MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................
1 PHẦN NỘI DUNG....................................................................................... 3
I/ Những lý luận chung về nhà nước pháp quyền………………………...…..3
1/ Những khái niệm chung về nhà nước pháp quyền và đặc trừng của nhà
nước pháp quyền…………………………………………………………..….3
2/ Tư tưởng triết học về pháp quyền trong lịch sử………………………........4
II/ Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay……………….…...8
PHẦN KẾT …………………………………………………………….…...14
PHẦN MỞ ĐẦU
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
xác định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá
trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Sự xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN trong báo cáo chính trị của Đại hội IX không chỉ là khẳng
định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế mà còn là sự
đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu
mới, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Khởi đầu từ cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Các mạng Tháng Tám thành công, bản Tuyên ngôn độc lập
khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
trước toàn thể đổng bào cả nước ngày 02 tháng 09 năm 1945 đã khẳng định
quyết tâm của toàn dân tộc Việt Nam không chỉ trong mục tiêu độc lập dân
tộc mà còn trong mục tiêu phấn đấu vì một chế độ pháp quyền độc lập dân
chủ.
Trung thành với mục tiêu dân chủ, dân quyền, dân sinh, ngay sau khi
giành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã bắt tay vào xây dựng một bản Hiến
Pháp. Ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ giữa muôn vàn khó khăn thách
quyền trong hoạt động Nhà nước và xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển của đất nước hiện nay và do vậy chưa tạo lập được cơ sở khoa học
vững chắc cho việc tìm các giải pháp cải cách thực tiễn với đời sống Nhà
nước. Chính vì thế sự nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp
quyền đang là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.
3
PHẦN NỘI DUNG
I/ NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.Khái niệm chung về Nhà nước pháp quyền và những đặc trưng cơ bản
của Nhà nước pháp quyền.
1.1 Khái niệm.
Trong việc nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật, vấn đề Nhà nước
pháp quyền trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả là những người
làm công tác thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay ở
trong nước cũng như ở ngòai nước. Do cách tiếp cận vấn đề hoặc nhận định,
đánh giá vấn đề ở góc độ khác nhau, một số vấn đề rất cơ bản liên quan đến
nhà nước pháp quyền vẫn chưa có nhận thức thống nhất hoặc chưa được làm
sáng tỏ. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: dưới góc độ
chính trị - xã hội và phân tầng giai cấp xã hội, nhà nước pháp quyền không
phải là kiểu nhà nước mới, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sử nhân loại đã
chứng kiến là: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và
Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Vậy Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt
mà ở đó có sự ngự trị cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền
lực của nhân dân.
1.2 Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền có sự ngự trị cao nhất của pháp luật.
quyền lực nhà nước được phân thành ba nhánh quyền lực, đó là quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
2. Tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền trong lịch sử
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã có qua điểm tư tưởng về
pháp luật, pháp chế, sự tồn tại của nha nước trên cơ sở pháp chế, pháp luật.
việc xây dựng nền tảng chính trị pháp lý của nhà nước pháp quyền ngày nay.
Platon(428 – 347 TCN)
Platon sớm nhận thấy vai trò pháp luật đối vời nhà nước, ông viết: “ tôi
nhìn thấy sự sụo đổ mau chóng của nhà nước nơi mà phaps luật không có hiệu
5
lực và nằm dưới quyền một ai đó. Còn ở đâu luật đứng trên nhà cầm quyền,
còn họ là nô lệ thì ở đó tôi nhìn thấy sự cứu thoát nhà nước và lợi ích mà chỉ
có Nhà nước mới phát cho nhà nước”.
Aristote(384 – 322 TCN)
Aristote là người có tư tưởng sơ khai về pháp luật nhà nước và pháp
luật quốc tế.
Trình bày các thiết chế đang thịnh hành với sự phân biệt cơ quan nghị
luận, cơ quan chấp hành và cơ quan xét xử. Ông là người đặt nền móng cho tư
tưởng phân chia quyền lực nhà nước sau này.
Marctulli Ciceron ( 106 – 43 TCN)
Ông nêu lên quan điểm về pháp luật tự nhiên. Pháp luật tồn tại một
cách tự nhiên ở pháp luật các nước và trong các thời đại xuất phát từ bản chất
tự nhiên của con người. Pháp quyền sinh ra từ lý trí, tức là trên quyền lực.
Không một nguyên lão nghị viện nào, không một dân tộc nào được miễn trừ
việc tuân theo nó. Tất cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật.
Những ý tưởng, quan niệm của những nhà tư tưởng cổ đại tuy nêu ở
những góc độ khác nhau nhưng đều đề cổ vũ cho việc đề cao pháp luật, xây
dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Những ý tưởng này
nước và cao hơn nhà nước.
Mặc dù chưa rõ ràng và hoàn thiện về mặt lý luận, song có thể nói ông
là người đã xây dựng chủ nghĩa tự do, có quan điểm phân chia quyền lực nhà
nước và chủ quyền nhân dân. Tư tưởng của ông được Montesquieu tiếp tục
phát triển và được thể hiện trong các quy định của hiến pháp Mỹ (1776) và
tuyên ngôn nhân quyền Pháp (1789).
Charlede Sccondat Montesquieu (1689 – 1755).
Là nhà luật học lỗi lạc, tác giả nổi tiếng của công trình khoa học “ Tinh
thần pháp luật” (1748) có những quan điểm phong phú đa dạng hơn phát triển
tưởng nhà nước pháp quyền. Ông bổ sung thêm quan điểm lý luận quan trọng
về tự do chính trị, phân chia quyền lực nhà nước.
Quan điểm tự do chính trị của ông gắn chặt quyền tự do hành
động của con người và pháp luật.
Ông kế thùa tư tưởng phát triển phân chia quyền lực của Jonh
Lock. Ông cho rằng mọi quốc gai đều có ba thứ quyền lực là lập pháp, hành
7
pháo và tư pháp. Phải có cơ chế kiềm chế, đối trọng ba nhánh quyền lực nhà
nước để chống độc quyền là làm quyền.
Còn theo Kant thì nhà nước là liên minh của nhiều người cùng phục
tùng đạo luật pháp quyền. Phúc lợi nàh nước theo ý kiến của ông nằm trong
việc đặt cơ cấu nhà nước phù hợp với nguyên tắc pháp luật xuất phát từ định
lý: Hãy hành động biểu hiện tự do của anh thích ứng với tự do của người khác
và thích ứng với đạo luật chung.
Nhà nước pháp quyền phải có sự phân chia quyền lực nhà nước thành
quyền lập pháp, quyền hành pháp và tư pháp.
Hêghen(1770 – 1831).
Với tác phẩm nổi tiếng triết học pháp quyền Heghen đã luận chứng cho
cấu trúc nhà nước pháp quyền xã hội công dân, trật tự pháp luật chống nhà
quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng
dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương. Đó là Nhà nước mà mọi tổ
chức ( kể cả tổ chức đảng) hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ
pháp luật, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hành vi của mình. Vì vậy,
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có quan hệ khăng khít với
xây dựng xã hội công dân. Xây dưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, huy động nội lực của toàn nhân dân của tất cả các thành phần kinh
tế vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chỉ nghĩa. Nhà nước pháp quyền, nền
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và xã hội công dân là ba bộ phận hợp
thành không thể tách rời, là điều kiện và tiền đề cho nhau, là bảo đảm và kết
quả của công nghiệp há, hiện đại háo đất nước.
Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận quyền của công dân tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả
nước và địa phương, kiến nghị, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với cơ
quan nhà nước. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền
khiếu nại, tố cáo….Các quyền và sự tự do đó trong nhiều trường hợp là điều
kiện đề nhân dân kiểm tra hoạt động của Nhà nước, nhưng trước hết đó là một
trong những phương thức quan trọng để thực hiện dân chủ. Vì vậy, cần chăm
lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mọi người, tôn trọng
và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết
hoặc tham gia. Đổi mới cơ chế, xác định trách nhiệm của các cấp, các
ngành,của cán bộ, công chức trong việc giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo
của công dân.
9
Quyền lực nhà nước ở nước ta là quyền lực nhà nước thông nhất. Sự
thông nhất đó là mục tiêu chung phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước,
10
nhiệm còn thiếu rành mạch, làm trầm trọng thêm tác phong làm việc quan liêu
và dựa dẫm. Thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân chưa được quy định chặt
chẽ. Thái độ làm việc và trách nhiệm trước dân của đội ngũ cán bộ, công chức
còn là vấn đề đáng nói hiện nay.
Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, Hiến pháp và pháp luật của Nhà
nước ta trước sau như một đều khẳng định các yêu cầu về bình đẳng, công
bằng, về sự độc lập của tòa án khi xét xử, bảo đảm mọi vi phạm đều bị xử lý,
tăng cường bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người
dân. Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động tư pháp đã trở thành một hoạt đông
hết sức quan trọng của Nhà nước ta, thể hiện vai trò mới, những đòi hỏi và
những nhiệm vụ mới của lĩnh vực hoạt động đó. Trên cơ sở những thành tựu
và kinh nghiệm đã có, cần đấy mạnh cải cách tư pháp theo Nghị quyết 08 của
Bộ Chính trị (Khóa IX) mà những nội dung cơ bản phải là cải cách hoạt động
xét xử và cải cách các thủ tục tố tụng, nâng cao năng lực chuyên môn, đạo
đức nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị - pháp lý của cán bộ tư pháp.
Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc phân công và phôi
hợp quyền lực nhà nước và cài cách hành chính là sự phân công, phân cấp
giữa Trung ương và địa phương. Sự phân công, phân cấp ấy phải nhằm
khuyến khích và nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp
chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ.
Việc phân công và phân cấp giữa Trung ương và địa phương phải dựa
trên nền tảng của một hệ thông chính trị cơ sở vững mạnh, có tính chuyên
nghiệp cao và đủ sức giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra. Hiện đây đang
là một khâu yếu.
Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải gắn liền với việc đưa pháp
quyền với hệ thống chính trị duy nhất một đảng lãnh đạo, với phương thức tổ
chức nhà nước tập trung có phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với việc tôn trọng các
quyền tự do của công dân và nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân trong việc
bảo đảm một xã hội trật tự, kỷ cương.
Về nguyên tắc, Nhà nước pháp quyền không mâu thuẩn với hệ thống
chính trị một Đảng lãnh đạo. Vấn đề là ở chỗ, bản chất của Đảng cẩm quyền
thế nào, mục tiêu chính trị của nó có phải vì lợi ích chung của dân tộc vì con
người hay không và do đó có sẵn sàng tuân theo những quy định của pháp
luật hay không; có đủ phẩm chất đạo đức để vượt qua các cám dỗ quyền lực
to lớn mà một đảng cầm quyền duy nhất có nhiều khả năng gặp phải hay
12
không và nó có đặt ra mục tiêu, thực hiện được những kỷ luật nghiêm khắc
cho chính mình hay không.
Thực tiễn phát triển của xã hội ta, đất nước ta đã xác nhận và khẳng
định vai trò lãnh đạo của Đảng. 80 năm qua Đảng thể hiện tập trung ý chí,
nguyện vọng và trí tuệ của toàn dân tộc. Đường lối của Đảng là sự thể hiện
nhận thức của toàn xã hội về các quy luật khách quan của sự phát triển đất
nước. Đó chính là căn cứ là điều kiện cần thiết để chúng ta hoàn thiện pháp
luật. Hiến pháp của nước ta đã ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng phù hợp với những
nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn và
yêu cầu của xã hội, cần cụ thể hóa hơn nữa mối quan hệ lãnh đạo của Đảng,
mà cụ thể là các tổ chức Đảng, và cấp ủy các cấp, cán bộ lãnh đạo Đảng với
các cơ quan nhà nước và các chức vụ nhà nước các cấp.Hoàn thiện những cơ
sở pháp lý đó sẽ giúp tránh được những biểu hiện bao biện, làm thay hay can
thiệp không đúng nguyên tắc của cấp ủy và cán bộ Đảng vào công việc chính
một chừng mực nào đó, chúng ta đang có sự thay đổi nhất định khi tiếp cận
vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền. Những thay đổi như vậy là hoàn toàn
cần thiết bởi vì việc chuyển đổi từ hình thức nhà nước này sang hình thức nhà
nước khác nhiều khi không phải trả giá bằng cuộc cách mạng mà bằng những
cải cách và đổi mới thường xuyên.
Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã và
đang từng bước đảm bảo những quyền, những lợi ích chính đáng của nhân
dân. Tuy nhiên mô hình Nhà nước pháp quyền ở nước ta vẫn còn một số hạn
chế như: Trong bộ máy nhà nước, bản chất nhà nước chưa được thể hiện rõ
ràng, nạn quan liêu tham nhũng đã trở thành hiện tượng khá phổ biến, nội lực
quốc gia chưa được phát huy, bộ máy nhà nước chưa hoàn thiện, thẩm quyền
của một số cơ quan thiết chế trong bộ máy nhà nước chưa được phát huy đúng
mức, pháp luật chưa đi sâu vào đời sống của nhân dân…
Để từng bước xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, chúng ta phải:
Kiên trì vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
14
Đổi mới cơ cấu quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm
tạo ra cơ sở vật chất cho toàn xã hội.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về mặt nội dung và hình thức, ưư tiên
ban hành các luật về kinh tế, cải cách bộ máy nhà nước về quyền của công
dân, nhằm tạo ra một khung pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động của xã hội,
nhà nước và công dân.
Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật nhằm