâu sắc của cộng đồng
quốc tế về phạm vi, quy mô tác động và tàn phá của HIV/AIDS đối với con người
và khẳng định đây là một vấn đề toàn cầu và là một trong những khó khăn nhất đối
với cuộc sống và nhân phẩm cũng như cho việc hưởng thụ có hiệu quả các quyền
con người. Tuyên bố nhấn mạnh “phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái là những
người phải chịu rủi ro nhiều nhất”.
Tuyên bố đề ra phương hướng lãnh đạo toàn diện, ở mọi cấp độ từ cấp quốc
gia, cấp khu vực và cấp độ toàn cầu nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Tuyên bố đưa ra những mục tiêu, đòi hỏi các quốc gia cần có biện pháp thích
hợp để đạt được các mục tiêu này. Một trong những yêu cầu đặt ra là các quốc gia
cần xây dựng chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS, phát huy mọi nguồn
lực quốc gia cùng với sự hợp tác quốc tế để đạt được các mục tiêu: đến năm 2005,
giảm 25% tình trạng nhiễm HIV phổ biến trong nam và nữ thanh niên từ 14 đến 24
tuổi ở những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất và đến năm 2010 là 25% trên phạm vi
toàn cầu. Cam kết đến năm 2005 sẽ tạo được môi trường lao động nhằm trợ giúp
người lao động có HIV/AIDS. Đặc biệt, trong đó có mục tiêu về giảm bất bình đẳng
giới, đến năm 2005 đảm bảo ít nhất 90% và đến năm 2010 ít nhất 95% nam, nữ
thanh niên từ 14-24 tuổi được tiếp cận giáo dục về HIV/AIDS, mục tiêu đến năm
2010 bảo đảm 80% phụ nữ mang thai được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc tiền sản,
được cung cấp dịch vụ tư vấn và phòng chống HIV.
Tuyên bố thừa nhận hiện thực hóa các quyền con người là cần thiết để làm

quốc gia mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Có thể nói, Tuyên bố cam kết năm 2001, có vai trò quan trọng trong việc bảo
đảm các quyền con người của phụ nữ có HIV/AIDS, thể hiện ở các khía cạnh sau: 20
Các quốc gia xác định được sự tác động to lớn của HIV/AIDS đến mọi mặt
của đời sống xã hội mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế, đặc biệt thừa nhận phụ nữ và
trẻ em gái là đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất qua đó có sự quan tâm và đầu tư
mọi nguồn lực cho việc hạn chế những rủi ro do HIV/AIDS gây ra.
Tạo cơ sở cho sự hợp tác giữa các quốc gia, khu vực và quốc tế trong một
cuộc chiến toàn cầu phòng chống HIV/AIDS và bảo đảm các quyền con người của
những người có HIV/AIDS đặc biệt là việc nâng cao quyền năng cho phụ nữ.
Những mục tiêu mà Tuyên bố đề ra là đòi hỏi các quốc gia phải có chính
sách, chiến lược và áp dụng mọi biện pháp để thực hiện.
Sau 10 năm thực hiện, đến năm 2011, trong Tuyên bố chính trị về HIV và
AIDS của Liên hợp quốc đã ghi nhận, cộng đồng quốc tế đã đạt được những kết quả
quan trọng như: giảm hơn 25% tỷ lệ các ca nhiễm mới ở hơn 30 quốc gia, giảm
đáng kể lây truyền HIV từ mẹ sang con, và việc mở rộng chưa từng có khả năng
tiếp cận điều trị ARV cho hơn 6 triệu người, kết quả đưa đến là giảm hơn 20% số ca
tử vong có liên quan đến HIV. Tuyên bố này cũng ghi nhận, cam kết trên toàn thế
giới đối với dịch HIV toàn cầu là chưa từng có tiền lệ kể từ Tuyên bố cam kết năm
2001 về phòng, chống HIV, những cam kết này được thể hiện bằng việc gia tăng
nguồn kinh phí gấp 8 từ 1,8 tỷ USD năm 2001 lên 16 tỷ USD năm 2010, số lượng
tài chính lớn nhất dành cho cuộc chiến với một căn bệnh duy nhất trong lịch sử.
Vào tháng 6 năm 2011, Liên Hợp quốc đã thông qua Tuyên bố chính trị về
phòng, chống HIV và AID với mục tiêu tăng cường mạnh mẽ nỗ lực của cộng đồng
quốc tế để xóa bỏ HIV và AIDS bằng cách thúc đẩy việc tiếp tục các cam kết chính
trị và sự tham gia của các nhà lãnh đạo vào một ứng phó toàn diện tại cấp độ cộng
đồng, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm ngăn chặn và đẩy lùi dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status