Những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định về trách nhiệm dân sự trong Bộ luật Dân sự 2005 - Pdf 36

Hãy chỉ ra những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định về
trách nhiệm dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005
Khi một quan hệ nghĩa vụ dân sự được xác lập, mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ
dân sự của các chủ thể được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước. Theo quan hệ nghĩa vụ được xác lập, người có nghĩa vụ phải thực hiện đúng,
đầy đủ nghĩa vụ trước người có quyền. Sẽ có hai khả năng xảy ra:
• Khả năng thứ nhất: Người có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ dân sự
trước người có quyền (theo các nội dung thực hiện nghĩa vụ được các bên thỏa
thuận hoặc pháp luật quy định). Trong trường hợp này, nghĩa vụ dân sự được coi là
hoàn

thành

và

là

căn

cứ

chấm

dứt

nghĩa

vụ

dân


pháp luật dân sự: “TNDS (theo nghĩa rộng) là các biện pháp có tính cưỡng chế được
áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm.
TNDS (theo nghĩa hẹp) là các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại
phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình
(trong đó có bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng). Dù
hiểu theo cách nào thì có thể thấy TNDS mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, TNDS mang đầy đủ đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung. Nó là
hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp
dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật và được quy định cụ thể
trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việc áp dụng TNDS được đảm bảo thực hiện
bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước.


Thứ hai, căn cứ để áp dụng TNDS là phải có hành vi vi phạm pháp luật. Đó có thể
là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật hay vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết và có
hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, TNDS không phải là một sự trừng phạt mà là một biện pháp buộc người có
hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi
đó gây ra. TNDS khác TNHS ở chỗ: TNHS tập trung sự chú ý vào hành vi; còn
TNDS tập trung sự chú ý vào thiệt hại hay hậu quả của hành vi. Do đó, trong
TNDS, dù có hành vi vi phạm nhưng không có sự thiệt hại thì không dẫn tới nghĩa
vụ bồi thường.
Thứ tư, khi TNDS được áp dụng, bao giờ nó cũng mang lại những hậu quả bất lợi
đối với bên vi phạm, đó là những hậu quả bất lợi về mặt tài sản đối với bên vi
phạm. Bởi, khi có hành vi vi phạm pháp luật, thiệt hại gây ra thường là những thiệt
hại về tài sản. Ngay cả khi thiệt hại gây ra là thiệt hại về tinh thần thì để bù đắp cho
những tổn thất tinh thần đó, cũng chỉ có thể được thực hiện việc bù đắp tài sản.
2. Phân loại TNDS

khả kháng, do hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi
vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
• Về vấn đề lãi suất đối với việc chậm thanh toán cũng tồn tại một số khác biệt.
Theo khoản 5 Điều 474 BLDS 2005, bên vay phải trả lãi tính trên nợ gốc và lãi nợ
quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời
hạn vay tại thời điểm trả nợ. Tuy nhiên tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 lại có
quy định bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán phải trả lãi trên số tiền chậm trả


theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương
ứng với thời gian chậm trả.
Hướng hoàn thiện:
Một là: Thống nhất các văn bản pháp luật Việt Nam về hợp đồng.
BLDS 2005 được coi như một “bộ luật gốc” điều chỉnh những quan hệ cơ bản và
thiết lập những quy tắc chung nhất và các luật chuyên ngành khác phải được xây
dựng trên nền tảng đó. Tuy nhiên, giữa BLDS 2005 và Luật Thương mại 2005 vẫn
tồn tại nhiều điểm chưa tương đồng. Chính vì vậy, cần phải có sự sửa đổi, bổ sung,
thống nhất quy định giữa các luật chuyên ngành và BLDS. Tuy rằng về nguyên tắc,
khi có sự khác biệt giữa luật chuyên ngành và luật chung thì ưu tiên áp dụng luật
chuyên ngành, nhưng cần nhớ, các quy định của luật chuyên ngành là để quy định
rõ hơn về một vấn đề chứ không thể có cách tiếp cận trái ngược so với luật chung,
phải tuân theo những nguyên tắc ban đầu của luật chung.
Hai là: Cần hoàn thiện các quy định của BLDS 2005 về các trường hợp miễn
TNDS.
Như đã nói ở trên, các căn cứ miễn trừ TNDS trong hợp đồng được quy định ở
BLDS 2005 và Luật Thương mại 2005 vẫn có sự khác nhau. Vì vậy, cần có sự thống
nhất giữa các văn bản pháp luật về các trường hợp được coi là miễn TNDS.
Mặt khác, một trong các căn cứ miễn TNDS là sự kiện bất khả kháng là trường hợp
hay xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, có thể thấy những quy định về sự kiện bất khả

người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; còn nếu người có
nghĩa vụ vi phạm trả tiển chỉ phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều
305 thì người có quyền chỉ được yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ,
đúng nghĩa vụ và được đền bù thiệt hại theo thỏa thuận đã có trong hợp đồng hoặc
được hưởng lãi trên số tiền chậm được nhận theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà


nước công bố, mà không có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt
hại. Sự thể hiện không rõ ràng này có thể sẽ tạo ra tranh chấp giữa các bên và gây
khó khăn cho Tòa án vì không có để cơ sở pháp lý để giải quyết dẫn đến những cách
vận dụng pháp luật khác nhau tại các cơ quan Tòa án khác nhau.
Hướng hoàn thiện: Cần quy định rõ ràng hơn về TNDS do chậm thực hiện nghĩa vụ
tại khoản 2 Điều 305 BLDS.
Theo phần phân tích trên, nếu việc chậm trả tiền chỉ dẫn đến nghĩa vụ phải trả lãi
theo lãi suất cơ bản thì vô hình chung đã tạo thuận lợi cho người chậm thực hiện
nghĩa vụ. Vì vậy, em nghĩ nên quy định lại theo hướng: nếu chậm thực hiện nghĩa
vụ thanh toán thì phải trả lãi suất quá hạn theo hợp đồng đã ký kết.
Để tránh sự không rõ ràng cũng như khắc phục các điểm chưa sáng tỏ của điều 305,
thì trách nhiệm dân sự trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ cần được quy
định lại theo hướng bên chậm thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại thì phải bồi thường
thiệt hại. Tiền lãi không cần quy định riêng trong một khoản mà nên coi là thiệt hại
nói chung. Việc sửa đổi theo hướng này đồng thời cũng đòi hỏi BLDS phải có quy
định rõ ràng, cụ thể và hợp lý hơn về cách tính thiệt hại.
Thứ ba, quy định về lãi nợ quá hạn tại khoản 5 Điều 474 còn gây tranh cãi.
Khoản 5 Điều 474 quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay
không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá
hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, tương ứng với thời hạn
vay tại thời điểm trả nợ”. Vậy câu hỏi đặt ra là tính lãi nợ quá hạn căn cứ vào đâu?
tính trên nợ gốc hay tính trên số tiền phải trả (bao gồm nợ gốc và lãi trong thời
hạn)? Hiện nay vẫn tồn tại hai quan điểm trái chiều nhau về vấn đề này, một bên

kinh tế trước mắt và lâu dài”? Điều này gây khó khăn cho cơ quan xét xử trong việc


xác định khả năng kinh tế của đương sự. Làm thế nào xác định “khả năng kinh tế”
hay “khả năng kinh tế” được đo lường bằng gì? (bằng tài sản hiện có của đương sự?
Bằng thu nhập hàng tháng của đương sự? Hay tài sản mà đương sự sắp được hưởng
trong tương lai qua con đường thừa kế, tặng cho, …?)
Ba là: pháp luật hiện hành chưa có điều khoản giải quyết xung đột trong áp dụng
khoản 2 và khoản 3 Điều 605. Theo quy định tại khoản 3, thì việc yêu cầu Tòa án
thay đổi mức bồi thường được hiểu là áp dụng trong mọi trường hợp (bao gồm cả
lỗi cố ý và lỗi vô ý). Vậy nếu trường hợp: trong hoạt động xét xử tại thời điểm đưa
ra phán quyết, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 605 để quyết định giảm mức bồi
thường, nhưng sau đó, có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại
mà bên bị thiệt hại có yêu cầu người gây thiệt hại thay đổi mức bồi thường theo
khoản 3 thì có được Tòa án chấp nhận hay không? Pháp luật hiện hành chưa có điểu
khoản quy định về vấn đề này.
Bốn là: phạm vi áp dụng việc giảm mức bồi thường còn chưa hợp lý. Tại khoản 2
Điều 605 giới hạn chỉ giảm mức bồi thường cho chính người gây thiệt hại, nếu có
lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
mình. Vậy trường hợp người gây thiệt hại do lỗi vô ý mà chủ thể khác phải bồi
thường nhưng khả năng kinh tế của người phải bồi thường không đủ để thực hiện
việc bồi thường thì không được áp dụng điểu khoản này? Mặc dù trên thực tế, nếu
xét từ phía người phải bồi thường, các hoàn cảnh nêu trên là ít nghiêm trọng cho xã
hội hơn hoàn cảnh của người gây thiệt hại do lỗi vô ý.

Hướng hoàn thiện:
Khi một người gây thiệt hại do lỗi vô ý, pháp luật đã cho phép giảm mức bồi
thường, nếu hoàn cảnh kinh tế của họ gặp khó khăn, thì trong trường hợp một người
phải chịu trách nhiệm bồi thường do hành vi gây thiệt hại của người khác (hay do
tài sản gây ra) và không có lỗi cũng cần được đối xử tương tự. Có nghĩa là người


khả năng lao động và tiền trợ cấp “cho đến khi chết” theo khoản 2 Điều 612 còn
chưa có tính khả thi.
Quy định như trên là chưa tính đến khả năng thực tế của người gây thiệt hại.
Mặt khác, quy định của pháp luật vô tình dẫn đến một số hệ lụy tiêu cực trong xã
hội. Thực tế cho thấy có trường hợp người gây thiệt hại có ý thức để hậu quả chết
người xảy ra chứ không muốn người bị thiệt hại còn sống mà mất khả năng lao
động, đặc biệt trong các vụ tai nạn giao thông. Bởi nếu người bị thiệt hại chết, thì
chỉ phải bồi thường “một lần” còn nếu họ còn sống mà mất hoàn toàn khả năng lao
động thì phải bồi thường “suốt đời”.
Hướng hoàn thiện:
Để hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do
tính mạng, sức khỏe bị xâm hại, cần bổ sung trách nhiệm bồi thường đối với những
người mà người mất hoàn toàn khả năng lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và
thời hạn hưởng bồi thường nên giới hạn một khoảng thời gian nhất định. Có như
vây mới bảo đảm được khả năng bồi thường của người gây thiệt hại.
• Thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
Khoản 2 Điều 609, khoản 2 Điều 610, khoản 2 Điều 611 BLDS 2005 quy định về
mức tiền tối đa phải bồi thường khi gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng là không
hợp lí, bởi:
¬ Sức khỏe, tính mạng của mỗi người là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
¬ Thực tiễn xét xử một số vụ việc liên quan đến sức khỏe, tính mạng, danh dự,
nhân phẩm của một số người khi pháp luật quy định mức tối đa không phù hợp với


thiệt hại thực tế xảy ra, nhất là trong trường hợp ảnh hưởng đến cả cuộc đời họ như
bị vô sinh, bị hiếp dâm, phải cắt bỏ tay, chân…, dù sức khỏe được phục hồi, nhưng
tổn thất về tinh thần, ảnh hưởng cuộc sống của họ kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt
đời.
¬ Việc pháp luật ấn định mức tối đa như vậy trong một số trường hợp còn gây hệ

thể khác bị xâm phạm. Bởi trên thực tế, có rất nhiều trường hợp quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm, tuy nhiên thiệt hại không xảy ra hoặc
chưa xác định được ngay, nhiều trường hợp người bị thiệt hại không biết mình đang
bị thiệt hại nên không yêu cầu bồi thường, đến khi nhận biết được thì đã hết thời
hạn khởi kiện, như vậy rất thiệt thòi cho chủ thể bị thiệt hại.
Thứ tư, điểm hạn chế trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
Một là: những quy định trong BLDS 2005 chưa phân biệt được trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách nhiệm bồi thường trong
trường hợp tài sản gây ra thiệt hại. Điểm riêng biệt của hai trường hợp này là một
bên có lỗi do nguyên nhân gây ra thiệt hại xuất phát từ hành vi của con người và
một bên không thể xác định được lỗi do nguyên nhân gây ra xuất phát từ tài sản –
vật vô tri, vô giác. Các quy định của các Điều 623, 625, 62 và 627 đều chưa tách
biệt được sự khác nhau giữa vai trò của người chịu trách nhiệm quản lý, trông coi,
sử dụng tài sản với chủ sở hữu của tài sản, do vậy không xác định thống nhất
nguyên tắc khi nào thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về từng chủ thể cụ
thể.
Hai là: chưa có sự thống nhất về nội dung trong các trường hợp bồi thường thiệt hại
do các tài sản cụ thể gây ra; một số quy định mang tính liệt kê, cứng nhắc; cụ thể:


(1) Không rõ vấn đề có lỗi hay không có lỗi của chủ sở hữu khi cây cối, súc vật, nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong khi Điều 623 quy định cụ thể trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm gây ra không cần yếu tố lỗi. (2) Tại
điều 626, luật quy định chủ sở hữu chỉ phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp
cây cối đổ, gẫy gây ra; vậy nếu rễ cây đâm làm nứt sân, cành cây nặng làm nứt
tường, hay quả rơi làm bị thương người khác thì không phải bồi thường thiệt hại???
Ba là: chưa xác định rõ trách nhiệm bồi thường của các cơ quan quản lý công trình
công cộng, tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (công trình xây dựng, cây
xanh, cầu đường, đường dây điện thoại, đường dây tải điện, hố ga, tường bao, rào
chắn, gia súc, thú dữ…). Đây là nguyên nhân khiến nhiều vụ việc liên quan đến tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status