ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
Đề bài: Đặc điểm thi pháp ca dao người Việt qua các tác phẩm cùng chủ đề trong cuốn
Vũ Ngọc Phan (2005) Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học.
Sinh viên
: Đoàn Ngọc Chung
Lớp
: K59 Văn học
MSSV
: 14031844
HÀ NỘI, 2016
PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng. Ca dao là
một bộ phận của văn học dân gian. Là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn người Việt qua
bao thế hệ. Có thể nói ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người
Việt Nam, bởi nó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói
hằng ngày của người lao động. Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao trữ tình người
Việt là nơi thể hiện rõ nhất “điệu tâm hồn dân tộc”. Hay nói như Vũ Ngọc Phan trong
giản dị, hồn nhiên chân thật và ngôn ngữ trong ca dao, dân ca truyền thống giàu chất thơ,
giàu sức biểu cảm và tính hình tượng.
Ngôn ngữ trong ca dao, dân ca truyền thống nằm trong trường ngôn ngữ của giới
bình dân, được đúc kết trong quá trình lao động, sản xuất thành những kinh nghiệm quý
báu của cha ông và được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác nên nó mộc mạc, giản dị,
hồn nhiên và chân thật. Và chính trong quá trình tồn tại ấy, ca dao đã khẳng định được
giá trị của mình, không những là phương tiện giải trí sau những giờ phút lao động mệt
nhọc mà còn là phương tiện để thể hiện tình cảm riêng tư của những đôi nam nữ:
“Gặp em anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không?”
Đây là lời tỏ tình của một chàng trai nói với cô gái, cách thể hiện tình cảm này thật mộc
mạc và chân thành. Họ là những ai? Không ai khác, họ chính là những người nông dân
lao động thật thà, hồn nhiên và yêu đời. Cách thể hiện tình cảm của chàng trai đã phản
ánh bản chất tốt đẹp của người lao động thật thà, chất phác. Hay câu:
“Hôm qua anh đến chơi nhà
Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường
Thấy em nằm đất anh thương…”
Thì đó cũng chính là một lời tỏ tình mộc mạc, dễ thương. Chàng trai rất yêu cô gái nhưng
lại không dám thể hiện, không dám nói thật với lòng mình vì ngượng ngùng, xấu hổ, mà
luôn phải kiếm cớ gì đó, để từ đó thể hiện được nỗi lòng của mình, như ở câu ca dao trên
thì cái cớ mà chàng trai dùng để bày tỏ tình cảm của mình với cô gái là: “thấy em nằm
đất anh thương”. Đó chính là cái tài tình của dân gian ta.
Ngôn ngữ trong ca dao - dân ca truyền thống nói chung và ca dao về tình yêu nam
nữ nói riêng giàu chất thơ, giàu sức biểu cảm và tính hình tượng. Không chỉ dừng lại ở
lời thơ mộc mạc giản dị hồn nhiên chân thật mà ca dao còn chứa đựng biết bao tình cảm,
tình yêu giữa người con trai và người con gái trong xã hội xưa. Mượn hình ảnh thiên
nhiên để nói lên nỗi lòng mình là một điều không hiếm thấy trong kho tàng ca dao về tình
yêu nam nữ:
Anh xa em như bến xa thuyền
Như Thuý Kiều xa Kim Trọng, biết mấy niên cho tái hồi”.
Thì đây là cách so sánh rất độc đáo đi từ xa đến gần. Các “tác giả” dân gian đã thật khéo
léo khi sử dụng những hình ảnh so sánh xa xôi của thiên nhiên đến so sánh một cách gần
gũi, trực tiếp để nói lên sự xa cách của tình yêu đôi lứa.
Trong lối so sánh còn có nghệ thuật ẩn dụ, đây là một phương pháp nghệ thuật thể
hiện sự tế nhị và kín đáo. Khi thể hiện mối tình chung thuỷ với người yêu thì dường như
không lời thơ nào đẹp, gợi cảm và thắm thiết bằng câu ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Hình tượng hoá, cụ thể hoá các sự vật trừu tượng, vô hình:
“Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy”.
Hoặc khi muốn tránh sự sỗ sàng trong việc thể hiện tình cảm, nhân dân ta thường gửi
gắm tâm sự vào những vật xung quanh để tránh nói đến cái “tôi” của mình:
“Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!
Sáng ngày ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ”.
Hay muốn biểu lộ sự nhớ nhung tha thiết người yêu, người ta thường dùng những hình
tượng đằm thắm:
Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai?
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai?
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai?
hai môi trường hoàn toàn trái ngược nhau và sẽ không bao giờ có thể sống cùng nhau hay
đổi chỗ cho nhau. Vì vậy, mà dân gian ta đã mượn những hình ảnh này để nói về sự khó
khăn, trắc trở của tình yêu đôi lứa..
Về lối dùng chữ, từ ngữ được đưa lên những nghĩa bóng, láy đi láy lại từng tiếng
một, làm cho người nghe phải thấm thía về chủ đề, làm nổi lên trọng tâm của bài ca thì ca
dao Việt Nam cũng rất tài tình.
“Đầu năm ăn quả thanh yên
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ nhung”.
Ca dao còn dùng rất nhiều hình ảnh để nói lên cái đẹp và đức tính tốt hay cũng có
khi nói về những cáí xấu.
“Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa”.
Hình ảnh hạt mưa vừa nói lên được bản chất trong trắng của người con gái, đồng thời
cũng nói lên được sự lo lắng của cô gái dưới một chế độ không dung sự luyến ái tự do
hay câu:
“Tình anh như nước dâng cao
Tình em như giải lụa đào tẩm hương”.
Đây là tình yêu của đôi trai gái đều đằm thắm ngang nhau, nhưng tính chất yêu đương và
cách biểu hiện của mỗi bên lại khác.
Như vậy qua việc phân tích đặc điểm thi pháp ngôn ngữ trong ca dao truyền thống
nói chung và ca dao về tình yêu nam nữ nói riêng, chúng ta có thể thấy được vẻ đẹp mộc
mạc, giản dị, chân thật, hồn nhiên nhưng cũng rất tinh tế và tế nhị của dân gian ta. Từ
cách dùng chữ, những lối biến thể hình tượng hoá, cụ thể hoá sát với thực tế biểu hiện ở
nội dung, làm cho ca dao trở thành những câu hát thấm thía về mặt trữ tình cũng như về
nhàng trong ngôn ngữ thơ là phương tiện tổ chức văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển
nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng nhiều mầu sắc vang vọng trong thơ. Lối
ngắt nhịp chẵn tạo nên sự phân bố và lặp đi lặp lại, ngắt quãng các đơn vị ngôn từ tạo
điều kiện cho sự chuẩn hóa về mặt thẩm mỹ trong lời thơ. Còn phối điệu mang lại âm
điệu trầm bổng trong thơ bằng sự sắp xếp phối hợp các thanh điệu bằng trắc theo nguyên
tắc nhất định thể hiện tính cân đối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp và các vế tương
đương.
“Cách sông/ em chẳng/ sang đâu
Anh về/ mua chỉ/ bắc cầu/ em sang
Chỉ xanh/ chỉ đỏ/ chỉ vàng
Một trăm/ thứ chỉ/ bắc ngang/ sông này”.
Bên cạnh đó, biến thế trong thể lục bát tạo nên những câu thơ đậm đà cảm xúc:
“Anh đi ra cay đắng như gừng
Đường xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thương”
Và để làm nên thành công của một bài ca dao, không chỉ cần sử dụng ngôn ngữ
một cách điêu luyện, hay thể thơ phù hợp mà còn cần sự đóng góp không nhỏ của thời
gian và không gian nghệ thuật. Thời gian và không gian nghệ thuật trong các bài ca dao
không giống với thời gian và không gian thực tại ngoài cuộc sống. Nếu như thời gian và
không gian thực tại là thời gian vật lý để mỗi người nhận thức được về cuộc sống xung
quanh mình thì thời gian và không gian trong các bài ca dao nói chung và các bài ca dao
về tình yêu nam nữ nói riêng chủ yếu là thời gian, không gian tâm lý do con người tạo
dựng ra nhằm thổ lộ thế giới tâm hồn bao la trong mỗi con người. Nó một mặt là đề tài
nhưng đồng thời cũng là nguyên tắc tổ chức tác phẩm.
Thời gian trong ca dao được gọi là thời gian diễn xướng bởi trong ca dao thế giới
người đọc và thế giới của tác phẩm thường hòa lẫn làm một không thể phân biệt rạch ròi.
Ca dao được cả người diễn xướng và người thưởng thức nó hát lên như chính mình là
người trong cuộc đang trải nghiệm, giãi bày những xúc cảm chân thành nhất. Mà như đã
thấy ở ca dao kết cấu phổ biến nhất là kết cấu đối đáp bởi vậy mà khi sáng tác đồng thời
cảm xúc vào thời điểm nào khác mà lại là “chiều chiều”. Bởi trong chính buổi chiều đó
đã chất chứa nỗi sầu vạn cổ từ vạn kiếp người rồi. Đồng thời ta cũng thấy ta đâu thể biết
“chiều chiều”, “đêm khuya” đó là buổi chiều nào là đêm nào trong chuỗi ngày dài buồn
thương của cô gái, hay “ngày đi” và “ngày về” là ngày nào trong cuộc đời chàng trai. Đó
chỉ là những nhận thức về thời gian trong tâm tưởng của những người đang cần chút bầu
tâm sự chăng. Đặc biệt hơn ở đây thời gian đó hợp với lòng người, hợp tâm trạng. Như
thế ta có thể thấy cách biểu thị thời gian là quan trọng nhưng cách cảm nhận nó cũng cần
hết sức tinh tế.
Cũng có khi nó là thời gian của quá khứ hoặc của tương lai nhưng dù là lúc nào thì
cũng luôn được soi chiếu với hiện tại, do đó bài ca dao có cả sự vận động cảm xúc, vận
động thời gian:
“Đêm qua trời sáng trăng rằm
Anh đi qua cửa em nằm không yên
Mê anh chẳng phải mê tiền
Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng
Thấy anh em những mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi
Thấy anh, chưa kịp ngỏ lời,
Ai ngờ anh đã vội rời gót loan...”.
Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng, mặt khác nó là
thời gian vật lý và thời gian tâm lý. Cái nào cũng đúng và có cái lí riêng của nó. Điều
quan trọng hơn cả là thời gian đã được và cần được biểu thị, cảm nhận theo đúng phong
vị ca dao.
Về không gian, nếu như trong cổ tích mở ra một thế giới kì ảo, có lẽ chỉ có thật
trong những giấc mơ, thì ca dao lại mở ra cả một không gian thực tại gần gũi, quen thuộc
hơn bao giờ hết. Không gian trong ca dao là không gian của đồng quê Việt Nam, bình dị
và thân thương với bến nước, gốc đa, sân đình, đồng ruộng, cây cầu, con đò… Đó là nơi
sinh hoạt, lao động của người dân, nơi các chàng trai, cô gái thôn quê gặp mặt, hò hẹn:
không gian tâm trạng.
Không gian trong ca dao dù được cảm nhận ở phương diện nào, khía cạnh nào thì
đó cũng là những khung cảnh gần gũi thân thuộc và bình dị nhất của làng quê Việt Nam,
đâm đà phong vị dân dã, nó cho thấy sự gắn bó với quê hương, mọi cảm xúc đều được in
dấu trên mảnh đất quê hương mình.
Nhìn chung lại, thời gian trong ca dao là thời gian hiện tai, thời gian diễn xướng,
nhiều trường hợp có công thức ước lệ, có sự vận động về thời gian cùng với dòng cảm
xúc. Không gian trong ca dao nhìn chung là không gian rất làng quê, truyền thống, đậm
đà ý vị đân dã. Thời gian và không gian có thể đều được nhìn nhận ở hai trạng thái là vật
lý (có thật) và tâm lý (tâm tưởng, cảm xúc). Thời gian và không gian trong ca dao tồn tại
độc lập nhưng không bao giờ chia cắt. Thời gian lúc nào cũng đi liền với không gian hỗ
trợ nhau cùng biểu đạt những trạng thái cảm xúc sâu sắc, chân thành nhất từ những tâm
hồn mộc mạc, trong sáng, tế nhị…
Một vài đặc điểm khác của thi pháp ca dao đó chính là biểu tượng, kết cấu và nhân
vật trữ tình. Biểu tượng là những hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho một lớp người,
một dạng thân phận. Biểu tượng trong ca dao thường là những hình ảnh rất gần gũi với
văn hóa làng xã, văn hóa nông nghiệp của người Việt. Trong tình yêu đôi lứa, ca dao có
nhiều biểu tượng chỉ về nam và nữ như: mận- đào, mai- trúc, bến- thuyền, mây- núi, camquýt…để thể hiện vẻ đẹp, lãng mạn đầy thi vị trong tình yêu:
-“Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
-“Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương”.
-“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa”.
Có thể nói biểu tượng trong ca dao là vô cùng phong phú với những hình ảnh gần gũi của
đồng ruộng, làng quê. Các biểu tượng tự thân nó chở những giá trị tình cảm của con
người nên chúng có một sức sống mạnh mãnh trong tiềm thức mỗi người dân Việt.
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng,
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?”
Nét thương nhớ, tương tư khi xa cách:
-“Đói lòng ăn nửa trái sim,
Uống lưng bát nước đi tìm người thương
Người thương, ơi hỡi, người thương
Đi đâu mà để buồn hương lạnh lùng!”
-“Gió sao gió mát sau lưng,
Bụng sao bụng nhớ người dung thế này!”
Nét táo bạo, thẳng thắn, suồng sã:
“Có thương thì thương,
Không thương thì nói.
Làm chi lần lần lữa lữa, như hẹn nợ thêm buồn.
Trên chùa đã động tiếng chuông.
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu…”
Không chỉ có niềm hi vọng, khát khao hạnh phúc mà còn cả những nét thất tình, buồn
thương não nề:
-“Tưởng rằng trọn thủy trọn chung,
Không hay như pháo nổ đùng ngang lưng”
-“Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp, đợi chờ uổng công”.
-“Chim xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa
Cực tấm lòng em phải nói ra
Chờ trăng, trăng xê, chờ hoa, hoa tàn”.
Có thể nói nhân vật trữ tình trong ca dao nói chung và nhân vật trong ca dao về
tình yêu nam, nữ nói riêng là nhân vật mang nhiều tâm trạng. Nhân vật trữ tình gắn với