Quyền và nghĩa vụ của người bị hại theo Luật Tố tụng Hình sự và
phương hướng hoàn thiện
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố
tụng nói chung và người bị hại nói riêng là một trong những nội
dung quan trọng trong định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện
hệ thống pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta hiện nay. Bởi
lẽ người bị hại là người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị
xâm hại nặng nề nhất, là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong số
những người tham gia tố tụng. Vì vậy, người bị hại cần phải được
bảo vệ kịp thời, thậm chí ngay khi họ bị đe dọa gây thiệt hại. Một
trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại đó
là pháp luật TTHS. Thực tế cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau mà
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo vệ tốt và
kịp thời; trong quá trình giải quyết vụ án hình sự dường như cơ
quan có thẩm quyền chưa xem người bị hại như một bên của quá
trình tố tụng để có sự quan tâm cần thiết. Thực tế trên đây bắt
nguồn từ vấn đề nhận thức thế nào là người bị hại, phạm vi người
bị hại, người bị hại xuất hiện từ thời điểm nào? Họ cần được bảo vệ
như thế nào, quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng đối
với người bị hại ra sao... vẫn chưa có sự nhận thức và hành động
thống nhất, dẫn đến nhiều quy định pháp luật đặc biệt là pháp luật
TTHS đang còn bỏ ngỏ hoặc có quy định nhưng chưa đủ những
phương tiện cần thiết để bảo vệ cho người bị hại. Trong phạm vi
bài viết này chúng tôi sẽ đề cập đến các khía cạnh nêu trên của
vấn đề người bị hại.
1. Về khái niệm người bị hại
Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử
dụng thuật ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa
tài sản do tội phạm gây ra”. Pháp luật một số nước cũng có quy
định tương tự. Chẳng hạn, Điều 53 Bộ luật TTHS Liên bang Nga
quy định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về tinh
thần, thể chất hoặc tài sản. Người tiến hành điều tra, dự thẩm
viên, thẩm phán, tòa án ra quyết định công nhận là người bị hại”.
Còn khoản 1 Điều 43 Bộ luật TTHS của Tiệp khắc trước đây quy
định: “Người bị hại là người bị tội phạm gây thiệt hại về sức khỏe
hoặc tài sản, tinh thần hoặc những thiệt hại khác”. Bộ luật TTHS
Rumani cũng có quy định tương tự. Điều đó cho thấy pháp luật các
nước có sự thống nhất trong định nghĩa người bị hại: Người bị hại
là con người cụ thể; thiệt hại gây ra đó là tinh thần, thể chất, tài
sản hoặc những thiệt hại khác; những thiệt hại đó do tội phạm gây
ra. Tuy nhiên những quy định trên chưa làm rõ những vấn đề quan
trọng như: thiệt hại do tội phạm gây ra có bao hàm những thiệt hại
gián tiếp? Thiệt hại đó có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm
tội? Thiệt hại đó có phải do bất kỳ tội phạm nào gây ra? Và có xem
là người bị hại không trong trường hợp hành vi phạm tội chưa gây
thiệt hại gì cho người đó? Về vấn đề này có ý kiến cho rằng: trong
trường hợp phạm tội chưa đạt, tức là chưa gây thiệt hại gì thì
không thể công nhận một cá nhân, tổ chức là người bị hại.[2] Trong
khi đó ý kiến khác lại cho rằng không chỉ khi tội phạm đã hoàn
thành, mà cả trong trường hợp phạm tội chưa đạt, khi chưa gây ra
thiệt hại gì do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của
kẻ phạm tội, người có nguy cơ bị xâm hại cũng được gọi là người bị
hại.[3]
Về vấn đề này chúng tôi cho rằng cần căn cứ vào các loại cấu
thành tội phạm cũng như tính chất của sự thiệt hại để xác định
người bị hại. Trong khoa học luật hình sự, tội phạm có hai loại cấu
cho dù tội phạm đó chưa hoàn thành do những nguyên nhân
khách quan, ngoài ý muốn của họ.
Để hiểu rõ hơn khái niệm người bị hại, cần phân biệt với một số
khái niệm đồng nghĩa hoặc giáp ranh như: người bị hại với nạn
nhân, người bị hại với đối tượng tác động của tội phạm. Theo
chúng tôi đây là những khái niệm gần nhau nhưng không đồng
nhất với nhau.
Thứ nhất: Nạn nhân có phải là người bị hại không? Trả lời câu hỏi
này có quan điểm cho rằng người bị hại chính là nạn nhân của tội
phạm. Theo chúng tôi điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nội dung khái
niệm người bị hại có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm nạn nhân
của tội phạm. Như đã biết, hành vi phạm tội luôn gây ra hoặc đe
dọa gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được
Luật hình sự bảo vệ. Để gây ra những thiệt hại cho những quan hệ
này, hành vi phạm tội đã tác động gây thiệt hại cho một số cá
nhân, tổ chức. Trong khi đó “Nạn nhân của tội phạm là những cá
nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, gây ra những
thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích
hợp pháp khác”.[4] Như vậy, nạn nhân của tội phạm ngoài cá nhân
còn có thể là tổ chức, pháp nhân; thiệt hại của nạn nhân không chỉ
về thể chất, về tinh thần, về tài sản mà còn có thể bao hàm những
thiệt hại về các quyền và các lợi ích hợp pháp khác, thiệt hại đó có
thể bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp; hơn nữa nạn nhân chỉ
khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS mới được xem là người bị hại.
Thứ hai: Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận khách
thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động đến, gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại. Đối tượng tác động của tội phạm không
chỉ là con người mà còn bao gồm các đối tượng vật chất khác và
đây cũng là quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam thể hiện rõ
trong Điều 51 Bộ luật TTHS Việt Nam.
- Loại ý kiến thứ hai cho rằng: ngoài cá nhân là người bị hại, trong
trường hợp tổ chức, pháp nhân bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại
thì phải xem tổ chức hoặc pháp nhân đó là người bị hại. Cần phải
quan niệm khái niệm người bị hại theo nghĩa rộng của từ này. Lập
luận cho luận điểm của mình, những người theo quan điểm này
cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây ra thiệt hại
cho cá nhân, hành vi phạm tội trong thực tế còn nhắm đến để gây
thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức. Thiệt hại do hành vi phạm tội
gây ra cho pháp nhân, tổ chức là rất đa dạng, không thuần túy là
thiệt hại về tài sản. Trong thực tế, tổ chức, pháp nhân có thể bị
thiệt hại cả về vật chất lẫn thiệt hại về tinh thần, chẳng hạn một
doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị vu khống làm mất uy
tín trong kinh doanh... Về vấn đề này, tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật
TTHS Ba Lan quy định: người bị hại là người hoặc pháp nhân mà lợi
ích hợp pháp của họ bị hậu quả của tội phạm trực tiếp xâm hại
hoặc bị đe dọa. Điều 53 Bộ luật TTHS Hungary cũng có quan điểm
tương tự.
Ý kiến cho rằng người bị hại chỉ có thể là cá nhân, vậy tổ chức,
pháp nhân bị tội phạm trực tiếp xâm hại, pháp nhân, tổ chức đó sẽ
tham gia tố tụng với tư cách gì? Theo quy định của Bộ luật TTHS
Việt Nam thì trong trường hợp này pháp nhân, tổ chức sẽ tham gia
tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu.
Chúng tôi cho rằng quy định như vậy là chưa thật sự hợp lý, bởi lẽ:
- Thứ nhất: Đối với các tổ chức, pháp nhân mà tài sản thuộc sở hữu
nhà nước khi bị tội phạm gây thiệt hại tổ chức, pháp nhân đó
không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài
đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
Từ những lập luận trên chúng tôi đề xuất khái niệm về người bị hại
như sau:
“Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.
Khái niệm này bao hàm các đặc điểm của người bị hại như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể, người bị hại là cá nhân, pháp nhân, cơ quan
nhà nước hoặc tổ chức khác;
- Thứ hai, thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể
chất, thiệt hại về tinh thần, thiệt hại về vật chất. Tuy nhiên, cần
lưu ý là hậu quả của sự thiệt hại không phải là điều kiện bắt buộc
trong tất cả các trường hợp.
- Thứ ba, thiệt hại của người bị hại phải là đối tượng tác động của
tội phạm, tức là phải có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm
tội với hậu quả gây ra cho người bị hại. Đây là điều kiện quan
trọng để phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự hay các
đương sự khác trong vụ án hình sự.
- Thứ tư, người bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là
người bị hại khi và chỉ khi được cơ quan tiến hành tố tụng công
nhận.
2. Thực trạng và một số kiến nghị góp phần đảm bảo quyền của
người bị hại
Như đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó
xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản
của người bị hại, đó có thể là những thiệt hại vô cùng lớn mà người
bị hại phải gánh chịu, vì vậy Nhà nước cần phải có biện pháp cụ
thể để bảo vệ người bị hại, khôi phục lại trạng thái ban đầu hoặc
kịp thời khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra đối với họ. Bên
diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp này được tham
gia tố tụng nhưng không được thực hiện các quyền của người bị
hại. Tuy nhiên, theo tinh thần của quy định tại Điều 59 Bộ luật
TTHS thì người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại được tham gia tố
tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại. Nội dung các
quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền
quy định cho người bị hại (Điều 51). Vì vậy, thực tế gặp trường hợp
này cơ quan tiến hành tố tụng thường cho phép đại diện hợp pháp
của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất sử dụng các quyền của người bị hại như
tinh thần của khoản 5 Điều 51 Bộ luật TTHS. Để khắc phục bất cập
này theo chúng tôi cần thiết phải bổ sung nội dung này vào Điều
51 Bộ luật TTHS.
- Thứ hai, Bộ luật TTHS chỉ quy định trường hợp người bị hại chết
mà chưa quy định trường hợp người bị hại mất tích. Vậy trường
hợp người bị hại được xác định là mất tích thì vấn đề người đại
diện hợp pháp của họ được quy định và giải quyết như thế nào? Họ
có được phép tham gia tố tụng và được thực hiện các quyền của
người bị hại không? Thực tiễn giải quyết vụ án cho thấy cơ quan
tiến hành tố tụng giải quyết không thống nhất với nhau. Vì vậy,
theo chúng tôi Bộ luật TTHS cần bổ sung trường hợp trên theo
hướng thừa nhận người đại diện hợp pháp của người bị hại mất
tích được tham gia tố tụng và được thực hiện các quyền của người
bị hại.
- Thứ ba, trong hai trường hợp nêu trên cơ quan tiến hành tố tụng
không xác định được ai là người đại diện hợp pháp, hoặc người bị
hại thực tế cũng không còn ai là người đại diện hợp pháp thì giải
quyết như thế nào? Người thân của người bị hại có được tham gia
cho bố mình. Trong trường hợp này mặc dù vẫn có ý kiến khác
nhau nhưng theo chúng tôi cần xác định họ đều là những người đại
diện hợp pháp của người bị hại và họ có quyền và nghĩa vụ tham
gia tố tụng như nhau. Tuy nhiên, khi tham tố tụng Tòa án cần yêu
cầu những người có cùng quyền lợi cử một người tham gia, nhưng
Tòa án cần quyết định riêng đối với từng người, những người không
tham gia tố tụng phải làm thủ tục ủy quyền cho người tham gia tố
tụng.
* Vấn đề liên quan đến việc quy định và thực hiện các quyền của
người bị hại:
- Thứ nhất, phạm vi thực hiện quyền kháng cáo của người bị hại.
Tại điểm e khoản 2 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định: người bị hại có
quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi
thường cũng như về phần hình phạt đối với bị cáo. Như vậy, quy
định này chỉ cho phép người bị hại kháng cáo trong phạm vi phần
bồi thường và phần hình phạt, những phần khác trong bản án như:
phần dân sự cũng như vấn đề liên quan đến tội danh, đến khung
hình phạt... nếu không đồng tình với bản án và quyết định của Tòa
án thì người bị hại không có quyền kháng cáo. Trong khi đó tại
Điều 231 Bộ luật TTHS lại quy định: Người bị hại và người đại diện
hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án và quyết định của
Tòa án. Như vậy theo quy định này thì người bị hại có quyền kháng
cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Điều luật không thể
hiện bất cứ sự giới hạn nào như tinh thần của Điều 51 Bộ luật
TTHS. Như vậy phải chăng nội dung hai điều luật lại mâu thuẫn với
nhau và khi gặp trường hợp trên Tòa án sẽ giải quyết như thế nào?
Cho đến nay chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền
hướng dẫn áp dụng hai điều luật trên, vì vậy mỗi nơi áp theo cách
lừa dối hoặc có những thủ đoạn khác... làm cho người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ không thể tham gia tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình, không thể có mặt để thực hiện việc
khai báo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và vô hình
chung họ lại phạm vào tội từ chối khai báo theo Điều 308 BLHS. Để
khắc phục tình trạng trên, bên cạnh quy định về bảo vệ người làm
chứng, cũng cần bổ sung quy định về bảo vệ người bị hại khi người
bị hại yêu cầu và cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở cho rằng
người bị hại bị đe dọa.
+ Tại khoản 4 Điều 51 Bộ luật TTHS quy định nghĩa vụ khai báo
của người bị hại và nếu người bị hại không khai báo mà không có
lý do chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều
308 BLHS. Theo quan sát của chúng tôi, cho đến nay chưa có
người bị hại nào bị truy cứu trách nhiệm về tội “từ chối khai báo”
theo Điều 308 BLHS; chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm
quyền về trường hợp từ chối khai báo có lý do chính đáng và cũng
chính vì vậy có nhiều ý kiến cho rằng quy định này là không thực
tế. Mặt khác, đã là người bị hại lại còn bị truy cứu trách nhiệm hình
sự chỉ vì họ từ chối khai báo, trong khi đó bị can, bị cáo là người bị
buộc tội từ chối khai báo lại không phải chịu trách nhiệm gì[9] như
vậy liệu có công bằng? Chúng tôi cho rằng quyền công dân bao
giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ công dân, việc khai báo của người bị
hại sẽ góp phần tìm ra sự thật của vụ án vì vậy khó có thể loại bỏ
quy định này. Tuy nhiên, làm thế nào để một tội danh được quy
định có phải tính khả thi? Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự
người bị hại nào về tội “từ chối khai báo” là do chúng ta chưa có
hướng dẫn cụ thể thế nào là “không có lý do chính đáng” làm căn
cứ áp dụng và trong thực tế gặp trường hợp này cơ quan có thẩm
của người bị hại. Thực tế cho thấy mặc dù bị thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra nhưng người bị hại lại không muốn đưa ra xử lý vì
như vậy sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, tương lai của họ, cũng
có trường hợp giữa người bị hại và người gây thiệt hại có những
mối quan hệ đặc biệt. Điều 51 và Điều 105 Bộ luật TTHS đã ghi
nhận yêu cầu của người bị hại. Quá trình áp dụng cho thấy chế
định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đã phát huy hiệu
quả, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại được bảo vệ tốt
hơn.
Tuy nhiên so với yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị hại, chế định này cũng đã bộc lộ một số bất cập. Chẳng
hạn: Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật TTHS, trong trường
hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại
Điều 105 Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp
của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Đây là một nội dung đã
được quy định từ những năm 1988, qua các lần sửa đổi, bổ sung,
Bộ luật TTHS vẫn giữ nguyên quy định này. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị
hại trình bày lời buộc tội bị cáo tại phiên tòa như thế nào. Trường
hợp nếu người bị hại trình bày lời buộc tội thì kiểm sát viên tham
gia phiên tòa có trình bày lời buộc tội nữa không? Lời buộc tội của
người bị hại có giá trị như thế nào? Sự có mặt của người bị hại
trong trường hợp này có bắt buộc như đối với kiểm sát viên không?
Thực tiễn xét xử cho thấy mọi việc đều do kiểm sát viên thực hiện,
còn người bị hại trong trường hợp này cũng không có gì đặc biệt so
với người bị hại trong các vụ án khác. Hơn nữa, bản thân quy định
này cũng chưa thật đầy đủ và phù hợp, chẳng hạn trong giai đoạn
trước khi mở phiên tòa thì người bị hại có các quyền hạn cụ thể
người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày.
Trong trường hợp này người bị hại, đại diện hợp pháp của họ bắt
buộc phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên
tòa, kiểm sát viên không bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa.
Tất cả những sửa đổi trên đây nếu được chấp nhận sẽ có thể đảm
bảo chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại đi vào
thực chất, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại mới được
đảm bảo.