Bảo đảm quyền con người của trẻ em trong lĩnh vực tư pháp hình sự - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“ Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” là hạnh phúc gia đình, là chủ
tương lai của đất nước kế thừa sự nghiệp xậy dựng bảo về đất nước.Để trẻ em
trở thành người chủ tương lai của đất nước, công dân tốt, xứng đáng là người
kế tục sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc thì đòi hỏi mỗi gia đình, nhà trường và tổ
chức xã hội phải thường xuyên chăm lo giáo dục, đồng thời có trách nhiệm
bảo vệ trẻ em.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến viêc bảo vệ quyền lợi trẻ em và
đã có nhiều cố gắng nỗ lực rất lớn trong lĩnh vực này. Một trong những biểu
hiện rõ nét nhất là nước ta sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em,
cam kết với cộng đồng quốc tế, làm tất cả những gì có thể làm tốt hơn nữa
công tác chăm sóc, giáo dục, bảo vệ các quyền trẻ em. Trong giai
đoạn hiện nay, khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nước ta trên con đường
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu dân giàu
nước mạnh xã hội văn minh thì con người đóng vai trò là nhân tố quyết định
đến mục tiêu phát triển đất nước. Cuộc sống thay đổi, đời sống con người
được nâng cao về mọi mặt. Dẫu vậy bên cạnh đó thì vẫn có nhiều vấn đề còn
tồn tại về việc liên quan đến bảo về quyền con người đặc biệt là bảo vệ quyền
trẻ em.
Trẻ em là mầm móng tương lai cho sự phát của đất nước. Tương lai của
mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc nhiều vào việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
trẻ em. Trong nhiều năm qua việc chăm sóc trẻ em được quan tâm ở những
tầm mức khác nhau và ở nhiều mặt như miễn giảm chi phí chữa bệnh, học phí
đối với con hộ nghèo, được khuyến khích đưa trẻ đến trường, phổ cập giáo
dục tiểu học… Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ vào đời
sớm thì xã hội càng mở rộng vòng tay trong điều kiện có thể như: phát triển
nâng cao các mái ấm, nhà nuôi, trường tương lai, viện mồ côi… Điều đó cho
thấy đời sống xã hội ngày càng phát triển, trẻ em cũng có điều kiện được quan
1
1

2
+) Về thời gian: nghiên cứu bộ luật hình sự 1985,1999, 1999 sửa đổi bổ
sung 2009, luật tố tụng hình sự 2003, pháp lệnh thi hành án hình sự 1993, luật
thi hành án hình sự 2010.
- Về áp dụng pháp luật hiện hành: Đề tài sẽ giới hạn phạm vi nghiên cứu
như sau:
+) Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật
trên cả nước nói chung và địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, cụ
thể là tại Tòa Án nhân dân huyện Thanh Chương
+) Thời gian nghiên cứu: số liệu 4 năm trở lại đây( giai đoạn 2010-2013)
4. Phương pháp nghiên cứu
+) Phương pháp phân tích : trong đề tài này sẽ sử dụng phương pháp
phân tích từng nội dung trong phần nội dung của đề tài.
+) Phương pháp so sánh: trên cơ sở phân tích thì so sánh để thấy được sự
thay đổi của pháp luật theo thời gian có quy định khác nhau trong việc bảo về
quyền của trẻ em.
+) Phương pháp tổng hợp thống kê: trên cơ sở các số liệu thực tiễn thu
thập được.
5.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đối với các nhà làm luật thì sẽ giúp cho các nhà làm luật có cái nhìn
mới về các quy định bảo về quyền lợi của trẻ em, từ đó có thể sửa đổi luật
thực định cho phù hợp, góp phần hoàn thiện pháp luật.
+) Giúp người nghiên cứu cũng như bạn đọc hiểu sâu hơn pháp luật về
vấn đề nghiên cứu.
+) Giải quyết được một vấn đề trong xã hội là bảo về quyền lợi của trẻ
em từ đó giúp ổn định xã hội loại bỏ tội phạm xảy ra với trẻ em.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận của đề tài thì phần nội dung gồm có
2 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo đảm quyền con người của trẻ

“ Trẻ em, bố mẹ khỏi lo
Dạy nuôi Chính phủ giúp cho đủ đầy
Thanh niên có trường học nhiều
Chính phủ trợ cấp trợ nghèo, hàn nho” [1, trang.422]
Như vậy, vấn đề trẻ em và quyền trẻ em nói chung nói trong Chương
trình Việt Minh mang dấu ấn rất đậm nét, đặc thù của Hồ Chí Minh. Thái độ
cách nhìn nhận của Người, phản ánh vị trí của vấn đề trong đường lối chung
của Cách mạng, vừa thể hiện cả tấm lòng, sự quan tâm, niềm hy vọng của
Người đối với thể hệ mần non, người chủ tương lại của đất nước,của chính
quyền [2, trang.18]. Cách mạng tháng Tám thành công giành chính quyền về
5
5
tay nhân dân lao động, tiến tới giành độc lập tại miền Nam và thống nhất đất
nước( năm 1975), cả nước bước vào thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Nhất quán với tư tưởng về con người, về trẻ em Đảng ta lại có thêm những
điều kiện mới để chăm lo, giáo dục trẻ em. Năm 1979, chính sách, đường lối
của Đảng về trẻ em được cụ thể hóa trong” Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em”. Có thể coi pháp lệnh này là một trong những nền tảng pháp lý
đầu tiên cho công tác Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em. Cho đến nửa cuối
những năm 80, Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới Nhà nước về
nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng là một trong
những bộ phận quan trong của công cuộc đổi mới này. Đường lối, chính sách
của Đảng đối với trẻ em được đổi mới về cả chiều sâu lẫn chiều rộng và được
cụ thể hóa trong pháp luật, hàng loạt các văn bản có hiệu lực pháp lý cao ra
đời nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về trẻ em vào trong
pháp luật cho phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế- xã hội cũng như chế
độ chính trị. Vì vậy chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong suốt
một thời gian dài kể từ khi đổi mới cho đến nay.
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới phê
chuẩn Công ước về quyền trẻ em vào ngày 29/02/ 1990. Từ đó đến nay, mặc

điều kiện xã hội, và sự phối hợp với các ngành luật khác đảm bảo sự thống
nhất trong pháp luật. Đặc biệt là nhu cầu tâm sinh lý, sự phát triển khả năng
nhận thức điều khiển hành vi của trẻ em mà theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 115/6/2004, có hiệu lưc
ngày 01/01/2005( thay luât bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991) quy
định: Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi, mọi trẻ em không phân biệt đều được
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, các
cơ quan nhà nước và công dân, các quyền của trẻ em phải được tôn trọng thực
hiện, mọi hành vi xâm hại trẻ em đều bị nghiêm trị.
Theo đó, quyền trẻ em có thể được khái quát như sau: quyền trẻ em là
tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và
an toàn. Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không còn là tiếp nhận thụ
7
7
động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia
tích cực vào quá trình phát triển của xã hội.
Theo đó quyền trẻ em bao gồm:
Quyền được sống còn: bao gồm quyền của trẻ em được sống cuộc sống
bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát
triển thể chất. Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc
sức khoẻ. Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời.
+ Quyền được phát triển: gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát
triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi,
tham gia các hoạt động văn hoá, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín
ngưỡng và tôn giáo. Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ
để có thể phát triển hài hoà.
+ Quyền được bảo vệ: bao gồm những quy định như trẻ em phải được
bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình
dục, lạm dụng matuý, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán. Trẻ em
còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư. Quyền

bảo vệ các cá nhân và các nhóm người trước những hành động hoặc sự mặc
làm tổn hại đến nhân phẩm, quyền lợi và tự do cơ bản” của con người.
Còn một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo
học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản không thể
tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người.
Ở Việt Nam đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người.
Trong tác phẩm giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác
giả định nghĩa quyền con người là “ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa
thuận pháp luật quốc tế”.
Tuy nhiên có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan điểm
chung của cộng đồng quốc tế quyền con người được xác định dựa trên hai bình
diện đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức quyền con người là
giá trị xã hội cơ bản, vốn có( những đặc quyền) của con người như nhân phẩm,
bình đẳng xã hội, tự do…dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền con người
9
9
những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con
người cũng được xác định như là một chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị
nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người.
Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người
bằng pháp luật trong tư pháp hình sự với các luận cứ khoa học thì đã từ lâu
các chính trị gia và các luật gia chân chính, cũng như các chiến sĩ bảo vệ nhân
quyền trên thế giới luôn coi các quyền tự nhiên của con người là những giá trị
cao quý nhất của nên văn minh nhân loại, đồng thời là đối tượng nghiên cứu
quan trọng của nhiều nghành khoa học, trong đó có chính trị học và luật học.
Ngày 18/12/1948 tức là chỉ 3 năm sau khi Liên Hợp Quốc(LHQ) được thành
lập (1945) tổ chức quốc tế lớn nhất của các quốc gia trên thế giới đã thông
qua bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền mà trong khi đó khẳng định

trong tư pháp hình sự
Dựa vào những nội dung vừa nêu trên, có thể xây dựng khái niệm thiết
chế bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự như sau:
" Thiết chế bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là
những yếu tố ảnh hưởng đến sự bảo vệ và phát triển quyền con người trong
lĩnh vực này. Do đó, các thiết chế này bao gồm:
- Hệ thống các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự điều
chỉnh vấn đề về quyền con người.
- Yếu tố con người, bao gồm chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước
và chủ thể đại diện cho bị can bị cáo( bao gồm cả bị cáo) mà ở đây chính là
đại diện cho trẻ em
- Cơ sở vật chất, kĩ thuật ".
Là hệ thống các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công
dân( trẻ em) và các quy định bảo đảm thực hiện nó trong hệ thống pháp luật
và cơ chế đảm bảo cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế.
1.1.4. Nội dung các thiết chế đảm bảo quyền con người của trẻ em trong
hoạt động tư pháp hình sự
11
11
Đảm bảo Quyền con người của trẻ em trong hoạt động tư pháp là một
lĩnh vực đảm bảo quyền con người, quyền công dân nói chung. Vì vậy, đảm
bảo quyền con người của trẻ em trong hoạt động tư pháp phải hội tụ đầy đủ
các yếu tố điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân nói chung.
Đồng thời là một bộ phận của cái chung, nên đảm bảo quyền con người của
trẻ em trong hoạt động tư pháp còn bao gồm các thiết chế sau:
• Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình
sự
- Vai trò của pháp luật đối với quyền con người của trẻ em trong tư
pháp hình sự:
+ Pháp luật là phương tiện chính thức hóa giá trị xã hội của quyền con người.

người của trẻ em trong hoạt động tư pháp là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để
từ đó tổ chức thực hiện các đảm bảo khỏi mọi sự xâm hại tới quyền lợi trẻ em.
Cùng với việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về quyền con người
trong hoạt động tư pháp, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải thường xuyên
làm tốt công tác hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực
này để kịp thời loại bỏ những quy phạm pháp luật không còn phù hợp, sửa
đổi, bổ sung những quy phạm pháp luật chưa sát hợp với thực tiễn, làm cơ sở
cho việc ban hành mới những quy phạm pháp luật do nhu cầu thực tiễn của
đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đặt ra cho lĩnh vực này.
• Về yếu tố con người
Để đảm bảo quyền con người của trẻ em trong hoạt động tư pháp, yếu tố
quyết định vẫn là con người trong việc tổ chức và tiến hành các hoạt động tư
pháp hình sự.
Hoạt động tư pháp mà đặc trưng là hoạt động tố tụng, là toàn bộ trình tự,
thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của công
dân trước Tòa án, trong đó một bên bao giờ cũng là cơ quan nhà nước và bên
kia là người có quyền và nghĩa vụ pháp lý cần được phân xử bởi Nhà nước. Do
đó, con người trong hoạt động tư pháp bao gồm hai nhóm người sau:
- Chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước trong tư pháp hình sự, đây là
13
13
chủ thể đảm bảo quyền con người.
Chủ thể này là quan trọng nhất trong các thiết chế ảnh hưởng đến quyền
con người trong tư pháp hình sự vì chủ thể này là những người hiện thực hóa
pháp luật, tức là pháp luật có được thực thi đúng trên thực tế hay không là phụ
thuộc vào họ. Chủ thể này vừa là những thủ phạm vi phạm quyền con người,
đồng thời cũng có vai trò cốt yếu trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Theo pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam, chủ thể đại diện cho quyền
lực Nhà nước bao gồm các cơ quan sau:
+ Tòa án nhân dân: là cơ quan có quyền xét xử duy nhất, là nơi phán

sau: Quyền được xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội
trong vụ án hình sự và của các bên trong vụ việc phi hình sự trước cơ quan tư
pháp (công an, công tố và toà án), được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi
nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm quyền bào
chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi toà án độc lập, không thiên
vị ) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, cũng như các quyền và
lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân. Bao gồm tập hợp một số quyền như sau:
- Một số quyền trong giai đoạn trước xét xử: Không bị bắt hoặc giam giữ
vô cớ, bảo đảm quyền tự do và an toàn về thân thể của trẻ em, không bị tra
tấn, bị đối xử tàn ác hay vô nhân đạo
- Quyền bào chữa tại phiên tòa( yêu cầu có người bào chữa kh trẻ em
phạm tội).
- Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên.
- Quyền kháng cáo thông qua người bào chữa.
Ngoài ra, để đảm bảo QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngoài các
quyền được quy định trong pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng còn
được làm những gì mà pháp luật không cấm.
• Về cơ sở vật chất, kỹ thuật của hoạt động tư pháp hình sự
Cơ sở vật chất kỹ thuật so với 2 thiết chế trên tuy không quan trọng bằng
nhưng nó cũng là một bộ phận quan trọng, nó phục vụ hoạt động điều tra, xét
xử, thi hành án hình sự được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể sau.
15
15
- HĐTP gắn liền với quá trình hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án và các HĐTP khác, nhằm các vi phạm pháp luật để giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Cho nên, HĐTP đòi hỏi một khối lượng cơ sở vật chất kỹ
thuật rất lớn. Nếu cơ sở vật chất kĩ thuật không đáp ứng được yêu cầu thì sẽ
gây rất nhiều khó khăn như:
+ Với hoạt động điều tra: xảy ra các tình trạng điều tra không chính xác,

sở vật chất kỹ thuật cho HĐTP còn bao gồm sự đáp ứng kịp thời các trang
thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ cho hoạt động của các cơ quan tư
pháp hình sự.
Tóm lại, đảm bảo QCN trong HĐTP là việc đảm bảo các điều kiện, yếu tố
cần và đủ cho quá trình thực hiện QCN trong lĩnh vực HĐTP nhằm làm cho hoạt
động này có hiệu lực, hiệu quả cáo nhất. Bao gồm các yếu tố cơ bản như: Có hệ
thống các quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đầy đủ, không ngừng được hoàn
thiện; có hệ thống các cơ quan tư pháp hình sự hoàn chỉnh, có chất lượng, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả; có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng với yêu cầu của
hoạt động; có cơ chế giám sát chặt chẽ, thông suốt, có sự tham gia đông đảo của
các cơ quan nhà nước,tổ chức chính trị xã hội và công dân…
1.2. Nội dụng bảo đảm quyền con người của trẻ em trong lĩnh vực tư pháp
hình sự
1.2.1. Nội dung, ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người của trẻ em trong luật
hình sự
Pháp luật hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con
người nói chung và quyền con người của trẻ em nói riêng. Tại điều 1 Bộ luật
hình sự năm 1999( sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định: “ Bộ luật hình sự có
nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo
vệ quyền bình đẳng giữa các đồng bào dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức
tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Quy định tại
17
17
điều 1 này đã khẳng định bảo vệ quyền con người là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của luật hình sự, trong đó có quyền con người của trẻ em.
Bảo vệ quyền con người của trẻ em trong luật hình sự là một bộ phận
quan trọng trong chế định bảo vệ quyền con người nói chung thể hiện rõ tinh
thần nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Quyền con người của trẻ em được bảo

mức tăng nặng càng nhiều. [4….].
Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16
tuổi là trẻ em. Quy định về độ tuổi đối với trẻ em của Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em cũng phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự về độ tuổi
của trẻ em. Ví dụ: Điều 112 Bộ luật hình sự quy định: “người nào hiếp dâm
trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 114 Bộ luật hình sự quy định:
“người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 115 Bộ
luật hình sự quy định“người nào đã thành niên giao cấu với trẻ em từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi”.v.v Trẻ em là người dưới 16 tuổi,[6] nên việc xác
định tuổi của người được xác định là trẻ em là một yêu cầu bắt buộc của các
cơ quan tiến hành tố tụng.
Mục đích của các nhà làm luật quy định là tình tiết tăng nặng nhằm mục
đích để trừng trị nghiêm khắc những người có hành vi xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của trẻ em, ngăn ngừa răn đe, giáo dục đối với những
người có ý định phạm tội đối với trẻ em.
Tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” không chỉ là tình tiết tăng nặng
TNHS quyết định hình phạt tại Điểm h, Khoản 1, Điều 48 BLHS mà trong
nhiều trường hợp nó là yếu tố định tội như:
Tội hiếp dâm trẻ em( Điều 112)
Tội cưỡng dâm trẻ em( Điều 114)
Tội giao cấu với trẻ em( Điều 115)
Tội dâm ô với trẻ em( Điều 116)
Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em( Điều 120)
Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em( Điều 228
Nhìn từ góc độ pháp luật, Bộ luật hình sự năm 1999 tách riêng hai loại
19
19
đối tượng( người lớn với trẻ em) là nạn nhân trong tội hiếp dâm là một bước
tiến mới. Tình hình hiếp dâm trẻ em ngày càng gia tăng, nguy hiểm về tính
chất, nghiêm trọng về hậu quả cho nên việc quy định riêng thành một điều

trẻ em thì tội “ Cưỡng dâm trẻ em” ( Điều 114) đang diễn ra ngày càng nhiều,
hành vi của tội phạm này đã xâm phạm thuần phong mỹ tục, trật tự xã hội, tội
này thể hiện người phạm tội dùng thủ đoạn để người lệ thuộc người phạm tôi
hoặc đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hành
vi.Trong quy định tại điều 114 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã thay cụm từ “
người chưa thành niên” trong Bộ luật hình sự năm bằng cụm từ “trẻ em”
nhằm nhấn mạnh đối tượng bảo vệ ở đây là trẻ em.
Ngoài ra để đảm bảo cho quyền con người của trẻ em các hành vi mua
bán, đánh tráo và chiếm doạt trẻ em luôn được coi là tội phạm và người phạm
tội phải xử lý nghiêm khắc về mặt hình sự. Hành vi đó trước hết là xâm phạm
đến quyền được chăm sóc, giáo dục trẻ em. Đồng thời hành vi mua bán, đánh
tráo, bắt trộm trẻ em, coi trẻ em như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường
là xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xã hội luôn
luôn lên án với hành vi đó. Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để cho con người
được sống và phát triển bình thường, trả lại giá trị đích thực cho con người,
sẵn sàng trừng trị những kẻ mưu toan vì những lý do khác nhau mà xâm phạm
đến danh dự, nhân phẩm của mỗi con người. Đối với trẻ em nhà nước ta kiên
quyết trừng trị những ai có hành vi trên. Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999
quy định:
21
21
1. Người nào mua bán đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kì hình thức
nào, thì bị phạt từ từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm
đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức
b) Có tính chất chuyên nghiệp
c) Vì động cơ đê hèn
d) Đối với nhiều trẻ em
đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân

quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi
phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo
không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm:
a) Phạm tội nhiều lần
b) Đối với nhiều trẻ em
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi
triệu đồng.
Ngoài ra, các nhà làm luật quy định dấu hiệu “phạm tội với trẻ em” là
dấu hiệu định khung tăng nặng trong các điều luật như như:
Điểm c khoản 1 điều 93 ( tội giết người)
Điểm c khoản 2 điều 103 ( tội đe dọa giết người)
Điểm d khoản 1 điều 104( tội cố ý gây thương tích gây tổn hại sức khỏe
của người khác)
Điểm a khoản 2 điều 110 ( tội hành hạ người khác)
Điểm b khoản 2 điều 117( tội lây truyền HIV cho người khác)
Điểm c khoản 2 điều 118 ( tội cố ý truyền HIV cho người khác)
Điểm đ khoản 2 điều 134( Tôi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản)
23
23
Các tội phạm xâm phạm đến sức khỏe cũng như tính mạng của trẻ em
được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền sống, quyền bất khả xâm phạm
thân thể của trẻ em – đối tượng được toàn xã hội quan tâm, chăm sóc, và bảo
vệ.Vậy bằng những quy định thành các dấu hiệu định tội,dấu hiệu định khung
tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự một cách cụ thể, rõ ràng,
chặt chẽ như vậy. Bộ luật hình sự năm 1999( sửa đổi bổ sung 2009) đã thể
hiện vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người của trẻ em, thế hệ
của đất nước.

Đối với trẻ em, việc xác định một trường hợp cụ thể người thực hiện
hành vi phạm tội có trở thành tội phạm hay không còn căn cứ vào nguyên tắc
được quy định tại điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999.Sở dĩ, có quy định như
vậy là dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý đối với người chưa thành niên là đối
tượng chưa phát triển đây đủ về thể chất cũng như về tinh thần, bị hạn chế về
nhận thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng sống thiếu điều kiện về bản lĩnh,
khả năng tự kiềm chế chưa cao nên dễ bị kích động dụ dỗ, dễ lôi kéo vào các
hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm và manh động. Vì vậy pháp luật hình sự đã
đặt ra những nguyên tắc riêng khi xử lý hành vi phạm tội của trẻ em.
Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý trẻ em phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục,
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích
cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội
của trẻ em, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận
thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên
nhân điều kiện gây ra tội phạm
Trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm lý,
trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế, nguyên nhân
điều kiện phạm tội của họ chủ yếu do môi trường sống của họ, trong đó có
phần trách nhiệm lớn của gia đình và xã hội. Chính vì vậy, việc xử lý trẻ em
phạm tội chủ yếu là để giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy
tắc của cuộc sống xã hội Xã hội chủ nghĩa, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát
triển lành mạnh trở thành người có ích cho xã hội.
25
25

Trích đoạn Những nguyên nhân dẫn đến quyền con người của trẻ em chưa được bảo đảm Các kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status