ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
Đề bài: Phân tích những đặc điểm thi pháp của sử thi Đam Săn.
(Bản dịch của Nguyễn Hữu Thấu, NXB Khoa học xã hội, 1988)
Sinh viên
: Đoàn Ngọc Chung
Lớp
: K59 Văn học
MSSV
: 14031844
HÀ NỘI, 2016
I. Tóm tắt nội dung sử thi Đam Săn
Theo tục “chuê nuê” trong chế độ mẫu hệ, mặc dù đã có người yêu là nàng Hơ
Bia nhưng Đam Săn vẫn phải lấy chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị làm vợ. Đam Săn đã cưỡng
lại tục lệ đó nhưng ông Trời “đã chống gậy hèo đến thu xếp việc cưới hỏi” nên Đam Săn
đành phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục, ở lại nhà Hơ Nhị, Hơ BHị làm chồng.
Song ở nhà vợ, Đam Săn vẫn tiếp tục chống lại cuộc hôn nhân đó. Trong một lần
chàng mải chơi quay. Mtao Grự giả vờ đến thăm Đam Săn. Trước lúc ra về, ông ta vờ
Việt Nam nói chung. Ai đã từng đọc tác phẩm này một lần, hẳn sẽ không thể nào quên
được hình ảnh người anh hùng Đam Săn đầy khát vọng chiếm lĩnh những đỉnh cao vinh
quang, với phong vị Tây Nguyên lãng mạn mà oai hùng, với tục “chuê nuê” khác thường
mà độc đáo... Sử thi Đam Săn phần nào đã tái hiện nên được một bức tranh toàn cảnh của
người Tây Nguyên cổ đại, nó chính là lịch sử đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã
hội của người Ê-đê, chủ đề phản ánh của nó vô cùng phong phú: Ca ngợi người anh
hùng, phản ánh xã hội Ê-đê thời cổ đại, phản ánh những phong tục tập quán của cộng
đồng. Và sử thi Đam Săn mang những đặc trưng thi pháp sau:
1. Thi pháp nhân vật trong sử thi Đam Săn
1.1 Đam Săn - nhân vật trung tâm
Nhân vật trung tâm trong sử thi là nhân vật anh hùng, người đại diện cho lí tưởng
của cộng đồng Tây Nguyên. Và trong sử thi Đam Săn, thì người đại diện cho lí tưởng đó
là nhân vật Đam Săn. Hình ảnh Đam Săn được xây dựng trong sử thi là người anh hùng
với vẻ đẹp ngoại hình hoàn mĩ, là người anh hùng với hành động phi thường và là người
anh hùng với tính cách mạnh mẽ, ngang tàng.
Đầu tiên, để ca ngợi người anh hùng lí tưởng trong sử thi Đam Săn, nhân vật Đam
Săn…được mô tả là người tù trưởng giàu mạnh, là người anh hùng lý tưởng của thời đại.
Đó là lý tưởng về một mẫu người khỏe đẹp, có tài năng xuất chúng. Đam Săn hiện lên
với trang phục: “Chàng quấn một khố sọc điểm hoa kơ-ụ, chít một khăn điểm hoa êmiê,
mặc cái áo ông Trời từ trên cao đã ban cho…trông thật ra dáng một tràn tù trưởng trẻ
nhà giàu”
[1;13]
. Cùng với hành động múa khiên đầy khỏe mạnh: “Chàng múa trên cao,
gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lóc. Cây cối chết rụi.
Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Khi chàng múa trên cao, vang
lên tiếng đĩa khiên kênh”
có quyền năng ngang tầm hoặc vượt cả các thế lực siêu nhiên. Ở sử thi Đam Săn cũng
không ngoại lệ, Đam Săn khi lên trời “tức thì chàng tóm, lấy đầu ông”
[1;56]
và nói “Tôi
chém ông đây này!” [1;56]. Tính kỳ vĩ, hào hùng là đặc trưng của nhân vật anh hùng. Nhân
vật có những hành động phi thường, kỳ diệu. Ngoài những công việc hằng ngày, đời
thường thì người anh hùng lại được dân gian tô vẽ lên với những kỳ tích mà người bình
thường khó lòng làm được, mà điển hình ở đây là Đam Săn với việc cầu hôn nữ thần Mặt
Trời.
Không chỉ có vậy, nhân vật anh hùng phải là nhân vật luôn hành động. Hành động
vì quyền lợi và mục đích của cộng đồng. Họ hành động không chỉ do vai trò và công việc
bắt buộc, thôi thúc, mà họ còn tiềm tàng sẵn nhu cầu hành động rất cao trong mọi trường
hợp, mọi điều kiện. Nhiệm vụ quan trọng và thiết yếu nhất của nhân vật anh hùng là sẵn
sàng chiến đấu với mọi thế lực, trọng mọi tình huống để bảo vệ sự bình yên và phát triển
của cộng đồng. Đam Săn đang cùng dân làng bắt cá, nghe tin Hơ Nhị bị Mtao Mxây bắt
đi, liền nói: “Hỡi các con! Chúng ta về ngay! Bỏ lại tất cả đồ đạc ở nơi đây…chúng ta
hãy đi tìm xem ai đã lôi kéo cối khỏi chầy, ai đã bắt vợ ta”
[1;44]
. Đam Săn không chỉ là
anh hùng trong chiến trận mà còn là anh hùng trong lao động. Chàng dẫn dân làng đi khai
phá rừng, chăm chỉ lao động: “Tôi gọi các người chẳng vì công này, chẳng vì việc nọ.
Tôi muốn chúng ta đi rừng, tìm chặt cây mơ-ruah, cây klu…(1)” [1;52].
Săn về làm vợ bé. Nhưng kết quả là chúng đều thua cuộc trong những trận giao chiến với
người anh hùng Đam Săn. Hình ảnh Mtao Grự hiện lên thật thảm hại “Mtao Grự lảo
đảo như gà gãy cánh, khập khiễng như gà gãy chân, vừa chạy vừa kêu oai oái ở bãi
đông…”[1;34]. Và hình ảnh Mtao Mxây hiện lên thật buồn cười: “Mtao Mxây rung khiên
múa…khiên hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô”
[1;47]
. Và đối nghịch hẳn với những
hình ảnh đó là Đam Săn múa khiên: “Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa
dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lóc. Cây cối chết rụi…”
[1;48]
. Rõ ràng ở đây ta
thấy, cộng đồng người Tây Nguyên đã “ưu ái” tô vẽ lên một Đam Săn chính nghĩa vô
cùng hào hùng, mạnh mẽ và ngược lại những tù trưởng với việc tranh cướp phi nghĩa thì
sẽ phải nhận kết quả không tốt đẹp. Và đây chính là thi pháp xây dựng nhân vật phản
diện trong sử thi Đam Săn.
1.2.2 Nhân vật nữ tài sắc
Tuy không phải là nhân vật chính trong sử thi Đam Săn, nhưng nhân vật Hơ Nhị
và Hơ BHị có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển cốt truyện. Chị em Hơ Nhị, Hơ
BHị, “tay trái đeo xuyến bạc, tay phải đeo vàng kép..cả người lấp lánh như cái đĩa khiên
đồng…” [1;14]. Và người đàn ông lý tưởng của họ phải là những chàng trai tài giỏi, những
người anh hùng, và chính họ sẽ góp phần làm cho người anh hùng trở nên có quyền lực
và giàu sang: “Chỉ lấy Hơ Nhị, Đam Săn mới trở nên một tù trưởng giàu có, chiêng lắm,
la nhiều”
đây, Ông Trời đã đóng vai trò là nhân vật trợ giúp, như ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ
tích, chứ không chi phối và can thiệp quá mức như các vị thần trong sử thi Hômerơ hoặc
sử thi của Ấn Độ. Thậm chí có khi ông Trời còn phải chịu nhượng bộ những yêu sách của
người anh hùng Đam Săn là cứu sống Hơ Nhị và Hơ BHị, lần khác là đòi hạt giống. Và
chính những điều đó là điều kiện để giúp người anh hùng thực hiện lý tưởng xã hội.
1.2.4 Nhân vật cộng đồng
Người anh hùng thường không lẻ loi, đơn độc vì bên cạnh luôn có một tập thể
đông đảo. Trong sử thi Đam Săn họ được gọi một cách tượng trưng là: bà con, họ, đám
đông, các con, các tôi tớ hay theo số lượng: hàng nghìn, hàng vạn người,…Hình ảnh cả
cộng đồng người theo bước chân từ trưởng Đam Săn để đòi lại công lí: “Đoàn người ra
đi đông như bầy cà – tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối”
[1;32]
. Cũng
như hình ảnh cả một tập thể đông đảo cùng người anh hùng tham gia lao động: “một
trăm người mở đường đi trước, một nghìn người cất bước theo sau, kẻ cầm cuốc, người
vác chà – gạc…”[1;52], đã thể hiện được một cách sinh động tính chất toàn dân của sử thi
anh hùng. Đồng thời những hình ảnh đó thể hiện khá sâu sắc mối quan hệ hài hòa, gắn bó
giữa nhân vật anh hùng Đam Săn với cả tập thể cộng đồng.
2. Cốt truyện sử thi Đam Săn
Cốt truyện của sử thi Đam Săn diễn tiến trình tự theo các sự kiện như sau:
(1) Hai vị thần lớn nhất của người Ê đê, Aê Đu, Aê Điê
Hơ Nhị nhờ Y Đhing hỏi Đam Săn về làm chồng - Đam Săn lấy Hơ Nhị, Hơ BHị Đam Săn đánh Mtao Grự giành lại vợ - Đam Săn đi làm rẫy - Đam Săn đánh Mtao Mxây
giành lại vợ - Đam Săn đi chặt cây - Đam Săn xin ông Trời cho vợ sống lại - Đam Săn đi
bắt nữ thần mặt trời - Đam Săn chết, Đam Săn cháu thay cậu - Kết thúc.
Ta nhận thấy cốt truyện của sử thi Đam Săn được mở rộng cấu trúc theo chiều
hướng gia tăng phẩm chất anh hùng của nhân vật trung tâm. Nhân vật Đam Săn được đặt
Nữ thần Mặt Trời từ chối. Trở về, chàng bị chết lún trong rừng đất đen Bà Sun Y Rit, cả
bộ tộc thương tiệc người anh hùng.
Phần thứ tư (Khúc 7): Kết thúc sử thi, kể lại ý Trời vẫn bắt Đam Săn đầu thai vào
bụng chị Hơ Âng, tiếp tục nối dây với Hơ Nhị và Hơ BHị. Cháu Đam Săn vẫn mang tên
Đam Săn, lớn lên như thổi và trở thành tù trưởng lí tưởng, sẽ đi tiếp con đường mà cậu
chàng đã đi.
Kết cấu của sử thi đã tuân theo trình tự thời gian, không gian và nó mang hình
dáng của một tiểu thuyết chương hồi. Ở mỗi chương hồi đều thể hiện được trọn vẹn một
sự việc, một câu chuyện, một chiến công của nhân vật anh hùng thời đại - Đam Săn.
Những sự mô tả được sắp xếp một cách logic, dồn dập từ thấp đến cao, các sự kiện được
sắp xếp chặt chẽ, giàu trí tưởng tượng để tạo thành một tác phẩm lớn hoàn chỉnh.
Tóm lại, sử thi Đam Săn có kết cấu đầu cuối tương ứng, mang tính chất một chu kì
khép kín. Kiểu kết cấu này chịu sự chi phối của tâm lý tiếp tục “chuê nuê” (nối dây) và
khát vọng muốn có một vị tù trưởng tài giỏi để dẫn dắt cộng đồng ngày càng giàu mạnh.
4. Thời gian và không gian trong sử thi Đam Săn
4.1 Thời gian
Thời gian trong sử thi Đam Săn có tính ước lệ. Người kể chuyện sử thi thường sử
dụng mệnh đề “nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều một sáng”
[1;51]
như một dấu hiệu để chuyển tiếp các sự kiện, hành động, biến cố liên quan đến nhân vật.
Thời gian trong sử thi Đam Săn thay đổi nhanh chóng như chính sự thay đổi trong cuộc
đời của nhân vật anh hùng: “Đam Săn nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một
chiều một sáng. Bây giờ thì cậu đã biết ngày ngày đi rẫy làm cỏ sửa chòi, biết mua cồng
mua chiêng, biết cứu thoát nô lệ trai gái”[1;71].
4.2 Không gian
Không gian trong sử thi Đam Săn là không gian cộng đồng, không gian bao gồm
ngớt...Cảnh đó đời ông bác ông cậu xưa kia làm gì có” [1;50-51].
Tính chất kịch là một đặc điểm của ngôn ngữ kể sử thi Đam Săn. Người kể khan
đóng vai, nhập thân vào nhân vật nên dù ngồi ngay tại chỗ nhưng người kể luôn thay đổi
nét mặt, giọng điệu phù hợp với khung cảnh câu chuyện và trạng thái nhân vật. Xen kẽ
với lời dẫn chuyện theo phương thức tự sự là tiếng nghệ nhân miêu tả tiếng thác đổ bên
bờ suối, tiếng voi rống trong rừng tre, tiếng ngựa hí trên đồi tranh, tiếng chiêng đánh
vang lừng.
Một đặc điểm quan trọng nữa là ngôn ngữ thơ trong khi kể sử thi Đam Săn. Đó là
thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu thể hiện trong vần điệu, trong các vế đối xứng nhịp nhàng,
có sự liên kết hài hòa giữa các vế trong câu: “Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh.
Một lần sốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ - ô ” [1;48].
4.2 Công thức miêu tả
Sử dụng các biện pháp so sánh, ví von rất giàu hình ảnh. Mỗi cảnh đẹp, vẻ đẹp đều
có cách tả khác nhau theo một công thức nhất định. Tả về vẻ đẹp Đam Săn: “Cổ chàng
trông như quả cà chín, nhìn qua vài lần không thấy đã thèm. Râu mép to bằng sợi móc,
râu hàm to bằng đọt song, râu ria quanh miệng mọc xoắn mọc xít đến tận quanh tai” [1;13].
Cách so sánh thật hồn nhiên, chất phác nhưng giàu hình tượng: “Tôi tớ mang của cải về
nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng
cõng nước”
[1;50]
, miêu tả cảnh sống sầm uất, vui tươi: “Trâu bò nhi nhúc như mối, như
kiến” [1;8]. “Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực. Các cô gái đi lại vú đụng vú” [1;51].
Lối nói hình tượng của sử thi không chỉ thể hiện qua cách so sánh mà còn qua các
biện pháp nghệ thuật khác như phóng đại, ngoa dụ, trùng điệp (điệp ngữ). Đây là cách tả
phóng đại: Tả thân thể của Đam Săn sắc: “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp
(Quyển thứ tư), NXB Khoa học Xã hội, 1992
[2] Đỗ Hồng Kì: Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử, Sđd, tr.218-219.
Website tham khảo
1. />2. />3. />4. />
22.html
5.
san/
/>