Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Thơ mới 1932-1945 là một cuộc cách mạng thơ ca vĩ đại nhất trong tiến trình
lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ XX . Phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đại
trong thi ca”, mở đầu cho sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Phong trào Thơ
mới không chỉ là cuộc hiện đại hoá, đưa thơ Việt Nam thoát khỏi thi pháp thơ
Trung đại, mà nó còn làm cho thơ Việt thoát khỏi cái bóng cớm Đường luật Trung
Hoa hàng nghìn năm, nó còn chắp nối thơ Việt với thơ toàn thế giới.
Thơ mới đã tạo nên nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau. Hoài Thanh đã
khẳng định một cách dứt khoát rằng: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng
một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng
như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê
mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn
như Xuân Diệu.” [12,37].
Trong những ngôi sao của nền thơ hiện đại ấy, Nguyễn Bính là một cây bút nổi
lên bởi sự “lạ lẫm”, độc đáo trong lối viết. Hoài Thanh gọi ông là nhà thơ “quê
mùa”. Tô Hoài coi ông là nhà thơ của “chân quê, hồn quê và tình quê”. Nhưng
Nguyễn Bính không chỉ là một nhà thơ của chân quê. Sự hòa nhập với thế giới hiện
đại cùng sự phát triển rầm rộ của phong trào Thơ mới cộng thêm những biến thiên
trong đời sống riêng đã khiến cho thơ Nguyễn Bính mang hơi hướng hiện đại. Thơ
Nguyễn Bính chất chứa nhiều nỗi niềm, tâm trạng của con người trong thời đại
mới, giữa chốn thị thành, được thể hiện bằng một hệ thống thi pháp thơ đã được
cách tân hóa.
Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại chính là một trong
những đặc trưng làm nên phong cách thơ Nguyễn Bính. Xuất phát từ lý do trên,
chúng tôi chọn đề tài“Tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trước
về phương diện nội dung và nghệ thuật.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tương nghiên cứu
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi không đi sâu nghiên cứu khái quát các đặc điểm thơ
Nguyễn Bính trong toàn bộ sự nghiệp thơ ca của ông mà chỉ tập trung vào tính
truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng.
Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu trên 7 tập thơ chính được sáng
tác trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Bính gồm: Lỡ bước sang ngang
(1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941),
Mười hai bến nước (1942), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây Tần (1942).
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 2
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp lịch sử - xã hội
Mục đích của phương pháp lịch sử - xã hội chính là đặt hiện tượng văn học
vào bối cảnh của xã hội để nghiên cứu. Chúng tôi đặt thơ Nguyễn Bính trong hệ
quy chiếu là phong trào Thơ mới với hoàn cảnh lịch sử, những đặc điểm của thơ ca
giai đoạn này.
4.2. Phương pháp so sánh
Để thấy được những đóng góp hay phong cách nghệ thuật, đặc điểm nổi bật
của một nhà thơ nào đó, chúng ta luôn luôn phải đặt họ trong một hệ quy chiếu để
“Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công
chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay. Tình cờ đọc
thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo “Thơ như thế này có gì?”. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi
một điều mà người ta không thể hiểu bằng một lý trí, một điều đáng quý vô ngần
“hồn xưa đất nước” Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong
lòng chúng ta” [12,368].
Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam
hiện đại cũng chỉ ra thứ tình quê xác thực được toát lên từ những câu thơ mang
dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính, Vũ Ngọc Phan đã đánh
giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng quê.
-
Sau năm 1945:
Giai đoạn này, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính được chú ý hơn ở miền
Nam. Thơ Nguyễn Bính được tái bản trong giáo trình Thế hệ 1932 của Đại học Văn
khoa Sài Gòn, được đánh giá, thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền
chiến. Trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (1968), hai tác giả Nguyễn Tấn Long và
Nguyễn Hữu Trọng viết : “Đối với thi nhân, thơ và cuộc đời chỉ là một. Không ca
ngợi những vẻ đẹp xa vời, những bóng dáng mĩ lệ, Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế
giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng. Có thể
nói với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn Bính đã tả chân thực được một nỗi u buồn
trầm lặng, giải tỏa được tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc”. Trong
Việt Nam văn học sử - giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ nhấn mạnh : “Nhưng thơ
lục bát, ai cũng biết, phải là cái sở trường của Nguyễn Bính”. Đặc biệt, trong tập
san Văn học số 60 có nhiều bài viết về Nguyễn Bính và thơ ông: Nguyễn Bính –
một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư (Vũ Bằng), Nguyễn Bính - nhà thơ kháng
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 4
với điệu thơ dân tộc, với lối ví von duyên dáng, ý nhị mà mộc mạc của ca dao, nên
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 5
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
thơ ông được nhiều người yêu thích”. Thơ Nguyễn Bính cũng được nhắc đến trong
nhiều chuyên luận về văn chương và đặc biệt được phân tích, bình luận khá nhiều
trong những chuyên luận về thơ ca : Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ (NXB
Khoa học xã hội, 1966), Bốn mươi năm văn học (NXB Tác phẩm mới, 1986), Giáo
trình văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà
Minh Đức (NXB Đại học và GDCN, 1988), Bình thơ và cách bình thơ của Lê Trí
Viễn (Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản, 1988), Thơ mới – những bước thăng trầm
của Lê Đình Kỵ (NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1993), Bàn về thơ của
Hoàng Minh Châu (NXB Giáo dục, 1990), Thơ lãng mạn Việt Nam – các tác giả
tiêu biểu của Lê Bảo (NXB Hội Nhà văn, 1992), Nhìn lại một cuộc cách mạng
trong thơ ca do Hà Minh Đức chủ biên (NXB Giáo dục, 1993), Thơ mới – bình
minh thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Quốc Túy (NXB Văn học, 1995), Tư duy
và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành (NXB Văn học, 1995)…
Năm 1992, NXB Hội Nhà văn cho ra mắt cuốn Nguyễn Bính – thi sĩ của yêu
thương do Hoài Việt sưu tầm và biên soạn; năm 1984, NXB Văn học ấn hành cuốn
Nguyễn Bính – thơ và đời do Hoàng Xuân tuyển chọn – có thể xem đó là những
cuốn sách giới thiệu về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính khá đầy đủ qua những
bài thơ được chọn lọc kĩ lưỡng, qua những bài viết công phu của nhiều tác giả khác
nhau. Năm 1996, kỉ niệm 30 năm ngày mất của Nguyễn Bính, giáo sư Hà Minh
Đức viết cuốn Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (NXB Giáo dục, 1995). Gần đây
nhất là cuốn Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử của
tác giả Chu Văn Sơn, Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức
cách ngắt nhịp, đặt câu kể cả việc cấu tứ, lập ý góp cho thơ anh vừa dân tộc vừa
hiện đại, toàn bộ thơ anh hợp thành một “tổ khúc đồng nội” không lẫn với ai,
không lẫn vào đâu được”.[16].
Hữu Thỉnh cho rằng Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ của truyền
thống, dân tộc với nhận xét: “Trong lúc cá nhà thơ khác vừa khai thác truyền
thống thơ dân tộc vừa xoay lăng kinh về phía hào quang của hơ Pháp thì Nguyễn
Bính và Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ.. gần như chuyên về dân tộc.” [3].
Đoàn Thị Đặng Hương trong bài Nguyễn Bính nhà thơ “chân quê” lại nhận
định thơ Nguyễn Bính đã có sự đổi mới về mặt thi pháp, khiến cho thơ ông mang
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 7
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
hơi hướng hiện đại: “Thơ Nguyễn Bính đã tách khỏi dòng thơ ca dân gian, mở rộng
thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề của một nhà thơ Thơ mới, và bản thân
nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp và tư duy thơ của các nhà thơ trên thi
đàn mới”. [10].
Như vậy, các đề tài nghiên cứu, các bài viết chúng tôi đã đề cập trên đây
cũng đã đề cập đến tính hiện đại và truyền thống trong thơ ông trên một vài phương
diện cụ thể. Song, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung một cách
hệ thống vào vấn đề tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trước
Cách mạng. Đó là điểm trống để chúng tôi tiến hành đề tài này.
6. Cấu trúc đề tài:
Ngoài chương Mở đầu và Kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có các chương
sau:
Chương I: Thơ Nguyễn Bính trong phong trào thơ Mới.
Chương II: Phong cách thơ đậm chất truyền thống
trị - xã hội mà về mặt văn hóa, ý thức của con người đã đổi khác, đặc biệt là quan
niệm của con người về cái tôi riêng và cái ta chung. Đó là những tiền đề quan trọng
dẫn tới sự ra đời tất yếu của Thơ mới.
Tiếng vang đầu tiên tạo một “phát súng” khởi đầu cho sự ra đời của Thơ mới
là vào ngày 10/3/1932, Phan Khôi đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn. Với
cách tân về hình thức, ngay từ khi ra đời, bài thơ đã gây nên một cơn bão trong dư
luận . Tiếng nói kêu gọi đổi mới của Phan Khôi được sự hưởng ứng rất mạnh mẽ
của thanh niên trí thức đương thời, và liên tiếp nhận được những ủng hộ nhiệt tình
khác. Báo Phụ nữ tân văn tiếp theo Tình già đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh
Manh (Nguyễn Thị Kiêm) và Hồ Văn Hảo. Ở ngoài Bắc, báo Phong hóa mới được
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 9
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
lập cũng hưởng ứng Thơ mới bằng cách công kích các đại diện của Thơ cũ mà điển
hình là Tản Đà. Số Tết năm 1933, Phong hóa đăng một loạt sáng tác của các cây
bút trẻ (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy
Thông). Tiếp theo Phong hóa, nhiều báo, nhà xuất bản khắp trong Nam ngoài Bắc
đều đua nhau đăng thơ mới. Cùng với hoạt động sáng tác và xuất bản là các cuộc
diễn thuyết của những người ủng hộ thơ mới như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm
tranh luận với Nguyễn Văn Hanh, Vũ Đình Liên, Trương Tửu…
Bên cạnh những người ủng hộ Thơ mới, cũng có những tiếng nói ủng hộ Thơ
cũ như Thái Phỉ, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Tản Đà. Tuy nhiên, một thế hệ
các nhà thơ mới tài năng xuất hiện ngay vài năm sau đó như Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp … đã khiến cho thơ cũ cũng phải dần mờ
nhạt. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của cái mới về cả mọi mặt đã khiến cho cái
cũ không còn đủ sức chống cự nữa. Trong bài Một cuộc cải cách về thơ ca Lưu
là một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, giải phóng thơ ca khỏi những ràng
buộc nghiêm ngặt đã trở thành lỗi thời của thơ ca trung đại.
Phong trào Thơ mới còn hình thành nên nhiều khuynh hướng thi ca khác
nhau. Trước hết là các nhà thơ chịu ảnh hưởng của thi ca Pháp, nghệ thuật lãng
mạn của Baudelaire như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc
Tử… Thứ hai là những người chịu ảnh hưởng của thơ ca Đường: Thái Can, Mộng
Tuyết, Quách Tấn… Dòng thứ ba là những nhà thơ có tính cách Việt Nam rõ rệt,
tuy có chịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng của
thơ Đường. Đó là Lưu Trọng Lư, là Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ Hoàng
Chương, Nguyễn Nhược Pháp… Sự phong phú về các khuynh hướng thơ đã làm
nên sự phong phú, đa dạng và phát triển cho Thơ mới.
Nói về những đóng góp của phong trào Thơ mới, Phan Cự Đệ đã cho rằng:
Thơ mới là “một bước tổng hợp mới những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống
và hiện đại” . Bước tổng hợp đó diễn ra trên tất cả các cấp độ : ngôn ngữ, thi liệu,
thể loại, tư duy sáng tạo hoàn toàn cái cũ mà có chọn lọc, giữ lại và cải tạo những
mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực,
lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển”.
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 11
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
Theo Từ điển Tiếng Việt, “truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời
trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ
khác”[11,1350]. Hiện đại nghĩa là “thuộc về thời đại ngày nay, có áp dụng những
phát minh, những thành tựu mới nhất của khoa học, kĩ thuật”[11,565]
Trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính chính là một minh chứng sinh động
cho sự tổng hợp giữa tinh thần truyền thống và hiện đại.
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
làm tâm điểm, ông liên tục thực hiện những chuyến đi như thế. Một phần là kiếm
kế sinh nhai nhưng phần khác cũng là để thỏa mãn ham muốn “xê dịch” (như nhà
văn Nguyễn Tuân). Trong suốt những chuyến hành trình đó, Nguyễn Bính không
thỏa được những khát khao tự do của mình. Ông nhiều khi rơi vào tâm trạng cô
đơn, lạc lõng, trở thành một cái tôi lỡ dở như kiếp con chim lìa đàn.
Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Thời
gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu
nước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công. Tháng 11 - 1954 Nguyễn Bính tập
kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam. Năm 1956 ông làm chủ bút tuần
báo “ Trăm hoa” và đã cho đăng báo một số bài viết.
Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn
hoá thông tin Nam Định. Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong trào
sáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính
trị của địa phương cũng như của cả nước. Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn
hoá Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân. Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30
Tết năm Ất Tỵ (20 - 01 - 1966 ) lúc đến thăm mộtt người bạn ở xã Hoà Lý, huyện
Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp sang tuổi 49. Ông vừa hoàn thành và
cho in bài thơ Quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn
mới trong đời thơ ông.
Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau (thơ, truyện thơ,
kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác). Hoạt động văn nghệ của ông phong phú
đa dạng song thành tựu xuất sắc độc giả ưa chuộng là thơ bởi thơ là mảng sáng tác
kết tụ tài năng và tâm huyết của đời ông, đặc biệt là giai đoạn trước Cách mạng.
Riêng về thơ, có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ
Mới. Chỉ trong một thời gian ngắn (1940-1945) Nguyễn Bính đã cho ra đời những
tập thơ có giá trị: Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
xác nhận là bài thơ đầu tiên, tức tác phẩm đầu tay chính thức của Nguyễn Bính.
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 14
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi tới dự thi và đã được giải
khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn. Với những tác phẩm ra đời liên tiếp sau
đó như Lỡ bước sang ngang, Xuân về….thơ ông đã chiếm được lòng yêu mến của
nhiều độc giả đương thời và cả các thế hệ sau này. Từ 1936 đến 1940 là thời kỳ
sáng tác sung mãn nhất của Nguyễn Bính. Phần lớn những bài thơ làng quê có giá
trị đều được ông sáng tác trong thời kỳ này. Có hàng trăm bài thơ của ông được
đăng báo. Năm 1940, Nguyễn Bính cho in thành sách hai tập thơ Lỡ bước sang
ngang và Tâm hồn tôi. Đây là hai tập đầu tiên, có giá trị nghệ thuật cao trong bảy
tập thơ sáng tác trước năm 1945 của Nguyễn Bính.
Có lẽ sự kiện đặc biệt nhất trong đời thơ Nguyễn Bính là việc Tuần báo Tiểu
thuyết thứ năm đăng tải bài thơ Lỡ bước sang ngang của ông vào năm 1939. Sau
khi được đăng tải, bài thơ đã tạo ra một sự say mê cuồng nhiệt trong lòng độc giả,
nhất là những độc giả nữ. Người ta chuyền tay nhau để đọc, để chép bài thơ. Nhiều
người không biết chữ nhưng vẫn thuộc lòng Lỡ bước sang ngang. Các bà các chị
dùng nó để ngâm vịnh cho nhau nghe, để hò ru con ngủ. Bài thơ đã tạo nên một
hiện tượng văn học kỳ lạ chưa từng có. Nó được phổ cập từ Bắc chí Nam. Đâu đâu
người ta cũng đọc Lỡ bước sang ngang, cũng nói chuyện về Lỡ bước sang ngang.
Có người kể, trong những ngày đi kháng chiến, thỉnh thoảng trên bước đường hành
quân lại nghe văng vẳng giọng những người mẹ trẻ cất lên lời ru Lỡ bước sang
ngang trong những xóm làng hiu quạnh. Lỡ bước sang ngang là tên của một bài thơ
nhưng đồng thời cũng là tên của cả tập thơ, bao gồm những bài như Mưa xuân,
Bính là một trong số những tài năng ấy. Ông đã khẳng định vị trí của mình bằng
một sự nghiệp sáng tác phong phú, một phong cách nghệ thuật riêng biệt, một hồn
thơ kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại.
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 16
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
CHƯƠNG II: PHONG CÁCH THƠ ĐẬM CHẤT TRUYỀN THỐNG
2.1. Nguyễn Bính – thi sĩ của “chân quê”
2.1.1 Bức tranh làng quê trong thơ Nguyễn Bính
Sinh ra và lớn lên ở vùng Châu thổ sông Hồng – cái nôi của nền văn minh
nông nghiệp lúa nước, Nguyễn Bính đã được đắm mình trong không gian thôn dã
với những cảnh vật, những đặc trưng mang đậm chất thôn quê. Những đặc trưng ấy
đã nuôi dưỡng một tâm hồn thơ chân quê, mộc mạc và bình dị trong con người nhà
thơ. Trong một kỉ niệm riêng viết về Nguyễn Bính, nhà văn Tô Hoài đã viết: “Khi
nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cánh diều bay, của dây hoa lý, của
mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng. Bởi đấy là cốt
lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính. Quê hương là tất cả và cũng là nơi in
đậm dấu vết đời mình” [17]. Quê hương đã đi vào thơ Nguyễn Bính thật tự nhiên
và giản dị:
Thôn Vân có biếc có hồng
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều
Anh về quê cũ
Hình ảnh thôn Vân quê mẹ gắn với những bờ đê, cánh diều, đàn chim, hồ
sen, ao cá…đơn sơ, chân thực. Nguyễn Bính không miêu tả bằng những ngôn từ
cách điệu, mỹ miều mà vẫn vẽ lên được bức tranh quê thật đẹp. Nó làm ta nhớ tới
Mùa Xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng trên và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng quanh
Mùa xuân xanh
Bài thơ phác thảo, phác hoạ những màu xanh kỳ diệu của tạo hoá, tạo nên
một ấn tượng tươi tắn, trong trẻo đến tinh khôi. Một không gian ngập tràn màu
xanh, những điệu xanh liên hoàn nhưng không trùng lắp. Trước hết là trên cao
(giời), xuống thấp hơn (lá), rồi thấp nữa và mở ra theo chiều rộng, theo cái mênh
mang của đồng lúa rập rờn. Mùa xuân còn tưng bừng trong không khí của ngày tết
cổ truyền của dân tộc, gắn với những niềm vui của bao nụ cười thơ trẻ:
Đây cả mùa xuân đã đến rồi
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 18
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
Từng nhà mở cửa đón vui tươi
Từng cô em bé so màu áo,
Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười.
Thơ xuân
Và không chỉ mùa xuân, mà mùa thu mang đặc trưng của miền quê Bắc Bộ
cũng được nhà thơ cảm xúc ghi lại trong những vần thơ đầy hình ảnh của mình, với
hội làng giữa ánh trăng sáng:
Hội làng mở giữa mùa thu
Giời cao gió cả giăng như ban ngày
Đêm cuối cùng
Còn mùa đông luôn gợi cho người ta nhớ tới cái không khí khắc nghiệt của
Tháng chạp hoa non nở cánh vàng
Hết bướm vàng
Hình ảnh “vườn” trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Bính với vườn nhà, vườn ai,
vườn cũ, vườn cam, vườn dâu, vườn trầu, vườn tiên giới…Vườn đồng nghĩa với
nhà- gắn với tâm trạng của một người con gái lỡ bước sang ngang thương về mẹ
già nơi quê cũ:
Em ơi! em ở lại nhà,
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.
Lỡ bước sang ngang
Vườn gắn với tuổi thơ tràn ngập kí ức: Vườn này ngày nhỏ anh còn nhớ/ Đã
nhảy qua tường bẻ trộm cam (Vườn xưa); gắn với quê hương: Đem thân về chốn
vườn dâu cũ, Buồn cũng như khi chị lấy chồng…Có khi nó lại gắn với câu chuyện
tình duyên nào đó của nhà thơ:
Nhà anh có một giàn giầu
Nhà em có một hàng cau liên phòng.
Tương tư
Thơ Nguyễn Bính còn tả lại cảnh sắc quê hương với những con đê ven
sông:“Thôn Đoài cách có một thôi đê” (Mưa xuân). Không gian vừa xa vừa gần
được đo đếm một cách cụ thể đến siêu hình “một thôi đê” đã làm cho khung cảnh
miền Bắc Bộ càng mang rõ đặc trưng quê mùa.
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 20
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
Cảnh sắc làng quê đi vào thơ Nguyễn Bính thật đẹp và thơ mộng. Nhà thơ đã
lựa chọn những ấn tượng, những kỉ niệm thiêng liêng lắng đọng trong kí ức con
người về một miền quê lý tưởng, mang vẻ đẹp cố hữu của nông thôn Việt Nam, gần
Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.
Tết của mẹ tôi
Ngoài những tục lệ cổ truyền, thơ Nguyễn Bính còn gợi cho ta không gian lễ
hội quen thuộc. Nếu như ở Kinh Bắc xưa, mùa xuân là hội quan họ thì ở các làng
quê Bắc Bộ mùa xuân là ngày hội của những đêm hát chèo “Thôn Đoài vào đám
hát thâu đêm” (Mưa xuân) của những trò vui “Ăn cỏi cá, đánh cờ người” (Anh về
quê cũ)…Mùa xuân qua đi, lại cuộc sống thường nhật với biết bao vất vả nhọc
nhằn, nhưng rồi lòng người lại xốn xang với “Hội làng mở giữa mùa thu”(Đêm
cuối cùng)… Hình ảnh người đi chùa náo nức trong không khí của lễ hội đã tạo nên
đặc trưng vùng miền cho văn hóa xứ Bắc . Nguyễn Bính không chỉ tài hoa khi dựng
cảnh những ngày hội làng quê mà ông còn rất am hiểu và khéo léo khi dặc tả những
nét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, qua những dáng bề ngoài của người nhà
quê. Đấy là một chú bé mà người ta có thể bắt gặp đâu đó trên đường thôn : “Tuổi
thơ tóc để gáo dừa, Tuổi thơ mẹ bắt deo bùa cần cong”(Tiền và lá) . Còn đây là
những trang phục của các cô gái trong ngày đi lấy chồng : “Này áo đồng lầm, quần
lĩnh tía, Này gương, này lược, này hoa tai” (Lòng mẹ ). Hình ảnh của những người
đi lễ chùa đã gợi ấn tượng về cảnh trẩy hội:
Trên đường cát mịn một đôi cô
Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
Tay lần tràng hạt miệng nam mô…
Xuân về
Trong thơ Nguyễn Bính ta còn bắt gặp cách ứng xử giữa những người trong
cộng đồng làng xã Việt Nam. Đó là những quan hệ hàng xóm,quan hệ lứa đôi, gia
đình dòng tộc…Làng là đơn vị sinh hoạt và đến lời hẹn hò cũng xem làng, ví von
rất làng quê.:
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 22
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 23
Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
Trong thơ Nguyễn Bính, mẹ là những người mẹ chung của dân tộc, là những
người đã trở thành biểu tượng của sự cần mẫn, tần tảo sớm hôm chăm lo cho đàn
con, là những người mẹ giỏi quán xuyến công việc nội trợ gia đình, chăm sóc
chồng con, hiếu thảo với đôi bên cha mẹ, thành kính với tổ tiên, nghiêm cẩn với lệ
tục làng nước. Dường như không còn ai mẫu mực hơn người mẹ hiền nơi làng quê,
trong cách miêu tả rất giản dị của Nguyễn Bính:
Mẹ tôi thắt chặt chiếc khăn sồi
Rón rén lên bàn thờ ông tôi
Đôi mắt người trông thành kính quá
Ngước xem hương cháy đến đâu rồi
Tết của mẹ tôi
Hình ảnh người mẹ trong mắt những người con không chỉ đẹp về phẩm hạnh
mà còn đẹp một cách tự nhiên, gần gũi nhất trong cách nhìn của những người con:
Mẹ tôi uống hết một cốc rượu.
Mặt người đỏ tía vì hơi men
Người rủ cô tôi đánh tam cúc
Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen
Tết của mẹ tôi
Người mẹ trong thơ Nguyễn Bính trở đi trở lại dưới nhiều hình ảnh khác
nhau, góc độ khác nhau. Thượng đế sinh ra người phụ nữ và giành cho họ sự ưu ái
lớn: thiên chức làm mẹ, sinh con và nuôi con. Chính vì vậy mà suốt cuộc đời họ
phải gánh chịu nhiều nỗi lo, nỗi buồn cho chồng, cho con. Mẹ mang nỗi buồn lo
cho người con gái trước đêm vu quy, trước ngày lấy chồng: “Bà lão lưng còng/ Có
Không chỉ là những người thân thuộc, con người nơi chốn quê bao giờ cũng
mang lại cho người thi sĩ một tình cảm đằm thắm, gần gụi và trìu mến vô cùng. Đó
là những người em nhỏ, những em bé chốn quê luôn gợi nhắc về một tuổi thơ đẹp
đẽ trong tâm hồn người nghệ sĩ. Cái tình quê của Nguyễn Bính, vì vậy, còn được
thể hiện qua hình ảnh những em bé trong những bức tranh mùa xuân, mùa lễ hội :
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe
Mưa tạnh, giời quang nắng mới hoe
Xuân về
Nguyễn Thị Thu Hải – SP Văn k54
Page 25