1
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TẾ TRUNG ƯƠNG
____________________*____________________
NGUYỄN THỊ MINH HIẾU
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG
TRONG THỰC HÀNH XỬ TRÍ NHIỄM KHUẨN HÔ
HẨP CẤP TÍNH Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI
TẠI HUYỆN BA VÌ VÀ ĐAN PHƯỢNG, HÀ NỘI
Chuyên ngành:
Mã số:
Y tế Công cộng
62.72.76.01 ’
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Hoàng Long
2. PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo và đồng nghiệp của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã luôn tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bố mẹ, chồng và hai con tôi đã luôn là nguồn động viên và hỗ trợ tinh thần cho tôi trong
suốt những năm học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án.
rrr r • 2 1 ^__ r__
Tác giả luận án
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN TÀI LIỆU
1
THAM KHẢO
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CBYT
Cán bộ y tế
CSHQ
Chỉ số hiệu quả
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
Trang
2.2
STT
dung bảng
Trang
3.2
Nội
6
3.3
3.4
hình
3.1
3.2
STT
Trang
Nội dung
tế Thế giới một lần nữa lại khởi xướng Kế hoạch Toàn cầu Phòng và Kiểm soát Viêm
phổi (GAPP).
3.7
Chương trình Phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Quốc gia Việt
Nam, trong 10 năm, đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp và tập trung vào hệ thống
y tế công [7]. Sau nhiều năm triển khai, tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
đã giảm, nhưng tần suất mắc bệnh còn cao. Ước tính mỗi năm, trung bình mỗi trẻ
mắc khoảng từ 4 đến 6 lượt nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính các thể [14]. Trong khi đó
việc dùng thuốc điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thiếu an toàn xảy ra khá phổ
biến. Điều tra tình hình dùng thuốc cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho thấy có
tới 60,1% sử dụng kháng sinh không theo chỉ định và 87,5% dùng không đủ liều 5
ngày [17].
3.8
Hầu hết bệnh tật đều có thể phòng tránh được bằng kiến thức và hành vi
8
đúng. Mặc dù có nhiều cách can thiệp, Thông tin -Giáo dục- Truyền thông cung cấp
kiến thức, kỹ năng chăm sóc trẻ nhiễm khuấn hô hấp cấp tính luôn là biện pháp hàng
đầu được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo thực hiện [105], [126]. Tại nhiều nước,
phạm vi, đối tượng Thông tin -Giáo dục- Truyền thông không chỉ gói gọn trong hệ
thống y tế mà đã mở rộng ra các đối tượng khác như người chăm sóc trẻ đe tiếp cận
dịch vụ y tế kịp thời, biết cách chăm sóc trẻ và người bán thuốc đe bán thuốc an toàn
hợp lý [136].
9
3.11
• Trên thế giới
3.12 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) chiếm khoảng một nửa số ca
mắc bệnh của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới với tần suất mắc trung bình từ 4 đến 9
lần/trẻ/năm [142]. Các nước càng chậm phát triển, có mức thu nhập và trình độ học
vấn của người dân càng thấp thì tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHCT càng cao [103].
Tần suất NKHHCT của trẻ dưới 1 tuổi ở Mỹ là 4,5 lần/trẻ/năm. Trong khi đó tại
Guatemala là 8,3 lần/trẻ/năm hay ở Nigeria là 7,5 lần/trẻ/năm [135].
3.13 Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy số trẻ đi khám và nhập viện vì
NKHHCT cũng chiếm tỷ lệ cao. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cho
thấy tỷ lệ trẻ đi khám do NKHHCT chiếm hơn 1/3 tổng số lượt khám cho trẻ dưới 5
tuổi và trên 30% trẻ phải nhập viện nguyên nhân do NKHHCT [90], [102].
3.14 Không chỉ chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao, NKHHCT còn là nguyên nhân
chủ yếu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi tại bệnh viện. Cứ 2 đến 3 trẻ tử vong thì có 1 trẻ
tử vong do NKHHCT. Theo TCYTTG, viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu (chiếm
19%), cao hơn cả tiêu chảy (18%), sốt rét (8%) hoặc nhiễm khuẩn sơ sinh (10%) gây
tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi [103].
3.15
Có tới 90% ca tử vong do NKHHCT ở các nước đang phát triển [90].
Tại Bangladesh, năm 2002, mỗi ngày có gần 400 trẻ tử vong do NKHHCT [67]. Năm
giám Thống kê Y tế năm 2009, nhóm bệnh NKHHCT đứng đầu trong các bệnh có tỷ
lệ mắc cao nhất tại bệnh viện [6]. Theo số liệu của Chương trình Phòng chống
NKHHCT Quốc gia, cứ 100 trẻ đến khám tại cơ ở y tế lại có 26 trẻ bị NKHHCT.
Hiện nay, với tần suất mắc khoảng 5 lần/trẻ/năm, ước tính chỉ có khoảng 0,7% số lần
trẻ mắc NKHHCT được quản lý tại cơ sở y tế [13]. Trong số trẻ trong diện quản lý
của Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia có tới 3% trẻ đến cơ sở y tế khi
đã quá nặng [12].
3.21 Trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em, viêm phổi chiếm tỷ lệ cao
nhất (31,3%), cao gấp 6 lần so với tiêu chảy (5,1%). Trong số tử vong do viêm phổi
có tới 48% trẻ đã không được chăm sóc y tế trước khi tử vong [18]. Số liệu từ bệnh
viện các tuyến cho thấy tử vong do NKHHCT chiếm 40- 60% tử vong chung ở trẻ
dưới 5 tuổi, trong đó chủ yếu tử vong do viêm phổi [16]. Nghiên cứu tình hình tử
vong cho thấy, tỷ lệ tử vong trước 24 giờ do NKHHCT đặc biệt cao trong nhóm trẻ
sơ sinh (92,7%) và nhóm trẻ từ 1 đến 12 tháng tuổi (72%) [47].
1.2.
1.2.1.
Thực trạng chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ
Vai trò của người mẹ trong chăm sóc trẻ
3.22 Một trong những vai trò quan trọng của phụ nữ trong gia đình là chăm
sóc và nuôi dạy con cái [42]. Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia châu Á khác,
việc chăm sóc con cái chủ yếu do người mẹ đảm trách [1], [58]. Công việc chăm sóc
1
con cái của người mẹ bao gồm việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cả lúc trẻ khỏe
rằng họ đã điều trị sớm, kết quả phỏng vấn sâu cho thấy phần lớn đã chờ đợi từ 5 đến
7 ngày ke từ khi có những dấu hiệu bệnh đầu tiên. Phần lớn bà mẹ biết khó thở là dấu
hiệu NKHHCT nặng. Nhưng chỉ có một vài người biết về các triệu chứng thở nhanh
và rút lõm lồng ngực (RLLN)[112].
3.28 Nghiên cứu, năm 2001, tại Bangladesh thấy rằng hầu hết bà mẹ không
nhận biết được thở nhanh và RLLN là những chỉ báo quan trọng của bệnh viêm phoi
nặng. Đa số bà mẹ không hề coi đây là dấu hiệu bệnh nặng [116].
1
3.29 Nghiên cứu tại Nepal, năm 2004, cũng cho thấy kiến thức nhận biết dấu
hiệu cần đưa đi khám khi trẻ NKHHCT của bà mẹ còn rất kém. Không có bà mẹ nào
biết đầy đủ các dấu hiệu, 10% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu nào, khoảng một nửa
số bà mẹ chỉ biết dấu hiệu sốt (51%). Chỉ có 45,2% biết trẻ ốm nặng hơn và 42,5%
cho rằng trẻ không uống được là những dấu hiệu cần đưa đi khám [81].
3.30
• Tại Việt Nam
3.31 Mặc dù kiến thức nhận biết dấu hiệu NKHHCT của bà mẹ những năm
gần đây tỏ ra có tốt hơn. Điều tra Y tế Quốc gia năm 2002 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có
kiến thức phòng và xử trí NKHHCT (43,5%) đồng đều ở nông thôn và thành thị,
đồng thời cao hơn so với kiến thức về bệnh tiêu chảy (24,0%) và suy dinh dưỡng trẻ
em (27,4%) [2]. Năm 2008, hầu hết các bà mẹ được hỏi tại Từ Liêm-Hà Nội (chiếm
83,3%) và Tiền Hải-Thái Bình (chiếm 96,7%) đã biết ít nhất 2 dấu hiệu bệnh cần phải
đưa trẻ đi khám [44].
3.36 Cách xử trí chủ yếu của bà mẹ Nepal khi trẻ ốm là mua thuốc tự điều trị
(46,2%), đến khám tại cơ sở y tế (26,4%), điều trị bằng thuốc dân gian (8,9%), để trẻ
tự khỏi (2,7%) và đi đến thầy lang (0,6%) [125].
3.37
• Tại Việt Nam
3.38 Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng nhận thấy kỹ năng tìm kiếm dịch vụ
y tế cho trẻ NKHHCT của gia đình còn nhiều vấn đề cần được cải thiện. Năm 2000,
Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia điều tra 1231 ông bố
3.39 và 1216 bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Kết quả cho thấy chỉ có 86% bố, mẹ cho rằng
viêm phổi là một bệnh nguy hiếm cần đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế [10].
3.40 Mặc dù tự chữa bệnh không phải là hình thức tối ưu, trong nghiên cứu
năm 2003 của Bùi Đức Dương, có tới 20,9% bà mẹ nói rằng sẽ tự chữa ở nhà nếu trẻ
NKHHCT. Những cơ sở y tế bà mẹ thường tiếp cận đầu tiên là y tế tư (40,3%), trạm
y tế xã (37,3%). Lý do trẻ không được đưa đến bệnh viện là do không thuận tiện
(64,3%), không đủ tiền chi trả (14,3%) [24].
3.41 Việc thiếu hiếu biết về dấu hiệu bệnh và cách xử trí trẻ bệnh cũng góp
phần dẫn đến nguy cơ tử vong cao ở trẻ NKHHCT. Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ,
năm 2003, cho thấy trong các ca tử vong có tới 5,3% số trẻ NKHHCT được đưa đến
trạm y tế khi tình trạng bệnh đã nguy kịch, 39,2% đến khi bệnh đã nặng và đáng lưu
ý hơn là có 26,1% trẻ đã chết tại nhà [16].
3.42 Tương tự như vậy, các bà mẹ trong nghiên cứu tại Cần Thơ của Trần
Thị Trung Chiến năm 2003, có kiến thức về các dấu hiệu cần đưa trẻ đi khám ngay
[69].
3.46 Tại Guatemala, tình trạng bà mẹ tự ý dùng KS cho trẻ rất phổ biến.
Trong 324 bà mẹ được hỏi có tới 63% đã dùng KS điều trị cho trẻ bị tiêu chảy và ho
sốt [95]. Tương tự, ở Mexico năm 1999, trong số 1.659 bà mẹ được hỏi có 73% dùng
thuốc không phù hợp hoặc không đúng liều, có 66% trả lời rằng họ đã dùng KS cho
con ít hơn 5 ngày [76].
3.47
3.48
• Tại Việt Nam
Mục tiêu của Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia tại Việt
1
Nam trong giai đoạn 1998-2008 là giảm tỷ lệ mắc bệnh và sử dụng thuốc an toàn hợp
lý. Tuy nhiên việc KS được mua bán lan tràn, thiếu kiểm soát trên thị trường cùng với
thiếu kiến thức trong sử dụng thuốc của người dân đã cản trở nhiều đến chiến lược
của Chương trình[14].
3.49 Trong nghiên cứu năm 2000 của Nguyễn Đình Hường, các bà mẹ có
con dưới 5 tuổi nghĩ rằng cần có lời khuyên của CBYT khi dùng thuốc KS chỉ chiếm
36% [34]. Trong một nghiên cứu tại 4 tỉnh, 55,6% cặp vợ chồng có con dưới 5 tuổi
cho rằng KS là thuốc tốt nhất để điều trị ho sốt cho trẻ. Trong khi những loại thuốc ho
đông y điều trị triệu chứng ho an toàn và hiệu quả thì chỉ có 17,7% sử dụng cho trẻ
[10].
Lồng ghép Trẻ bệnh (IMCI) cho thấy trẻ được chăm sóc tại nhà sớm sẽ làm giảm 2/3
chi phí điều trị do bệnh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bà mẹ tại các nước đang phát trien
và đặc biệt là ở nông thôn còn thiếu kỹ năng này.
3.55 Nghiên cứu tại Nepal, năm 2006, thấy rằng 56,8% bà mẹ chăm sóc kịp
thời, 26,4% bà mẹ chăm sóc hợp lý. Tổng hợp lại chỉ có 11,3% bà mẹ có chăm sóc
vừa hợp lý và vừa kịp thời [125].
3.56 Nghiên cứu ở Ethiopia cho thấy chỉ có 58,3% cho biết họ sẽ lau khô tai
nếu trẻ bị chảy nước, mủ ở tai [110]. Trong nghiên cứu của Vasanthmala A. tại
Malaysia, có tới 68% bà mẹ gốc Malaysia và 57% bà mẹ gốc Hoa kiêng không cho
trẻ ăn rau và trái cây khi bị NKHHCT [131].
3.57
• Tại Việt Nam
3.58
Những trường hợp trẻ NKHHCT điều trị ngoại trú, bà mẹ không
những cần biết cách dùng thuốc mà còn phải biết chăm sóc tốt đe cho trẻ chóng bình
phục. Trong các biện pháp chăm sóc được hỏi trong nghiên cứu ”Đánh giá hoạt động
tuyến cơ sở năm 2004” của Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia, cho ăn
ngon hơn khi trẻ đang bị bệnh có số bà mẹ biết được cao nhất (67,4%), tiếp theo là
giữ ấm cho trẻ về mùa đông và nằm nơi thoáng mát trong mùa hè (56,8%). Chỉ có
54,6% biết cho trẻ uống nhiều nước đe bù lại lượng nước đã mất hoặc làm long đờm
cho trẻ. Có 52,0% người biết dùng thuốc ho an toàn sẵn có (như quất hấp mật ong,
hoa hồng bạch hấp đường phèn, húng chanh....). Làm thông thoáng mũi đe cho trẻ dễ
thở là biện pháp ít bà mẹ biết đến nhất (23,8%). Với những trẻ được kê đơn KS, chỉ
3.62 Một nghiên cứu tại 23 xã trong năm 1999 cho thấy trạm y tế là cơ sở y
tế được nhiều bà mẹ lựa chọn để đưa trẻ đến khám (45,7%), sau đó đến thầy thuốc tư
nhân (19,6%). Phân tích mối quan hệ giữa mức độ bệnh và việc lựa chọn dịch vụ y tế
cho thấy: trẻ bệnh nhẹ thường đi khám tại cơ sở tư nhân và bệnh nặng đi khám tại cở
sở công. Việc lựa chọn thầy thuốc tư khi bệnh không nặng thường là để tránh các thủ
tục phức tạp. Thu nhập hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến lựa chọn dịch vụ y tế. Những
gia đình có thu nhập cao chủ yếu chọn bệnh viện còn gia đình nghèo thường lựa chọn
trạm y tế [10].
3.63 Sự thuận tiện (29,0%) và gần nhà (27,1%) là những yếu tố quan trọng
nhất trong việc lựa chọn cơ sở y tế; chất lượng tốt là yếu tố đứng thứ ba. Tuy nhiên,
quan niệm của họ về chất lượng tốt chỉ là cơ sở có bác sĩ, chữa nhanh khỏi và không
phải đi mua thuốc ở cơ sở khác [10].
3.64 Các kênh thông tin đại chúng ở nước ta tiếp tục là nguồn quan trọng
cung cấp thông tin và kiến thức về NKHHCT cho các bà mẹ. Tuy nhiên, đối với
nhiều phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn, CBYT tuyến xã và hệ thống loa truyền
thanh địa phương cũng đóng vai trò rất quan trọng. Trong nghiên cứu của Đinh Ngọc
1
Sỹ có 40,6% bà mẹ biết về NKHHCT qua chương trình truyền hình, 31% từ CBYT
tuyến xã và 8,9% từ loa truyền thanh xã [53].
3.65 Quan niệm sai lầm của người sử dụng về thuốc có liên quan đến việc sử
dụng thuốc bất hợp lý. Nhiều bà mẹ tin rằng KS tiêm sẽ có tác dụng tốt hơn, mặc dù
trên thực tế, khi tiêm bệnh nhân sẽ phải chịu nhiều yếu tố nguy cơ hơn so với dùng
thuốc uống [43].
1
trong đó tại Điều 18 đã quy định trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh không phải
trả tiền tại các cơ sở y tế công lập, số lượng trẻ đến các cơ sở y tế nhà nước có chiều
hướng gia tăng trở lại. Trong nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự năm 2008,
trạm y tế xã là cơ sở y tế bà mẹ lựa chọn nhiều nhất (63,4%) để đưa trẻ NKHHCT
đến điều trị [53].
3.71 Tại nông thôn, y tế tư nhân tuy thiếu trang thiết bị và cán bộ trình độ
còn hạn chế nhưng lại có ưu điểm là thái độ phục vụ tốt, sẵn sàng cung ứng dịch vụ
ngoài giờ hành chính, thậm chí có nơi chấp nhận cho bệnh nhân nợ tiền hoặc trả bằng
hiện vật nên cũng được khá nhiều hộ gia đình ở nông thôn lựa chọn [45]. Theo
nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ, y tế tư nhân là lựa chọn thứ hai của người dân
(20,7%) để điều trị trẻ NKHHCT [53].
1.3.2.
1.3.2.1.
Thực trạng điều trị trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp của cán bộ y tế
Thăm khám, phân loại bệnh
3.72
• Trên thế giới
3.73 Hỏi tiền sử để phát hiện bệnh thường không được thực hiện đầy đủ.
Nghiên cứu của Iqbal, Pervez tại Multan năm 1997 cho thấy bác sĩ hiếm khi tìm kiếm
dấu hiệu bệnh rất nặng trong khi thăm khám bệnh nhân [100].
CBYT xã thăm khám cho trẻ bệnh. Chỉ có 77% trẻ được đánh giá RLLN, 94% được
đếm nhịp thở và 69,4% thể không viêm phổi được phân loại đúng. Kết quả phân loại
bệnh chỉ phù hợp 80,4% so với giám sát viên [13]. Một nghiên cứu tại Bắc Giang và
Hà Nam năm 2007 cũng cho thấy gần một nửa số trẻ được CBYT đánh giá và phân
loại chưa đúng thể bệnh [59].
3.79 Do nguồn lực có hạn nên Chương trình NKHHCT Quốc gia chưa thể
triển khai đào tạo nâng cao năng lực của cán bộ y tế tư vì vậy kiến thức và thực hành
của họ còn nhiều bất cập hơn so với cán bộ y tế công. Kết quả phỏng vấn 100 cán bộ
y tế tư tại Đà Nằng của Trịnh Minh Hoan năm 2002 cho thấy chỉ có 77,5% biết đến
dấu hiệu RLLN, một dấu hiệu điển hình của viêm phổi nặng [37].
Xử trí, kê đơn điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
I.3.2.2.
•
Trên thế giới
3.80 Đối với trẻ em, sử dụng thuốc không đúng, không cấn thận, có the gây
ra nhiều hậu quả đáng tiếc như sốc phản vệ, dị ứng, loạn nhịp tim....và thậm chí dẫn
đến tử vong. Sử dụng thuốc không đúng còn gây ra kháng KS gây ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và đất nước do phải tăng
2
thời gian điều trị, tăng chi phí cho y tế... [61].
3.81 KS ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hàng năm khoảng 80 triệu đơn
2
có the là tiền đề cho việc lạm dụng thuốc nếu quỹ thuốc bảo hiem y tế không được
quản lý chặt chẽ [4].
I.3.2.3.
Hướng dẫn chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại nhà
3.86
• Trên thế giới
3.87 Giúp bà mẹ có thực hành chăm sóc trẻ tại nhà đúng là một quá trình lâu
dài, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy việc hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà
cần phải thực hiện thường xuyên liên tục và kết hợp với nhiều hình thức truyền thông
khác [87]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thực trạng hướng dẫn và tư vấn của CBYT
còn nhiều vấn đề cần được quan tâm.
3.88 Trong nghiên cứu tại Multan, năm 1997, thời gian trung bình mỗi thày
thuốc khám và kê đơn cho một trẻ NKHHCT là 2 phút 23 giây. Thực tế, lượng thời
gian này chỉ đủ cho 2 lần đếm nhịp thở. Thày thuốc rất hạn chế khuyên các bà mẹ
cách chăm sóc trẻ ốm tại nhà [100].
3.89 Đánh giá tại Mexico của năm 1999 cho thấy nhiều CBYT cả trong hệ
thống công (20,0%) và tư nhân (35,6%) đã không tư vấn cho các bà mẹ về dấu hiệu
cần đưa trẻ đi khám lại. Chỉ có 10,2% cán bộ tư và 27,4% cán bộ công đã tư vấn bà
mẹ về cách chăm sóc trẻ tại nhà [74].
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế
3.94 Một trong những yếu tố quan trọng nhất phải ke đến là vấn đề thiếu đào
tạo của CBYT. Thực tế, những khoá đào tạo ngắn ngày tập trung vào kỹ năng thực
hành trong những tình huống cụ the được đánh giá là có hiệu quả nâng cao chất
lượng chấn đoán và điều trị trẻ NKHHCT tại tuyến cơ sở [126]. Một nghiên cứu tại
Ai Cập cho thấy kiến thức và khả năng nhận biết dấu hiệu bệnh và khai thác tiền sử
bệnh của nhóm được đào tạo tốt hơn nhóm không được đào tạo. Tuy nhiên, kỹ năng
thăm khám NKHHCT còn chưa được cải thiện đáng kể và một nguyên nhân là do
Chương trình này chỉ tiến hành đào tạo mà thiếu giám sát [118]. Nghiên cứu các
nước đang phát triển khác, cũng thực hiện chương trình đào tạo như Ai Cập, tức là
chỉ đào tạo và không có giám sát hỗ trợ cũng đã cho thấy hiệu quả thay đoi hành vi
của các Chương trình này là khá thấp [120], [124].
3.95 Một số phác đồ điều trị được xây dựng để áp dụng trên một diện rộng,
có thể có được tính pho dụng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên biệt với điều
kiện cụ thể của từng địa phương. Một số phác đồ được xây dựng theo hướng từ trên
xuống không có sự tham gia của CBYT cơ sở cũng có thể khó có được lòng tin của
họ vào hiệu quả của phác đồ. Cũng như ở nhiều nước, Chương trình NKHHCT tại
Việt Nam đã và đang phải đối mặt với một khó khăn là việc áp dụng phác đồ trong
2
điều trị NKHHCT không như mong đợi, thậm chí là thấp [14].
3.96 Một yếu tố khác khác ảnh hướng đến chất lượng là thời gian dành cho
thăm khám. Để kiểm tra được hết dấu hiệu bệnh và tư vấn đầy đủ cho một bệnh nhân
NKHHCT, CBYT thường mất ít nhất từ 10 đến 15 phút và không thể thăm khám đầy
Vai trò của người bán thuốc trong chăm sóc sức khỏe trẻ em
3.100 Trên thế giới, hiện tượng lạm dụng thuốc và tự mua thuốc điều trị ngày
càng phổ biến. Tại các nước phát trien, thuốc bán theo đơn thường chiếm tỷ lệ lớn
2
trong doanh số bán ra. Tuy nhiên, tại các nước đang phát trien, hầu như tất cả các loại
thuốc bán đều không cần đơn của bác sĩ. Bệnh nhân thường không đi khám mà tự
mua thuốc điều trị tại nhà [143].
3.101 Nghiên cứu về tình hình điều trị những bệnh thông thường như ho, cảm
lạnh, ỉa chảy cho trẻ em ở Brazil cho thấy 75% các trường hợp cha mẹ tự mua thuốc
và tự điều trị [97]. Nghiên cứu của Hoàng Kim Huyền năm 1999 cho thấy 66% trẻ
ốm dưới 5 tuổi đã được gia đình tự mua KS về dùng chứ không đi khám [27]. Một
nghiên cứu khác cho thấy 47% các bà mẹ có con dưới 5 tuổi thường dùng KS thông
qua hỏi người bán thuốc và bạn bè [38]. Với thực trạng này, vai trò tư vấn của người
bán thuốc rất quan trọng trong việc cung cấp và sử dụng thuốc hợp lý cho bệnh nhân.
1.4.2.
Thực trạng bán thuốc cho trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
3.102 • Trên thế giới
3.103 Mối lo ngại về vấn đề tự sử dụng và sử dụng thuốc không đúng đã được
các nhà nghiên cứu, các quốc gia và TCYTTG cảnh báo từ lâu. Mức độ sử dụng KS
tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng các chủng vi khuấn kháng thuốc và biến chứng có hại
do dùng thuốc. Một số đại dịch do vi khuấn đã từng bị dập tắt hoặc khống chế do sử
dụng KS nay lại đang bùng phát trở lại với sự xuất hiện của những chủng gây bệnh
mới [143].