Đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia - Pdf 36

Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng
Lời nói đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang diễn ra sôi động,
tác động sâu sắc và trực tiếp đến mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội, làm
thay đổi một cách căn bản t duy, lối sống, phơng thức làm việc và giải trí
trong mọi lĩnh vực cuộc sống của hầu khắp quốc gia trên thế giới, mở ra
một thời kỳ phát triển mới của nhân loại đang bớc vào thế kỉ 21. Sự phát
triển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp, tiến lên
nền văn minh thông tin và trí tuệ, mà sự phát triển của nó là sự phát triển từ
nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế thông tin. Đó là sự
hình thành của nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (Knowledge Economy),
mà đôi khi ngời ta còn gọi là nền kinh tế dựa trên tri thức (Knowledge
Based Economy) hay nền kinh tế số hoá (Digital Economy), nền kinh tế
thông tin (Information Economy) hoặc là nền kinh tế học hỏi (Learning
Economy)... Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhng đều nhằm diễn đạt một
nội dung cơ bản: ngày nay sản xuất và truyền tải thông tin - tri thức trở nên
quan trọng hơn nhiều so với sản xuất và phân phối hàng hoá công nghiệp.
Từ nền kinh tế vật thể sang nền kinh tế phi vật thể thì tỷ lệ lao động trí óc
trong mỗi sản phẩm làm ra ngày càng cao. Trong cơ cấu GDP, giá trị gia
tăng, lao động và t bản, hơn 70% sẽ do các lĩnh vực hoạt động của con ngời
có hàm lợng trí tuệ cao quyết định. Khác với nền kinh tế công nghiệp, ở đó
hàng hoá vật thể đợc sản xuất hàng loạt là chủ yếu, của cải vật chất là sở
hữu của một số ít ngời và nhu cầu của mỗi cá nhân là có giới hạn: trong nền
kinh tế tri thức, sản phẩm thông tin tri thức đóng vai trò quan trọng nhất.
Chúng là sở hữu của rất nhiều ngời và nhu cầu của mỗi cá nhân sẽ là vô
hạn. Ngợc lại với của cải vật chất, càng nhiều ngời dùng thì giá trị càng
thấp, trong khi giá trị của thông tin - tri thức càng cao khi càng có nhiều ngời sử dụng.

vào nguồn tin, đối tợng ngời dùng tin, khả năng tài chính, khả năng nhân
lực... Sự khác nhau này có thể phân biệt căn cứ vào mức độ tự động hoá các
công đoạn của quy trình hoạt động thông tin t liệu, tập trung ở công đoạn lu
trữ và hoạt động phục vụ nghiên cứu và triển khai. Có rất nhiều biện pháp
tăng cờng công tác thông tin khoa học và kỹ thuật Việt Nam nh là củng cố
và xây dựng mạng lới các cơ quan thông tin t liệu của các Trung tâm nghiên
cứu khoa học và công nghệ lớn. Trong mạng lới thông tin này Trung tâm
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (Sau đây gọi tắt là Trung tâm
KHTN & CNQG) là một trong những cơ quan thông tin quan trọng, phục
vụ đắc lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ.
Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

2


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

Những thành tựu mà các cán bộ khoa học của trung tâm KHTN & CNQG
đạt đợc trong năm qua là không nhỏ. tuy nhiên, trong xu thế phát triển mới
của thời đại, Trung tâm KHTN & CNQG vẫn còn một số tồn tại nhất định.
Xu hớng phát triển đơng đại đòi hỏi các cơ quan thông tin phải nắm bắt
nhanh chóng và làm chủ những thành tựu mà cách mạng thông tin mang lại
- đặc biệt là thông tin khoa học và công nghệ, trong đó có hoạt động thông
tin phục vụ nghiên cứu và triển khai. Chỉ có nh vậy, hiệu quả phát triển kinh
tế xã hội mới đợc đảm bảo và đẩy nhanh tiến độ hoà nhập của Việt Nam với
cộng đồng các nớc trong khu vực và trên thế giới. Để đáp ứng tốt yêu cầu
đó, hoạt động của Trung tâm KHTN & CNQG cần đợc nghiên cứu và đổi
mới và hoàn thiện. Việc hoạt động phục vụ nghiên cứu và triển khai và từ

Nhiệm vụ:
Nghiên cứu nhiệm vụ của Trung tâm TTTL đối với sự phát triển khoa
học của Trung tâm KHTN & CNQG.
Nghiên cứu hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai tại
Trung tâm KHTN & CNQG.
4. Cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn dựa trên những căn cứ lý luận khoa học của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, những chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về
phát triển Thông tin để khảo sát, điều tra và nghiên cứu.
Phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong luận văn là phân tích hệ
thống, tổng hợp tài liệu, điều tra, khảo sát bằng phiếu thăm dò, thống kê sác
xuất, phỏng vấn, so sánh và đánh giá.
5. ý nghĩa của luận văn.
6. Bố cục của luận văn.
Luận văn đợc kết cấu gồm: Lời nói đầu, 3 chơng nội dung, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.
Chơng I:Tổng quan về hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai
tại trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia
1.1. Hoạt động nghiên cứu và triển khai tại trung tâm KHTN & CNQG.
1.2. Vai trò của hệ thống thông tin khoa học trong việc phục vụ hoạt động
nghiên cứu và triển khai cuả trung tâm KHTN & CNQG.
1.3. Đặc điểm ngời dùng tin của Trung tâm KHTN & CNQG.
1.4. Sự cần thiết phải đổi mới hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và
triển khai tại Trung tâm KHTN & CNQG.
Chơng II: Hiện trạng hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu triển khai tại
Trung tâm KHTN & CNQG.

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

4


Lê Thị Thu Hơng
CHƯƠNG I

Tổng quan về hoạt động thông tin phục vụ nghiên
cứu và triển khai tại trung tâm KHTN & CNQG

1.1.

Hoạt động nghiên cứu và triển khai tại trung
tâm KHTN & CNQG.

1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng KH & CN đơng đại, các nớc đang
phát triển nếu tạo lập đợc những chiến lợc đúng đắn, những chính sách
khôn ngoan thì sẽ có nhiều cơ hội "đi tắt", "hội nhập". Ngợc lại, nếu không
nhanh chóng xây dựng đợc cơ sở hạ tầng về công nghiệp đủ mạnh, không
có năng lực nội sinh vững vàng về KH & CN để có thể đối phó đợc với
những thách thức của "một thế giới cạnh tranh quyết liệt" thì mục tiêu "bắt
kịp" sẽ khó trở thành hiện thực. Trong công cuộc cạnh tranh ráo riết hiện
nay khi tiến vào thế kỷ XXI, KH & CN đợc sử dụng nh một nguồn sinh lực
cơ bản nhất, nhằm tạo ra một năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, tăng trởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm. Đây là cơ hội, đồng thời cũng là
thách thức đối với nền KH & CN Nớc ta.
Hầu hết các quốc gia phát triển và nhiều quốc gia đang phát triển
đều có Viện hàn lâm Khoa học, Trung tâm Khoa học Quốc gia... Một số
Viện hàn lâm Khoa học đã có lịch sử thành lập trên 100 năm và là niềm
tự hào của dân tộc họ. Song cùng với các quốc gia đó thì ở Việt Nam, từ
đầu thập kỷ 60 Đảng và Chính phủ đã có chủ trơng xây dựng một trung
tâm Khoa học quốc gia với sự giúp đỡ của Liên Xô. Viện nghiên cứu
KHTN (Tiếng Nga viết tắt là Nhiki) đã đợc xây dựng trên diện tích 8,5

dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nớc. [phụ lục 1]
Để có thể đáp ứng những đòi hỏi mới của thực tế khách quan trên, phù
hợp với cơ chế quản lý mới của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa. Viện KHVN đợc tổ chức lại thành Trung tâm Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ Quốc gia theo Nghị định 24/CP ngày 22/05/1993 của Chính
phủ. Đây là tổ chức khoa học và công nghệ lớn nhất của đất nớc về lĩnh vực
nghiên cứu khoa học tự nhiên và triển khai công nghệ.
Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (sau đây viết tắt
là Trung tâm KHTN & CNQG) là cơ quan trực thuộc chính phủ, hoạt động
theo qui chế đợc thủ tớng chính phủ phê duyệt.

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

7


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

Trung tâm có chức năng tổ chức và thực hiện các hoạt đông nghiên
cứu về khoa học tự nhiên và công nghệ theo các hớng trọng điểm của Nhà
nớc, nhằm tạo ra và triển khai các công nghệ tiên tiến có ý nghĩa quan trọng
đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của nớc ta. Trung tâm KHTN
& CNQG có nhiệm vụ và quyền hạn (trích Nghị định 24/CP ngày
22/5/1993): [24]
1. Tổ chức các hoạt đông nghiên cứu về khoa học tự nhiên và công nghệ
theo hớng trọng điểm của Nhà nớc, triển khai, ứng dụng các kết quả
nghiên cứu và các công nghệ mới vào sản xuất và đời sống xã hội.
a) Nghiên cứu những vấn đề khoa học cơ bản hiện đại làm cơ sở cho việc

trại thí nghiệm và 6 bảo tàng tự nhiên.
Khối B gồm 7 đơn vị chức năng. Đây là các cơ quan quản lý Nhà nớc và
giúp việc cho giám đốc trung tâm KHTN & CNQG.
Khối C gồm 15 doanh nghiệp nhà nớc đợc thành lập theo quy định 338HĐBT ngày 20/11/1991 và một số doanh nghiệp của các bộ đợc thành
lập theo thoả thuận giữa lãnh đạo Trung tâm KHTN&CNQG với các bộ
liên đới.
Trung tâm KHTN & CNQG hiện có đội ngũ cán bộ và công chức là
2400 ngời trong đó có 538 Tiến sỹ, 108 Tiến sỹ khoa học, 60 Giáo s, 162
Phó Giáo s và trên 1200 cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng. Số cán bộ
có trình độ đại học trở lên trực tiếp làm nghiên cứu khoa học và triển khai
tại viện nghiên cứu chuyên ngành là 1995 ngời chiếm tỉ lệ 84,4%.
Nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ là nhiệm vụ
chính của Trung tâm KHTN & CNQG. Do sớm nắm bắt những mục tiêu
nhiệm vụ mới trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, Trung
tâm KHTN & CNQG đã thực hiện thành công nhiều chơng trình nghiên
cứu, chơng trình ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuậtvà công nghệ vào
thực tiễn. Chỉ tính riêng trong 5 năm (1995 - 2000) các đơn vị nghiên cứu
của Trung tâm KHTN & CNQG đã tham gia 37 đề tài cấp Nhà nớc, 29 đề
án điều tra cơ bản, 152 đề tài nghiên cứu cơ bản và 5 nhiệm vụ trong chơng
trình Biển Đông - Hải Đảo, 110 kết quả nghiên cứu khoa học- công nghệ đã
đợc sử dụng trong thực tế. Ngoài ra, còn có hàng nghìn kết quả đợc công bố
trong các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nớc, trong các hội nghị, hội
thảo toàn quốc và quốc tế. Ngoài những hớng nghiên cứu cơ bản về khoa
học tự nhiên và công nghệ nói chung hiện nay trung tâm KHTN & CNQG
đang tập trung vào 8 hớng nghiên cứu khoa học - công nghệ u tiên có tầm
cỡ chiến lợc quốc gia:

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

9

mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc của Đảng ta.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm KHTN & CNQG.
Nắm bắt đợc tầm quan trọng của thông tin KH&CN trong sự nghiệp
nghiên cứu khoa học nên ngay sau khi vừa ra đời (1975) Ban lãnh đạo Viện

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

10


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

KHVN đã ra quyết định thành lập phòng thông tin t liệu nằm trong khối
chức năng của Viện vào năm 1976.
Năm 1982, căn cứ vào yêu cầu phát triển trong lĩnh vực hoạt động
thông tin khoa học và kỹ thuật của Viện KHVN, Trung tâm Thông tin Khoa
học đợc thành lập trên cơ sở phòng thông tin t liệu. Trung tâm TTKH là cơ
quan thông tin khoa học đầu ngành của viện KHVN có chức năng làm
TTKH phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nghiên cứu khoa
học của viện, giúp Ban lãnh đạo Viện KHVN quản lý mạng lới thông tin
khoa học của Viện. Thời kỳ này Trung tâm TTKH chỉ có hai bộ phận chính:
Phòng thông tin, Phòng th viện - lu trữ và một tổ Hành chính tổ chức. Trung
tâm TTKH có các nhiệm vụ sau:
1. Thu thập, xử lý, phân tích tổng hợp, lu trữ các loại hình tin, tài liệu, t
liệu KHKTcó liên quan với công tác nghiên cứu khoa học của Viện.
2. Thông báo và cung cấp thờng kỳ hoặc theo chuyên đề cho các đơn vị
nghiên cứu, chơng trình TTKH có liên quan với yêu cầu tin mới nhất và
chính xác nhất.

3. Cung cấp các thông tin mới về thành tựu KH & CN cho lãnh đạo, cán bộ
khoa học thuộc Trung tâm KHTN & CNQG.
4. Thực hiện các đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ nhằm nâng cao tiềm lực
thông tin KH & CN của Trung tâm KHTN & CNQG.
5. Nghiên cứu xây dựng dự báo, chiến lợc và quản lý khoa học.
6. Tổ chức, biên tập, in ấn, xuất bản và phát hành các ấn phẩm KH & CN
của Trung tâm KHTN & CNQG theo đúng luật xuất bản và những quy
định về bảo mật của nhà nớc.
7. Thực hiện các dịch vụ về thông tin, sở hữu trí tuệ, dịch thuật, tổ chức
triển lãm, hội thảo khoa học, quảng cáo các sản phẩm KH & CN của các
đơn vị thuộc Trung tâm KHTN & CNQG.
8. Tổ chức công tác thông tin tuyên truyền trên các phơng tiện thông tin
đại chúng.
Nghị định 24/CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ về việc thành lập
Trung tâm KHTN & CNQG trên cơ sở tổ chức lại Viện KHVN với chức
năng chủ yếu là Tổ chức và thực hiện các hoạt động nghiên cứu về khoa
học tự nhiên và công nghệ theo các hớng trọng điểm của nhà nớc, nhằm tạo
ra và triển khai các công nghệ tiên tiến có ý nghĩa quan trọng đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta đã đặt ra những yêu cầu và
nhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin t liệu KH & CN của Trung tâm
TTTL trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Mức độ đáp
ứng thông tin đối với NDT tại Trung tâm khoa học phải đợc Trung tâm
TTTL thực hiện trên cơ sở hiệu quả tối đa, bao gồm: lợng thông tin tối đa,
Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

12


Khoá luận tốt nghiệp


Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

13


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

sống còn đối sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng đối
với mỗi quốc gia và đợc đa lên hàng quốc sách.
Trong những thập kỷ gần đây, ngời ta đã nhận thấy tốc độ đổi mới
trong KH & CN tăng vô cùng nhanh, cũng vì vậy, thời gian từ lúc phát
minh ra một công nghệ mới, một sản phẩm mới đến khi đa ra sản xuất đại
trà và thời gian tồn tại trên thị trờng của các sản phẩm ngày càng đợc rút
ngắn. Trong các ngành công nghiệp năng động nhất nh vi điện tử và viễn
thông, hơn 50% sản phẩm tồn tại trên thị trờng tin học dới 5 năm. Một nửa
số dợc phẩm có mặt trên thị trờng dới 10 năm. Những thành tự khoa học kỹ
thuật không những đã làm tăng gấp bội thể lực, nối dài các giác quan (nh
trong các giai đoạn trớc) mà còn nâng cao khả năng t duy, vợt giới hạn sinh
học của con ngời [22.5]. Điều này đã buộc các nhà nghiên cứu phải tìm
cách nắm bắt các thông tin KH&CN mới nhất, hiện đại nhất. Thông tin
khoa học công nghệ là chất liệu không thể thiếu đợc trong hoạt động và
nghiên cứu KH&CN. Sở dĩ nh vậy vì lao động KH&CN là lao động mang
tính sáng tạo, tìm kiếm cái cha biết do đó có thể thành công và cũng có thể
thất bại. Sự thất bại trong nghiên cứu KH&CN có thể do nhiều nguyên nhân
với các mức độ khác nhau. Nhng một trong những nguyên nhân ấy là do
thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy xử lý những vấn đề đợc đặt ra
trong nghiên cứu. Ngoài ra hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại hoạt
động đặc thù của con ngời nhằm thu thập những thông tin khoa học mới

100.000 cuốn sách .Vào đầu những năm 50, bốn thế kỷ rỡi sau đó, tốc độ
tăng vọt với 120.000 cuốn sánh trên một năm ở châu Âu. Vào năm 1960,
chỉ một thập kỷ sau, tốc độ đã thực hiện một bớc nhảy có ý nghĩa khác,
những gì cần một thế kỷ để thực hiện thì nay chỉ cần bảy tháng rỡi. Và vào
giữa những năm 60, số sách xuất bản trên thế giới là 1000 cuốn mỗi ngày.
Có thể nói số sách vở in ra tơng đơng với tốc độ con ngời phát hiện ra kiến
thức mới. Ngày nay, số lợng tạp chí và bài báo khoa học đang tăng gấp đôi
[1.20]. Tổ chức khoa học giáo dục và liên hợp quốc đã thống kê: Trên toàn
thế giới đã xuất bản 111.950 loại ấn phẩm định kỳ (1990) và 53650 tờ báo,
trong đó nhật báo là 8.250 tờ. Tổng lợng phát hành mỗi ngày hơn 833 triệu
số (1993). Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 20000 công trình khoa học đợc
công bố [33.8]. Số lợng tạp chí và bài báo khoa học cứ 10 năm lại tăng lên
gấp đôi- trung bình mỗi năm tăng 600 triệu trang [20.49]. Tuy nhiên, sự
phát triển nhanh chóng của lợng thông tin đã làm nảy sinh một vấn đề mới
đối với những nhà nghiên cứu: không phải bất cứ thông tin nào đã tích lũy
đợc đều có giá trị và độ cần thiết nh nhau ... Hệ số chung của việc sử dụng
Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

15


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

một các có hiệu quả kho tàng thông tin do nhân loại tích luỹ đợc đang có
khuynh hớng giảm đi rõ rệt. Ngời ta đã ớc tính bằng 1/2 thời gian làm việc
của nhà nghiên cứu khoa học phải dành cho việc tìm hiểu thông tin và xử lý
các thông tin thu đợc.
Nhận thức rõ vai trò của hoạt động thông tin phục vụ nghiên cứu và


Lê Thị Thu Hơng

1.3. Đặc điểm ngời dùng tin của trung tâm KHTN & CNQG
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, quá trình bùng
nổ thông tin cũng đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Con ngời với
những nhu cầu tin ngày càng phong phú, đa dạng có những tác động không
nhỏ tới hoạt động của cơ quan thông tin. có thể nói việc thoả mãn nhu cầu
tin là yếu tố quyết định chất lợng hoạt động thông tin t liệu. Nhận thức đợc
điều này, cũng nh các cơ quan thông tin khoa học, vấn đề nghiên cứu ngời
dùng tin và nhu cầu tin tại trung tâm luôn đặt lên hành đầu.
NDT là yếu tố cơ bản giữ vai trò quan trọng trong bất kỳ Hệ thống
thông tin nào. Điểm xuất phát của dây chuyền thông tin đợc bắt đầu dựa
vào đối tợng NDT và cũng chính họ là nhân tố cuối cùng để đánh giá chất lợng hoạt động của cả Hệ thống. NDT là cơ sở cho việc định hớng các hình
thức phổ biến thông tin. Nếu không có NDT, giao lu thông tin không thể
thực hiện đợc. NDT là yếu tố tơng tác giữa hai chiều với các đơn vị thông
tin. Điều này đợc thể hiện qua hai khía cạnh. Thứ nhất, NDT đợc coi là đối
tợng phục vụ, họ vừa là khách hàng tiếp nhận thông tin, vừa là ngời sản sinh
ra thông tin mới. Thứ hai, NDT đợc coi là ngời sản xuất một phần "nguyên
liệu thông tin" cho hoạt động của cơ quan KHTN & CNQG, họ là lực lợng
đa thông tin vào thực tế sản xuất mặt khác họ làm cho tài nguyên thông tin
phong phú giàu có hơn lên nguồn thông tin của các cơ quan thông tin. Nh
vậy, NDT là yếu tố thúc đẩy hoạt động tự động hoá thông tin, đồng thời là
yếu tố chi phối hoạt động này
NDT đợc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin có chất lợng
sẽ tạo ra nguồn tin có giá trị. và với những nguồn tin có giá trị ấy các cơ
quan thông tin sẽ lại tạo ra những sản phẩm thông tin có chất lợng hơn. Nh
vậy, vai trò khách hàng - ngời sản xuất của NDT có mối quan hệ nhân quả.
Tuy nhiên chỉ có vai trò khách hàng của ngời dùng tin là trực tiếp tác động
tới sự sống còn của các cơ quan thông tin. với nhu cầu tin cụ thể của mình,

điều tra cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm và tham gia giải
quyết vấn đề bức xúc về KH & CN của đất nớc cũng nh một số vấn đề môi
trờng toàn cầu nh công nghệ chất thải, công nghệ sạch, phát thải khí nhà
kính... Phần đông những cán bộ khoa học này đợc đào tạo từ Liên Xô, Cộng
hoà Dân chủ Đức và các nớc Xã hội Chủ nghĩa trớc đây. Từ sau năm 1992,
một số cán bộ KH & CN trẻ dợc đào tạo từ các nớc công nghiệp phát triển
nh Đức, Pháp, Nhật Bản... Nhiều nhà khoa học của Trung tâm KHTN &
CNQG đợc cộng đồng quốc tế mời nghiên cứu phối hợp về khoa học hoặc
giảng bài tại các trờng đại học quốc tế.

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

18


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

Những con số thống kê cho thấy lực lợng NDT thực tế tại Trung tâm
KHTN & CNQG rất mạnh, cả về chất lợng. Đây là một yếu tố rất quan
trọng đối với hoạt động của trung tâm KHTN & CNQG.
Về trình độ ngoại ngữ, theo số liệu điều tra mới đây của Trung tâm
KHTN & CNQG thì có tới 85% NDT sử dụng đợc 1 đến 2 ngoại ngữ, 15%
sử dụng 3 ngoại ngữ. Những ngoại ngữ chính mà NDT sử dụng là Nga,
Anh, Pháp, Đức. Thời gian trung bình NDT tại đây dành cho việc nghiên
cứu t liệu chiếm khoảng 20 - 30% tổng số thời gian. Họ vừa là NDT tại
Trung tâm TTTL.
Qua điều tra khảo sát và căn cứ vào chức năng công việc của NDT
chúng tôi nhận thấy đội ngũ NDT của Trung tâm KHTN & CNQG có thể


mà còn cần sử dụng và xử lý thờng xuyên các thông tin chung về chính trị
xã hội.
-

Khoảng 80% số cán bộ lãng đạo tại nhóm này có trình độ tối thiểu từ

Tiến sĩ trở lên rất nhiều ngời trong số họ là những giáo s, tiến sĩ khoa học,
viện sỹ, chuyên gia đầu ngành. Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý, hầu
hết họ vẫn tiếp tục làm công tác nghiên cứu khoa học. 60% số cán bộ thuộc
nhóm này trực tiếp làm chủ nhiệm, quản lý đề tài từ cấp Viện, cấp Trung
tâm đến cấp Nhà nớc. Tuy nhiên, do đảm đơng công tác quản lý nên NDT
nhóm này rất bận rộn và thời gian họ dành cho việc nghiên cứu tài liệu
không nhiều (10-20% quỹ thời gian nghiên cứu, quản lý).
b. Nhóm 2. Cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học:
Đây là lực lợng NDT chủ chốt của Trung tâm KHTN & CNQG. Số cán
bộ này có trình độ đại học trở lên và trực tiếp làm nghiên cứu khoa học và
triển khai tại viện nghiên cứu chuyên ngành. Thời gian NDT nhóm này
dành cho việc nghiên cứu tài liệu tơng đối nhiều (20-40% quỹ thời gian
nghiên cứu).
Ngời làm nghiên cứu khoa học ngày nay không chỉ cần có kiến thức
sâu về một lĩnh vực mà phải có hiểu biêt rộng về nhiều lĩnh vực khác nhất
là những hiểu biết về kinh tế - xã hội, về sản xuất và đời sống. Ngoài tri
thức lý luận phải có kiến thức thực tế về lĩnh vực chuyên môn của mình, có
kỹ năng thực hành, biết kết hợp nghiên cứu với sản xuất và thị trờng đặc
biệt là phải có sự nhạy bén phát hiện các vấn đề của sản xuất, nhu cầu của
xã hội để từ đó vạch ra các hớng nghiên cứu thích hợp. Do vậy, NDT nhóm
này là những NDT rất năng động và tích cực. Họ là những ngời thờng
xuyên tạo ra các thông tin mới qua các công trình, kết quả nghiên cứu đợc
công bố, họ là những "khách hàng" thân thiết của Trung tâm TTTL và các

-

Trung tâm KHTN & CNQG là một trong những đầu mối quan trọng

trong hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển khai do đó việc ứng
dụng hoạt động nghiên cứu và triển khai mới vào trong hoạt động của
Trung tâm KHTN & CNQG là hết sức cần thiết.
-

Trung tâm TTTL là một trong những trung tâm thuộc Trung tâm KHTN

& CNQG ở đó có nguồn tài liệu khổng lồ và đa dạng rất cần ứng dụng
CNTT để tự động hóa việc xử lý thông tin, tìm tin và trao đổi thông tin, tự
động hóa lu trữ và quản lý thông tin, gắn liền với hoạt động xây dựng cơ sở
dữ liệu nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho hoạt động nghiên cứu khoa học và
triển khai của Trung tâm KHTN & CNQG.

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

21


Khoá luận tốt nghiệp
-

Lê Thị Thu Hơng

NDT của Trung tâm chủ yếu là cán bộ khoa học, đội ngũ NDT có trình

độ cao, có thể tiếp nhận thông tin tự động hoá một cách dễ dàng nhanh


22


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng
Chơng II

Hiện trạng hệ thống thông tin phục vụ
nghiên cứu và triển khai tại trung tâm KHTN & CNQG

2.1. Hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và triển
khai tại trung tâm KHTN & CNQG
2.1.1. Tổ chức
Mặc dù đã trải qua nhiều biến đổi về tổ chức, Trung tâm TTTL vẫn
luôn là đơn vị thông tin đầu ngành của Trung tâm KHTN & CNQG. Qua 18
năm phát triển, Trung tâm TTTL luôn luôn bám sát những nhiệm, chức
năng đợc giao để có những thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn phát
triển của Trung tâm KHTN & CNQG, Trung tâm TTTL đã có những đóng
góp đáng kể vào hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ
của Trung tâm KHTN & CNQG.
1. Hệ thống quản lý:
Lãnh đạo Trung tâm TTTL Giám đốc. Giám đốc Trung tâm TTTLdo
Giám đốc Trung tâm KHTN & CNQG bổ nhiệm và có những quyền hạn
sau:
Thống nhất quản lý mạng lới thông tin KH&CN trong Trung tâm
KHTN & CNQG; Tham dự các cuộc họp của Lãnh đạo và Hội đồng Trung
tâm KHTN & CNQG có liên quan đến thông tin; Quản lý cán bộ theo phân
cấp của Trung tâm KHTN & CNQG tuyển chọn, sắp xếp, đánh giá cán bộ

việc và nhân sự của mình.
2. Hệ thống t vấn:
T vấn cho Giám đốc Trung tâm TTTL trong việc lãnh đạo và điều
hành hoạt động của trung tâm là các bộ phận sau:
Trung tâm Thông tin T liệu KH&CNQG (24 lý Thờng Kiệt)
Hội đồng khoa học Trung tâm TTTL
Chi ủy Trung tâm TTTL
Ban chấp hành công đoàn Trung tâm TTTL
Ban tranh tra nhân dân Trung tâm TTTL

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

24


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Thu Hơng

3. Hệ thống nghiệp vụ:
Bao gồm những bộ phận sau:
3.1. Th viện khoa học: ( là thành viên của mạng lới Th viện Việt Nam)
-

Bổ sung và lu trữ sách, tạp chí khoa học- công nghệ. Phục vụ độc giả.

-

Cung cấp tài liệu sao chụp cho các th viện trong hệ thống của trung tâm
KHTN & CNQG.


-

Thực hiện các đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ thông tin khoa học kỹ
thuật, tổ chức các seminar chuyên môn để nâng cao nghiệp vụ.

-

Tin học hoá các kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát đợc thực hiện ở
trung tâm KHTN & CNQG.
Số lợng cán bộ: 5 ngời

3.4. Phòng sở hữu công nghiệp
-

Tổ chức và quản lý mạng lới dịch vụ patent trong trung tâm KHTN &
CNQG. Cung cấp dịch vụ patent cho các đề án và chơng trình nghiên
cứu. Thu thập t liệu patent và giải pháp kỹ thuật làm thủ tục đăng ký với
các cơ quan Nhà nớc để bảo vệ quyền tác giả.

-

Biên tập, phổ biến, chọn lọc, lu trữ và khai thác các t liệu về patent.
Số lợng cán bộ: 7 ngời

Khoa Thông tin học và Quản trị Thông tin

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status