Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt
Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm
Theo khoa học pháp lý quốc tế hiện đại, Luật Quốc tế là hệ thống các nguyên tắc,
quy phạm pháp luật, được quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận
xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ
phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế.
Mối quan hệ giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia là vấn đề mang tính lý luận cơ
bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở từng
quốc gia. Mối quan hệ này được thể hiện ở nhiều nội dung và dưới nhiều cấp độ
khác nhau. Trên quy mô toàn cầu, mối quan hệ biện chứng qua lại giữa Luật Quốc
tế và Luật quốc gia diễn ra theo hai chiều hướng: Luật quốc gia ảnh hưởng quyết
định đến sự phát triển, quá trình xây dựng và thực hiện Luật Quốc tế; Luật Quốc tế
thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật quốc gia. Đối với
từng quốc gia, sự tác động qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia tùy thuộc vào
mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia đó.
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế, ảnh
hưởng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia của Việt Nam là tương đối rõ nét.
Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, em xin được chọn đề tài:
Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của
Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm đấu tranh phòng chống tội phạm
Để có cách sử dụng chính xác thuật ngữ “đấu tranh phòng, chống tội phạm” đảm
bảo tính khoa học và toàn diện, cần phân tích nội hàm của các thuật ngữ này qua
các từ của thuật ngữ. “Đấu tranh” là từ Hán Việt, có nghĩa tương đương với
- Các hiệp định song phương và đa phương khác về tương trợ tư pháp, dẫn độ tội
phạm…
3. Luật Quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia
Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ phải tận tâm thiện chí thực hiện
các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể hiện thông qua nhiều
hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy
phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa mang tính
đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia. Chính
vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật Quốc tế thể hiện thành tựu mới
của khóa học pháp lý dần dần sẽ được truyền tải vào trong các văn bản pháp luật
quốc gia. Những thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của pháp luật
quốc gia, đảm bảo cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung,
vừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với
yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định của
pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể là: “Trong trường hợp
việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn
bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan các ngành
hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung,
sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật đó” (khoản 6 điều 11)
Điều ước quốc tế được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết với danh nghĩa
Nhà nước, Chính phủ hoặc cấp ngành. Do vậy, khi một điều ước quốc tế được phía
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì có nghĩa là Nhà nước, Chính phủ hoặc ngành
liên quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế đó bằng cách nội luật hóa hoặc
quy chiếu trực tiếp, có nghĩa là nó sẽ nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, khi đó,
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh phải tuân
theo. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy
định những vấn đề mà pháp luật trong nước chưa điều chỉnh thì nó có thể trở thành
- Hình sự hóa những hành vi liên quan đến tội phạm buôn bán người: phù hợp với
quy định tại Điều 5 Nghị định thư về chống buôn bán người, pháp luật Việt Nam đã
quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội có liên quan đến tội buôn bán
người và những hành vi phạm tội đó đều chịu những mức xử lý nghiêm khắc. Liên
quan đến hành vi phạm tội buôn bán người được quy định tại Điều 119, 120, Điều
20 tội đồng phạm, Điều 254, 255, 256, 273, 274, 275 BLHS; Điều 3 Luật phòng
chống buôn bán người; Nghị định 68/2002/CP ngày 10/07/2002 quy định chi tiết thi
hành một số điều luật của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có nhiều
điều khoản liên quan đến phòng chống buôn bán người như: điều 2, 18, 21, 35, 50,
58.
- Thẩm quyền điều tra, quyền tài phán ngoài phạm vi lãnh thổ: pháp luật Việt Nam
đã cụ thể hóa các quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ
chức xuyên quốc gia tại Điều 5, Điều 6 BLHS. Theo như quy định này thì Việt Nam
cũng có thể có thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ đối với các tội phạm được thực
hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp như người bị hại là công dân
Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hành vi phạm tội có
tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để thực hiện một tội phạm
nghiêm trọng tại Việt Nam hoặc hành vi tham gia rửa tiền hay rửa tiền chưa đạt
được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để sẽ rửa tiền tại Việt Nam. Quyền
tài phán ngoài lãnh thổ được quy định rất rõ trong các Hiệp định song phương hay
đa phương mà Việt Nam ký kết với các nước khác trong từng lĩnh vực cụ thể.
- Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp: Nghị định thư về chống buôn bán người
không đề cập vấn đề dẫn độ tội phạm buôn bán người, nhưng tại khoản 1, khoản 3
Điều 16 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về
dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp
dẫn độ tội phạm theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo
nguyên tắc có đi có lại (quy định cụ thể trong chương 4 Luật tương trợ tư pháp và
trong điều 343 BLTTHS). Các quy định về dẫn độ trong pháp luật Việt Nam nói
định, Quyết định, Chỉ thị quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí
công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở,
trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý
trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng;
vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng; trả lương qua tài
khoản đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách...
- Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng và Ủy ban Kiểm tra Trung
ương đã xây dựng, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy chế phối hợp
giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống
tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có liên quan
đến PCTN (Quyết định số 264-QĐ/TW ngày 12/10/2009);
- Thực hiện Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 của Ủy ban
Thường Vụ Quốc hội, các cơ quan: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng
chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Toà án
nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về việc phối
hợp trong công tác phòng chống tham nhũng (Quy chế số 01/QCPH ngày
15/01/2009);
- Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng
chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Quyết định số
137/2009/QĐ-TTg); Ban hành Quyết định về tổ chức, tên gọi, nhiệm vụ và quy chế
hoạt động của Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng
(Quyết định số 138/2009/QĐ-TTg ngày 09/12/2009)
- Các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhất là các lĩnh vực nhạy
cảm, dễ xảy ra tham nhũng cũng đã được rà soát, sửa đổì, bổ sung, ban hành mới
theo thẩm quyền.
Về việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Theo Điều 8 Công
ước, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ “trong khuôn khổ hệ thống pháp
luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự (cho công chức) để
Nam chưa phải là thành viên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy nhanh
tiến độ nghiên cứu, đề xuất Nhà nước gia nhập các điều ước quốc tế này, nhất là
Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin. Việc Việt Nam tham gia công ước quốc
tế này trong thời điểm hiện nay là cần thiết.
Tuy đã gia nhập hoặc ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương về
phòng, chống khủng bố hoặc liên quan đến phòng, chống khủng bố nhưng cho đến
nay ở Việt Nam vẫn chưa tạo lập được cơ chế tổ chức thực hiện các điều ước quốc
tế đó. Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống khủng bố, cần xây dựng
một văn bản quy phạm pháp luật phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn
bản pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố; đặc biệt là các điều ước của Liên
hợp quốc về phòng, chống khủng bố. Nếu không ban hành văn bản hướng dẫn thi
hành các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố thì các điều ước đó chỉ tồn tại
mang tính hình thức.
Luật phòng, chống khủng bố cần tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, phải bảo đảm yêu cầu
nội luật hoá các quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng
bố mà Việt Nam đã là thành viên, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp tục tham gia các
điều ước quốc tế còn lại về chống khủng bố trong thời gian tới; đồng thời, tiếp thu
có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống
khủng bố của các quốc gia trên thế giới. Đây là những yêu cầu rất đáng chú ý trong
quá trình xây dựng dự án Luật để đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam
với pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế
về phòng, chống khủng bố cũng phải được tính toán, cân nhắc có chọn lọc, theo
hướng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn chính trị, kinh tế, pháp
luật Việt Nam, tránh rập khuôn, máy móc...
III. Một số hạn chế ngăn cản sự tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện
các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm
Thứ nhất, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký kết còn nhiều hạn chế,
chưa phù hợp với pháp luật quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc chưa đúng