ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỊ KHÁNH LINH
¶nh hëng cña Nho gi¸o
®Õn viÖc b¶o ®¶m quyÒn b×nh ®¼ng cña
phô n÷
trong quan hÖ h«n nh©n, gia ®×nh ë ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG THỊ KHÁNH LINH
¶nh hëng cña Nho gi¸o
®Õn viÖc b¶o ®¶m quyÒn b×nh ®¼ng cña
phô n÷
trong quan hÖ h«n nh©n, gia ®×nh ë ViÖt Nam
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ
VIỆT NAM.........................................................................................9
1.1.
Những triết lý căn bản của Nho giáo...............................................9
1.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Nho giáo............................9
1.1.2. Quá trình du nhập tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam.........................10
1.1.3. Những nội dung cơ bản của triết lý Nho giáo về hôn nhân và gia đình
...........................................................................................................18
1.2.
Quyền bình đẳng và bảo đảm quyền của người phụ nữ trong
quan hệ hôn nhân và gia đình.........................................................23
1.2.1. Khái quát về quyền bình đẳng...........................................................23
1.2.2. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình........24
1.3.
Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia
đình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam...................27
1.3.1. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ về hôn nhân và gia đình
trong pháp luật quốc tế......................................................................27
1.3.2. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia
đình theo pháp luật Việt Nam............................................................29
Tiểu kết chương 1..........................................................................................33
CHƯƠNG 2: NHỮNG TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO
ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH........34
2.1.
Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đến việc bảo
đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân, gia đình...................................34
2.4.
Một số vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng từ Nho giáo đến việc bảo
đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn
nhân, gia đình...................................................................................58
2.4.1.
Mất cân bằng giới tính khi sinh và sự ưa thích con trai.....................66
2.4.2.
Bạo lực gia đình.................................................................................72
Tiểu kết chương 2..........................................................................................76
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH
HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA NHO GIÁO ĐẾN VIỆC
BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT
NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH............77
3.1.
Quan điểm nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình
đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình
...........................................................................................................77
3.1.1.
Quán triệt quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh
Đẩy mạnh công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về vị trí, vai
trò của người phụ nữ trong xã hội, gia đình......................................91
Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng
của người phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình
hiện nay..............................................................................................92
Nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ và các tổ chức xã hội.......94
Hoàn thiện về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật, thực
hiện bình đẳng giới............................................................................95
Tăng cường vai trò của các thiết chế xã hội về bảo đảm quyền
bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình.............................98
Tuyên truyền, giáo dục sâu rộng quyền bình đẳng của phụ nữ
trong hôn nhân và gia đình..............................................................101
Tăng cường và thiết lập hệ thống thu thập dữ liệu thống nhất và
khung kế hoạch, theo dõi và đánh giá; nghiên cứu về quyền bình
đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình...................................104
Xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái..................................106
KẾT LUẬN..................................................................................................108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................109
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐG:
Bình đẳng giới
TSGTKS:
Tỉ số giới tính khi sinh
Bản đồ 2.1.
Tỷ số giới tính khi sinh theo tỉnh
68
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội có nguồn gốc ở Trung quốc
thời kì cổ đại, hình thành từ thời Phục Hy và có sự đóng góp rất lớn của
Chu Công ở thời kì Tây Chu. Đến thời Đông Chu, Khổng Tử là người có
kiến thức uyên bác đã đóng vai trò to lớn trong việc hệ thống hoá tư tưởng
của Chu Công và truyền bá tư tưởng của Nho giáo. Vì vậy, Khổng Tử được
coi là người sáng lập Nho giáo. Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau,
Nho giáo tồn tại và phát triển không thuần nhất ở Trung Quốc: Nho giáo
thời Tây Chu (Chu Công), Nho giáo thời Tiên Tần (Khổng Mạnh), Hán
Nho, Đường Nho, Tống Nho…
Nho giáo ra đời thời Xuân Thu - Chiến Quốc - thời kỳ mà tình hình
kinh tế - xã hội có nhiều biến động nhất trong lịch sử Trung Quốc. Các nước
chư hầu nhà Chu tranh giành quyền lực, tàn sát lẫn nhau làm cho xã hội lâm
vào cảnh loạn lạc, rối ren. Trước tình hình đó, các nhà tư tưởng của Nho giáo
đã lý giải các vấn đề xã hội và họ muốn tìm ra phương pháp đưa xã hội từ
loạn lạc tới thịnh trị. Chính vì vậy, có nhiều ý kiến cho rằng, thực chất Nho
giáo là đạo trị nước, Nho giáo là đạo làm người vì bàn nhiều tới việc giáo dục
đạo đức cho con người - nhân tố giúp xã hội ổn định, trật tự.
Nội dung giáo dục đạo đức cho con người của Nho giáo tập trung ở các
phạm trù cơ bản như Tam cương, Ngũ thường, Chính danh. Đối với người
phụ nữ, nội dung giáo dục đạo đức của Nho giáo thể hiện rõ thông qua thuyết
nền tảng. Tuy nhiên, mục đích của Đảng ta trong công cuộc Đổi mới không
chỉ đơn giản về kinh tế mà đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới quan niệm
về con người và giải phóng con người. Đảng ta luôn xác định, con người là
yếu tố quan trọng hàng đầu, trong đó, người phụ nữ là lực lượng đông đảo
nắm vai trò to lớn trong gia đình và xã hội. Công cuộc Đổi mới đã dẫn đến
2
những thay đổi về tiêu chí đánh giá của xã hội, của gia đình đối với người phụ
nữ nhằm đáp ứng nhu cầu mới của thời đại. Người phụ nữ Việt Nam ngày nay
phải hướng tới vẻ đẹp toàn diện hơn, trí tuệ hơn, giỏi việc nước đảm việc nhà,
tích cực tham gia các hoạt động xã hội...
Những quy tắc, chuẩn mực của đạo đức Nho giáo được sử dụng một
cách hợp lý sẽ trở thành nhân tố quan trọng nâng cao vị trí, vai trò của người
phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại, đảm bảo được quyền bình đẳng của
họ trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình nói riêng. Điều đó cho thấy việc cần
thiết phải nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo
đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn
nhân, gia đình để đưa ra những giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực và
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng
của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ
hôn nhân, gia đình ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài ảnh hưởng của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng
trong quan hệ hôn nhân, gia đình của phụ nữ ở Việt Nam cũng đã có một số
tác giả nghiên cứu. Có thể kể ra như đề tài nghiên cứu được các chuyên gia
dưới các góc độ và trong phạm vi khác nhau, như: “Ảnh hưởng của đạo đức
phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay” của tác giả
thuyết tam tòng, tứ đức trong lịch sử phát triển của Nho giáo Trung Quốc và
Nho giáo Việt Nam. Thuyết tam tòng, tứ đức có ảnh hưởng lớn đối với đời
sống tinh thần con người Việt Nam, đạo đức và vai trò vị trí của người phụ nữ
Việt Nam xưa và nay. Tuy nhiên các tác giả cũng khẳng định: khi vào Việt
Nam nó được người Việt tiếp thu và biến đổi nó cho phù hợp với xã hội Việt.
Thứ năm, các công trình phân tích sự ảnh hưởng của thuyết tam tòng,
tứ đức thông qua các bài Gia huấn và Hương ước được truyền tụng trong đời
4
sống xã hội Việt Nam cho thấy rõ mức độ ảnh hưởng sâu đậm của những tư
tưởng này đối với con người Việt Nam.
Thứ sáu, các công trình chỉ ra điều luật của các triều đại phong kiến
Việt Nam đối với người phụ nữ trên tinh thần bị ảnh hưởng tư tưởng trọng
nam khinh nữ, tam tòng, tứ đức của Nho giáo.
Thứ bảy, các công trình đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuyết tam
tòng, tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay dưới các lát cắt:
- Chỉ ra những nguyên nhân tồn tại của các tàn dư đạo đức phong kiến
và một số phương hướng khắc phục.
- Vấn đề những quan niệm cực đoan trên của Nho giáo về người phụ nữ
trong thời trước ảnh hưởng đối với suy nghĩ, tư tưởng đến phụ nữ hiện nay.
Và đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng trên để nâng cao vị trí, vai trò
của người phụ nữ hiện nay.
- Điểm khác biệt căn bản giữa ảnh hưởng của thuyết tam tòng, tứ đức
đối với người phụ nữ Việt Nam và người phụ nữ Trung Quốc.
Thứ tám, các công trình còn nghiên cứu về người phụ nữ Việt Nam hiện
đại dưới các góc độ:
- Xác định rõ nhiệm vụ phụ nữ trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
và sự nghiệp giải phóng triệt để cho phụ nữ.
đây vài năm, đến nay pháp luật và thực tiễn về quyền bình đẳng của phụ nữ
đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, luận văn này là công trình mới nghiên cứu có hệ
thống và chuyên sâu về ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền
bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân, gia đình và đề xuất phương hướng, giải
pháp bảo đảm quyền bình đẳng trong vấn đề này.
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ nội dung đạo đức cơ bản của người phụ nữ trong Nho
giáo Trung Quốc và Việt Nam, phân tích ảnh hưởng của nó; luận văn đề xuất
một số quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn
6
chế những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình
đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ những nội dung cơ bản của Nho giáo.
Thứ hai, ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc bảo đảm quyền bình
đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình.
Thứ ba, đưa ra được các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm kế thừa
hạt nhân hợp lý và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với
việc bảo đảm quyền bình đẳng của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong
quan hệ hôn nhân, gia đình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đạo đức của người phụ nữ trong Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đối
với việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan
hệ hôn nhân, gia đình, các quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng
của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trong quan hệ hôn nhân, gia đình.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những triết lý căn bản của Nho giáo về hôn nhân, gia đình
và khái niệm bảo đảm quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân, gia đình của
phụ nữ Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng những yếu tố tác động, ảnh hưởng của Nho giáo
đến việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn
nhân, gia đình.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực,
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đến việc bảo đảm quyền bình đẳng
của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân, gia đình.
8
CHƯƠNG 1
NHỮNG TRIẾT LÝ CĂN BẢN CỦA NHO GIÁO VỀ HÔN NHÂN, GIA
ĐÌNH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG QUAN HỆ HÔN
NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Những triết lý căn bản của Nho giáo
1.1.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Nho giáo
1.1.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã
hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng
của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì
thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca
Mâu Ni, Giê-xu,... người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của
Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng
"lễ trị" để che đậy "pháp trị".
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng
với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh
là sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là
Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo,
Trình Di.Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học
nên được gọi là "Trạng Trình". Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng
giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung
các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo
giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
1.1.2. Quá trình du nhập tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức của Trung Quốc
được hình thành và phát triển qua ba giai đoạn lớn, từ Nho thời Tiên Tần đến
10
Nho Lưỡng Hán và Nho thời Tống - Minh - Thanh. Được truyền vào Việt
Nam từ đầu Công nguyên, tuy ban đầu vấp phải sự phản kháng của người Việt
nhưng về sau Nho giáo đã dần được các triều đại Việt Nam chủ động tiếp
nhận, sử dụng làm công cụ trị nước trong suốt nhiều thế kỷ cho đến khi chế
độ phong kiến lụi tàn. Căn cứ vào lý thuyết tiếp biến văn hóa và chuyển đổi tư
tưởng có thể chia quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam thành ba giai
đoạn lớn. Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam tương ứng
với thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc, Nho giáo được truyền vào Việt
Nam một cách áp đặt trong âm mưu đồng hóa dân tộc của các thế lực phong
kiến phương Bắc, do đó thời kỳ này người Việt tiếp nhận Nho giáo hết sức
chậm chạp, thụ động, tiếp thu chủ yếu những yếu tố kỹ thuật, văn hóa mang
tính thực dụng và gần gũi với truyền thống người Việt. Giai đoạn tiếp theo là
Việt. Thứ ba, ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội. Quá trình du nhập,
tiếp thu và cải biến Nho giáo ở người Việt không chỉ đáp ứng được yêu cầu
quản lý đất nước của giai cấp phong kiến dân tộc bấy giờ mà còn góp phần
vào việc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ của người Việt nói chung trước triều
đình phương Bắc.
Trước khi Nho giáo du nhập Việt Nam, nước ta đã là một quốc gia độc lập
“có một nền văn hóa với những đặc điểm cơ bản riêng của mình” [20, tr.56]. Đó
là nhà nước Văn Lang, Âu Lạc. Quá trình hình thành và phát triển lâu dài nền
văn minh Văn Lang, Âu Lạc đã trở thành cội nguồn, làm nên bản sắc dân tộc
Việt Nam ngày nay. Những tài liệu và hiện vật mà khảo cổ học Việt Nam phát
hiện được đã chứng tỏ rằng, người Văn Lang, Âu Lạc thời xưa có nền văn hóa
phát triển phong phú, rực rỡ, “biểu hiện bằng các món dụng cụ, trang sức,
trống đồng, thạp đồng, mũi tên đồng, thành quách, v.v. mà người Việt Nam
hiện đại rất tự hào” [20, tr.57]. Tuy nhiên, năm 179 TCN, Âu Lạc rơi vào ách
đô hộ của nhà Triệu, mở đầu một thời kỳ đen tối kéo dài hơn một nghìn năm
đầy đau thương tủi nhục trong lịch sử nước ta, thường gọi là thời kỳ Bắc
12
thuộc. Sau khi chiếm được nước ta, Triệu Đà chia Âu Lạc thành hai quận là
Giao Chỉ, Cửu Chân và sát nhập vào nước Nam Việt. Năm 111 trước công
nguyên (TCN), nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành đất đai của
nhà Hán. Âu Lạc bị chia thành ba quận thuộc bộ Giao Chỉ là: Giao Chỉ, Cửu
Chân và Nhật Nam. Để nô dịch nhân dân ta về tư tưởng, ngay từ thời Tây
Hán, Nho giáo đã được chính quyền đô hộ truyền bá vào nước ta. Theo Đại
Việt sử ký toàn thư, vào thời kỳ đầu công nguyên, hai viên thái thú quận Giao
Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học hiệu”
để dạy lễ nghĩa, tức mở trường dạy Nho học và truyền bá phong tục Hán tộc.
Nho giáo vào Việt Nam chính thức từ đây và “Phong tục văn minh của đất
một ngàn năm Bắc thuộc, Nho giáo tuy có phát triển song vẫn chưa xâm nhập
được vào mọi tầng lớp xã hội và ảnh hưởng của nó vẫn còn hạn chế. Suốt thời
kỳ lịch sử này, giới Nho sĩ bản địa vẫn còn ít ỏi và chưa trở thành một lực
lượng xã hội đáng kể. Trong dân gian, tín ngưỡng Phật giáo và Đạo giáo lại
phổ biến hơn nhiều. Sở dĩ có tình hình đó là do: Một là, như trên đã phân tích,
khi Nho giáo nói riêng và các triết lý tôn giáo khác nói chung vào Việt Nam
thì nước ta đã từng có một nền văn hóa tương đối phát triển với ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, lối sống riêng, được bảo tồn trong suốt qúa trình dựng
nước và giữ nước. Vì vậy, các hệ tư tưởng triết học, tôn giáo từ ngoài vào Việt
Nam không phải dễ dàng chiếm ngay được chỗ đứng trong đời sống tinh thần
xã hội Việt Nam, hay chúng có thể dễ dàng xóa bỏ, chinh phục, đồng hóa nền
văn hóa bản địa mà không gặp một sự phản ứng nào. Để thích nghi với nền
văn hóa bản địa, cần phải có một quá trình biến đổi để phù hợp với “miền đất
mới” mà chúng xâm nhập. Hai là, muốn tiếp thu Nho giáo thì phải học lâu
dài, mà chữ Hán lại rất khó học. Hơn nữa, Nho giáo vào Việt Nam không như
Phật giáo và Đạo giáo. Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Quốc du nhập Việt Nam
hầu như không gặp sự phản ứng và chống đối nào từ phía nhân dân và phát
14
triển khá nhanh. Phật giáo nhanh chóng được người Việt thời đó tiếp nhận vì
bản thân nó vốn không phải là hệ tư tưởng của kẻ xâm lược như Nho giáo.
Mặt khác, giáo lý Phật giáo với tư tưởng từ bi, cứu khổ cứu nạn, đề cao lòng
nhân ái vị tha, sự độ lượng khoan dung, đức đạm bạc thanh khiết đã tỏ ra rất
gần gũi với những tập quán, tín ngưỡng dân gian bản địa nên dễ dàng cải biến
để thâm nhập, hoà quyện với tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt Nam xưa.
Còn Đạo giáo, nhất là Đạo giáo phù thủy trong thời kỳ Bắc thuộc, cũng ảnh
hưởng sâu rộng không kém gì Phật giáo. Bởi lẽ, Đạo giáo phù thủy rất gần
với tín ngưỡng ma thuật vốn có của người Việt cổ. Cho đến tận thời kỳ sau