Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế là một trong những mục tiêu chiến lược của nước ta,
phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đồng nghĩa với việc phát triển các
khu đô thị, các khu công nghiệp và các hoạt động kinh tế được đẩy mạnh
mang tính tất yếu và không thể không thực hiện. Những hệ lụy của phát triển
kinh tế đối với môi trường là không thể tránh khỏi.
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng
trong việc thực hiện chính sách quản lý để bảo vệ môi trường, nhưng tình
trạng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nước nói riêng đang là một
vấn đề rất đáng lo ngại. Vấn đề ô nhiễm môi trường và bảo vệ sự trong sạch
cho các thủy vực hiện nay đang là những vấn đề cấp bách trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Để phát triển bền vững chúng ta cần có những biện pháp
kỹ thuật hạn chế, loại bỏ các chất ô nhiễm do hoạt động sống và sản xuất thải
ra môi trường. Một trong những biện pháp tích cực trong công tác bảo vệ môi
trường và chống ô nhiễm nước là tổ chức thoát nước và xử lý nước thải trước
khi xả vào nguồn tiếp nhận.
Khi nước thải không được xử lý hiệu quả trước khi thải vào môi trường
sẽ làm ô nhiễm nước ngầm, nước mặt tại các ao, hồ, kênh mương và các con
sông. Nước bị ô nhiễm gây mất cân bằng sinh thái, hàm lượng các chất hữu
cơ trong nước tăng cao gây nên sự thiếu hụt oxy. Không những vậy, nước ô
nhiễm còn làm tăng số lượng các vi trùng gây bệnh, thậm chí xuất hiện những
mầm bệnh nguy hiểm cho cả người và các sinh vật sống.
Thành Phố Hạ Long – Quảng Ninh là một trong những cực phát triển
quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Cơ cấu kinh tế của thành
phố được xác định là: Công nghiệp - du lịch, Dịch vụ, Thương Mại, Nông 1
•
lượng, tính chất nguồn nước đầu vào và đầu ra của quy trình xử lý.
Các biện pháp đề xuất phải có tính khả thi.
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2
2.1. Tổng quan về nước thải
2.1.1. Khái niệm nước thải
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980 – 1995 và ISO 6107/1-1980 nước thải là
nước đã được thải ra sau khi sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình
công nghệ và không còn giá trị trực tiếp với quá trình đó. [18]
2.1.2. Phân loại nước thải
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra
chúng :
+ Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động
thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác.
+ Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải
từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ
yếu.
+ Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách
khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố
xí.
+ Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở
những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
+ Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng
trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các
Nước cấp, nước thải sinh hoạt và công nghiệp,
Nhiệt
xói mòn đất
Nước thải sinh hoạt, công nghiệp
Hoá
Carbohydrate
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
học
Dầu, mỡ
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Thuốc trừ sâu
Nước thải nông nghiệp
Phenols
Nước thải công nghiệp
Protein
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp;
Photphorus
Sulfur
rửa trôi
Nước thải sinh hoạt, thương mại, công nghiệp;
4
nước cấp
Hydrogen sulfide
Sự phân huỷ của nước thải sinh hoạt
Methane
Sự phân huỷ của nước thải sinh hoạt
Nước cấp, sự trao đổi qua bề mặt tiếp xúc
Oxygen
Sinh
học
Động vật
không khí – nước
Các dòng chảy hở và hệ thống xử lý
nước thải sinh hoạt, nước cấp, nước ngầm…
Ngoài các đặc điểm hóa, lý thì các đặc điểm sinh học cũng thể hiện ở
một số thành phần như động vật, thực vật, Eubacteria, Archaebacteria và
5
Viuses được phát sinh từ các dòng chảy hở, nước thải sinh hoạt.
Thành phần và tính chất nước thải sinh hoạt
Thành phần nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào tiêu chuẩn cấp nước, đặc
điểm hệ thống thoát nước điều kiện trang thiết bị vệ sinh… và có thể tham
khảo theo bảng sau đây:
Bảng 2.2: Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư
Chỉ Tiêu
Trong khoảng
Trung bình
Tổng chất rắn(TS), mg/l
350 – 1200
720
Chất rắn hoà tan(TDS), mg/l
250 – 850
500
Chất rắn lơ lửng (SS), mg/l
100 – 350
220
BOD5, mg/l
110 – 400
220
Tổng Nitơ, mg/l
20 – 85
40
coliform từ 104 – 107 MPN/100ml.
Như vậy nước thải sinh hoạt của đô thị, các khu dân cư và các cơ sở dịch
vụ, công trình công cộng có khối lượng lớn, hàm lượng chất bẩn cao, nhiều vi
khuẩn gây bệnh là một trong những nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi
trường nước.
6
2.1.5. Vấn đề môi trường liên quan đến nước thải
a. Ảnh hưởng đến môi trường nước và sinh vật nước
- Nước:
+ Nước ngầm: Ngoài việc các cặn lơ lửng trong nước mặt, các chất thải
nặng lắng xuống đáy sông, sau khi phân huỷ, một phần lượng chất được các
sinh vật tiêu thụ, một phần thấm xuống mạch nước bên dưới (nước ngầm) qua
đất, làm biến đổi tính chất của loại nước này theo chiều hướng xấu (do các
chất chứa nhiều chất hữu cơ, kim loại nặng…), bên cạnh đó, việc khai thác
nước ngầm bừa bãi và người dân xây dựng các loại hầm chứa chất thải cũng
góp phần làm suy giảm chất lượng nước ngầm, làm cho lượng nước ngầm vốn
đã khan hiếm, nay càng hiếm hơn nữa.[13]
+ Nước mặt: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra sự mất cân bằng
giữa lượng chất thải ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,
…) và các sinh vật tiêu thụ lượng chất thải này (vi sinh vật, tảo,…)làm co các
chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,… không được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong
nước với khối lượng lớn, dẫn đến việc nước dần mất đi sự tinh khiết ban đầu,
làm chất lượng nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng.[13]
- Sinh vật nước:
Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp tới các sinh vật nước, đặc biệt là vùng
sông, do nước chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất. Nhiều loài thuỷ sinh do
hấp thụ các chất độc trong nước, thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể
nhiều loài thuỷ sinh, một số trường hợp gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới,
đến đất mà còn ảnh hưởng đến cả các sinh vật đang sinh sống trong đất.
+ Các ion Fe2+ và Mn2+ ở nồng độ cao là các chất độc hại với thực vật.
+ Cu trong nguồn nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp thải ra thấm vào
đất không độc lắm đối với động vật nhưng độc đối với cây cối ở nồng độ
trung bình.
+ Các chất ô nhiễm làm giảm quá trình hoạt động phân huỷ chất của một
8
số vi sinh vật trong đất.
+ Là nguyên nhân làm cho nhiều cây cối còi cọc, khả năng chống chịu
kém, không phát triển được hoặc có thể bị thối gốc mà chết.
Có nhiều loại chất độc bền vững khó bị phân huỷ có khả năng xâm nhập
tích luỹ trong cơ thể sinh vật. Khi vào cơ thể sinh vật chất độc cũng có thể
phải cần thời gian để tích luỹ đến lúc đạt mức nồng độ gây độc.[13]
c. Ảnh hưởng tới môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường nước không chỉ ảnh hưởng đến con người, đất,
nước mà còn ảnh hưởng đến không khí. Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại
trong nước thải thông qua vòng tuần hoàn nước, theo hơi nước vào không khí
làm cho mật độ bụi bẩn trong không khí tăng lên. Không những vậy, các hơi
nước này còn là giá bám cho các vi sinh vật và các loại khí bẩn công nghiệp
độc hại khác. Một số chất khí được hình thành do quá trình phân huỷ các hợp
chất hữu cơ trong nước thải như SO2, CO2, CO,… ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường khí quyển và con người, gây ra các căn bệnh liên quan đến
đường hô hấp như: niêm mạc đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm phế quản
mãn tính, gây bệnh tim mạch, tăng mẫn cảm ở những người mắc bệnh hen,…
[13]
d. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
- Do kim loại trong nước: Các kim loại nặng có trong nước là cần thiết
cho sinh vật và con người vì chúng là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật
độ đáng lo ngại. Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tốc độ
phát triển kinh tế của các quốc gia. Xã hội càng phát triển thì càng xuất hiện
nhiều nguy cơ. Ta có thể kể ra đây vài ví dụ tiêu biểu.[19]
Từ các đại dương lớn trên thế giới, nơi chứa đựng hầu hết lượng nước
trên trái đất, nước luôn được lưu thông thường xuyên và sự ô nhiễm nếu xảy
ra cũng chỉ mang tính chất nhỏ bé nhưng nay cũng đang hứng chịu sự ô
nhiễm nặng nề, tùy từng đại dương mà mức độ ô nhiễm lại khác nhau. Nhiều
10
vùng biển trên thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa đến sự sống của
các loài động vật biển mà chủ yếu là nguồn ô nhiễm đất liền và giao thông
vận tải biển gây nên.[19]
Ô nhiễm nước ngọt lại càng nghiêm trọng. Trung bình mỗi ngày trên trái
đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70%
lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn
nước tại các quốc gia đang phát triển.[19]
Xác chết của một con bò nằm trên nền đất ở San Isidro de Cienega, bang
Nuevo Leon, Mexico. Vào tháng 11/2011, Mexico phải hứng chịu đợt hạn
hán nặng nề nhất trong vòng 70, ảnh hưởng đến 70% lãnh thổ quốc gia này.
Nước bẩn chảy ra từ một mỏ vàng đã bị đóng cửa ở gần làng Rosia
Motana, Romania, 20/09/2011.[19]
Mực nước xuống thấp tại con đập El Atazar gần El Berrueco, ở Madrid,
Tây Ban Nha. Tháng 3/2012, nông dân Tây Ban Nha đã phải đối mặt với đợt
hạn hán lớn nhất trong vòng 70 năm.[19]
2.2.2. Tình hình xử lý nước thải trên thế giới
Lượng nước thải ngày một tăng lên đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối
với môi trường. Nước thải chứa hàm lượng các chất ô nhiễm cao như: COD,
BOD, NH4+, NO3-, PO43-, tổng Coliform, các kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Hg,
As,… nếu không có các biện pháp hữu hiệu để xử lý sẽ gây ô nhiễm nguồn
- Ngành dệt nhuộm:
+ Đặc trưng của nước thải đệt nhuộm
Nước thải dệt nhuộm chủ yếu được phát sinh trong quá trình hồ sợi, giặt
hồ, nấu tẩy, nhuộm,… Nước thải dệt nhuộm thường có độ pH cao gây độc với
các loại thủy sinh, gây ăn mòn.
Độ màu của nước thải dệt nhuộm cao do trong quá trình sử dụng thuốc
nhuộm chỉ phần nhỏ lượng màu bám vào vải còn phần lớn thải ra cùng nước
gây màu cho nước thải khi thải vào môi trường. Ngoài hai yếu tố trên các chất
độc khác như sunfit, kim loại nặng, các hợp chất hữu cơ halogen có thể tích tụ
12
vào cơ thể sinh vật rồi đi vào chuỗi thức ăn gây lên các bệnh mãn tính cho
người và động vật.[11]
+ Quy trình công nghệ
Nước thải từ cống thải chung của nhà máy được loại bỏ rác qua hệ thống
song chắn rác. Sau khi loại bỏ rác, nước thải được chảy sang bể điều hòa để
chỉnh nồng độ và lưu lượng, nước thải từ bể điều hòa được bơm sang hệ
thống bể phản ứng keo tụ nhằm xử lý màu và xử lý các hợp chất hữu cơ mạch
vòng.
Nước thải sau quá trình keo tụ được tự chảy sang bể lắng hóa lý để loại
bỏ cặn lắng trong quá trình keo tụ. Nước sạch được chảy sang bể aerotank để
xử lý các chất hữu cơ có thể xử lý bằng quá trình sinh học. Bùn thải từ bể lắng
hóa lý được bơm sang bể chứa bùn. Tại bể sinh học dưới tác dụng của các vi
sinh vật hiếu khí, các chất hữu cơ được xử lý tạo thành bùn sinh khối. Nước
sạch được cho qua hệ thống bể lọc áp lực để loại bỏ tối đa các chất rắn lơ
lửng.[11]
- Ngành chế biến thực phẩm:
+ Đặc trưng của nước thải chế biến thực phẩm
Chủ yếu chứa các chất hữu cơ ít độc có nguồn gốc thực vật hoặc động
Ngành sản xuất có đường và chưng cất (ngành sản xuất nước giải khát)
là các ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao và lượng nước thải lớn. Các
phương pháp xử lý nước thải ngành này bao gồm các phương pháp kỵ khí,
hiếu khí cũng như lý hóa đã được sử dụng. Xử lý kỵ khí là phương pháp xử lý
cơ bản hấp dẫn nhất do loại bỏ hơn 80% BOD kết hợp với phục hồi năng
lượng trong phượng pháp tạo khí sinh học. Tiếp tục xử lý để giảm tải hữu cơ
còn xót lại và màu sắc bao gồm các giai đoạn khác nhau:
(1) Sử dụng phương pháp sinh học dùng các loại nấm khác nhau, vi
khuẩn và tảo…
(2) Sử dụng phương pháp lý hóa và phương pháp như hấp phụ, quá trình
oxy hóa và lọc màng.
Công trình này trình bày một đánh giá về tình trạng hiện tại và tiến bộ
trong phương pháp sinh học và hóa lý được áp dụng để xử lý nước thải có quá
trình chưng cất mật đường. Hơn nữa, hạn chế trong quá trình hiện đã có được
14
tổng kết và các khu vực tiềm năng để điều tra thêm đã được thảo luận.[7]
b. Một số công nghệ xử lý nước thải ngành y tế
- Đặc trưng nước thải bệnh viện:
Các vi sinh vật, vi khuẩn, vi rút được thải ra từ bệnh nhân có thể dẫn đến
lây lan. Các chất kháng sinh và các dược chất, kể cả các chất phóng xạ (dùng
trong chuẩn đoán và điều trị).
Các hóa chất và kim loại được thải ra trong các hoạt động của bệnh viện
(hóa chất xét nghiệm và sản phẩm, các kim loại có trong các thiết bị dụng cụ
y tế). Các chất thải giống như nước thải sinh hoạt.[9]
- Một số giải pháp công nghệ áp dụng:
+ Xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ hợp khối: Nguyên lý hợp
khối cho phép thực hiện kết hợp nhiều quá trình cơ bản xử lý nước thải đã
Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của
các cộng đồng dân cư như: khu vực đô thị, trung tâm thương mại, khu vực vui
chơi giải trí, cơ quan công sở,… Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng
thường cho thấy ở nước sinh hoạt là BOD 5, COD, Nitơ và Phốt pho. Một yếu
tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các mầm bệnh được
lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân. Vi sinh vật gây bệnh cho người
bao gồm các nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán.
Chứa thành phần hữu cơ nhiều: BOD5, COD, SS, tổng P, tổng N cao.
Nhiều vi sinh vật gây bệnh. Thành phần chất thải chứa nhiều dầu mỡ, chất tẩy
rửa.[9]
- Công nghệ xử lý nước thải:
Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tính chất khác
nhau, từ các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả những hợp chất tan
trong nước, việc xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch
nước và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái sử dụng. Việc
lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm của
các loại tạp chất có trong nước thải. Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xử lý
nước thải phụ thuộc vào:
+ Thành phần và tính chất nước thải
+ Mức độ cần thiết xử lý nước thải
+ Lưu lượng và chế độ xả thải
16
+ Đặc điểm nguồn tiếp nhận
+ Điều kiện mặt bằng và địa hình khu vực dự kiến xây dựng trạm xử lý
nước thải
+ Điều kiện địa chất thủy văn, khí hậu tại khu vực dự kiến xây dựng
+ Điều kiện cơ sở hạ tầng (cấp điện, cấp nước, giao thông)
+ Điều kiện vận hành và quản lý hệ thống xử lý nước thải
quá trình hồ. Đối với việc XLNT sinh hoạt có yêu cầu đầu ra không quá khắt
khe đối với chỉ tiêu N và P, quá trình xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính là quá
trình xử lý sinh học thường được ứng dụng nhất.[9]
2.3. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước và biện pháp xử lý ở Việt Nam
2.3.1. Tình trạng ô nhiễm nước ở nước ta
a. Ở thành thị và các khu sản xuất
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng
trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình
trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hóa và đô
thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với
tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu
công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất
thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây
ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô
nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp
dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH
trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học
(COD) có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l; hàm lượng chất rắn lơ lửng…
cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này
có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt
84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt
trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế
xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.[4]
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính
500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, đệt. Còn ở thành phố
18
Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện
không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt
quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD;
Oxy hòa tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.[4]
b. Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là
nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc
không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô
nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung
bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông
Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. [4]
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật,
các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi
trường nước và sức khỏe nhân dân. Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện
tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là
751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo
quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước.
Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi
trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho
môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh
vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện
thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.[4]
c. Hiện trạng ô nhiễm nước ở một số sông lớn ở nước ta
Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM, nơi có
dân cư đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm. Phần lớn
lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn
rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng
20
chung.
Ưu điểm: Công nghệ và công trình linh động, phù hợp với điều kiện từng
bệnh viện. Kinh phí đầu tư xây dựng giảm từ 3 – 10 lần so với nhập từ nước
ngoài.
Tại các bệnh viện như BV Quân Đội 108, BV Bạch Mai, BV Hai Bà
Trưng, Hà Nội (xây dựng mới), BV Việt - Tiệp, BV Nhi TP Hải Phòng, BV
Đa khoa TP Huế, BV Nhi Thụy Điển Hà Nội và BV Uông Bí, BV Nhi TP
HCM… có trạm xử lý nước thải với công nghệ xử lý sinh học hiếu khí bằng
bùn hoạt tính hoặc kết hợp xử lý bằng phương pháp hóa học, Viện Khoa học
Việt Nam nay là Viện KH & CN Quốc Gia đã xây dựng và vận hành trạm xử
lý nước thải bằng hóa học và sinh học. Hiện có khoảng 100-150 trong số 1100
bệnh viện (hay khoảng 10-15% số bệnh viện) có trạm xử lý nước thải bệnh
viện đưa vào hoạt động. [11]
c. Xử lý nước thải công nghiệp
Hiện tại ở nước ta ước tính đã có khoảng 60-70 nhà máy xử lý nước thải
tập trung tại các KCN-KCX, trong số 171 KCN-KCX đưa vào hoạt động
(tổng số có 223 KCN-KCX có quyết định thành lập).[12]
Cũng khoảng 60% số khu công nghiệp và nhiều cụm công nghiệp, nhà
máy, cơ sở sản xuất, các làng nghề chưa có trạm XLNT, có nơi đã xây dựng
trạm XLNT nhưng không hoạt động. Công nghệ XLNT thường dùng là
phương pháp bùn hoạt tính và lọc sinh học.[12]
Công nghệ XLNT công nghiệp khá đa dạng và đặc biệt có xuất xứ từ
nhiều nước. Do đó các thiết bị cũng có xuất xứ từ nhiều nguồn cung cấp. Kết
quả sẽ gây nhiều khó khăn cho việc sửa chữa, thay thế khi cần thiết.[12]
Quy chuẩn đánh giá chất lượng nước thải: Theo Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về nước thải công nghiệp (QCVN 40: 2011/BTNMT).
d. Xử lý nước thải làng nghề
Trong vòng 10 năm lại đây vấn đề môi trường làng nghề đã được nhiều
Đối với các làng nghề, đã đang áp dụng một số công nghệ khác nhau, tùy
23
thuộc lĩnh vực sản xuất và điều kiện cụ thể của địa phương. Vấn đề là với
công nghệ hóa học hay hóa lý các cơ sở có vận hành một cách thường xuyên
hay không hay vận hành có hiệu quả hay không lại là chuyện khác.[11]
2.4. Thực trạng phát sinh và xử lý nước thải ở thành phố Hạ long, tỉnh
Quảng Ninh
2.4.1. Tình hình phát sinh nước thải
Trước đây, nước thải sinh hoạt, thương mại, du lịch, dịch vụ của thành
phố Hạ Long phần lớn chưa được xử lý và thải ra sông, suối, ao, hồ… rồi đổ ra
vịnh Cửa Lục, vịnh Hạ Long. Thực hiện dự án cải tạo vệ sinh môi trường của
Đan Mạch và sự quan tâm đúng mức của thành phố, hiện nay đã giải quyết
đáng kể việc thu gom nước thải sinh hoạt và chất thải rắn tại các phường tiếp
ráp với vịnh Hạ Long. Và ở cả 2 khu vực Bãi Cháy và Hòn Gai.[16]
Một vấn đề mới nảy sinh đã ảnh hưởng tới hệ thống thoát nước thải của
thành phố. Các khu vực lấn biển xây dựng do công tác san nền và chuẩn bị kỹ
thuật chưa đồng bộ với nền hiện trạng của thành phố, do đó vô tình tạo thành
long chảo ở trong long thành phố, dẫn đến ngập úng. Ngoài ra, mỗi năm lượng
nước thải ngành than đạt đến 20.000 - 30.000m3. Nên nguy cơ ô nhiễm lưu
huỳnh là rất cao. Các bãi thải mỏ nếu không được hoàn nguyên sẽ gây ô nhiễm
môi trường nặng.[16]
2.4.2. Tình hình xử lý nước thải
Những năm gần đây, TP Hạ Long đã đầu tư và đưa vào hoạt động hai
nhà máy xử lý nước thải là Bãi Cháy và Hà Khánh do Công ty CP Môi trường
Đô thị Hạ Long quản lý. Tổng công suất hoạt động của hai nhà máy đạt trên
10.000m3/ngày đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần bảo vệ môi trường
thành phố và Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Hai nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy và Hà Khánh được đầu tư bằng
máy vẫn phải xử lý lượng nước pha lẫn như vậy, có xử lý thì cũng không thể
hiệu quả như mong muốn được. Thêm vào đó, là tình trạng xả rác của người
dân xuống cống thoát nước đã ảnh hưởng đến quá trình bơm dẫn cũng như xử
25